Nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra: Cần chuẩn bị gì và mời Luật sư từ giai đoạn nào?

Nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra không đồng nghĩa với việc người nhận đã bị khởi tố hoặc bị xác định là người thực hiện hành vi phạm tội. Tùy từng vụ việc, người được yêu cầu đến làm việc có thể là người bị tố giác, bị can, người làm chứng, bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mỗi tư cách có phạm vi quyền, nghĩa vụ và cơ chế luật sư tham gia khác nhau. Vì vậy, cùng Luật Long Phan PMT người nhận giấy nên kiểm tra kỹ nội dung, xác định đúng tư cách trong thủ tục tố tụng hình sự và chuẩn bị tài liệu trước khi đến làm việc.

Nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra và các vấn đề cần xác định trước khi làm việc.
Người nhận giấy triệu tập cần xác định đúng tư cách tố tụng, quyền, nghĩa vụ và cân nhắc thời điểm mời luật sư.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Việc triệu tập trong tố tụng hình sự phải được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền và theo trình tự do pháp luật quy định. Bên cạnh Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 xác định hệ thống Cơ quan điều tra, nhiệm vụ và quyền hạn của Điều tra viên cũng như nguyên tắc chỉ cơ quan, người có thẩm quyền theo luật mới được tiến hành hoạt động điều tra hình sự. Luật này hiện vẫn còn hiệu lực.
  • Người nhận giấy triệu tập cần đặc biệt lưu ý rằng pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ theo từng tư cách tố tụng, không áp dụng một khuôn mẫu chung. Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 điều chỉnh người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Điều 60 điều chỉnh bị can; Điều 65 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Điều 66 quy định người làm chứng.
  • Đối với người bị buộc tội, Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận nguyên tắc không buộc họ phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Trong khi đó, người làm chứng có nghĩa vụ khai trung thực những tình tiết mình biết về vụ việc. Do đó, trước khi đánh giá phải khai báo đến đâu hoặc có thể nhờ luật sư với tư cách nào, cần xác định chính xác vị trí tố tụng của người nhận giấy.

Nội Dung Bài Viết

Giấy triệu tập được pháp luật quy định như thế nào?

Giấy triệu tập là văn bản tố tụng được sử dụng để yêu cầu một người có mặt vào thời gian, địa điểm xác định nhằm phục vụ hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm hoặc điều tra vụ án. Tuy nhiên, nội dung giấy, người có thẩm quyền triệu tập và hậu quả của việc vắng mặt phụ thuộc vào tư cách tố tụng cụ thể.

Triệu tập bị can được thực hiện như thế nào?

Đối với bị can, Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định Điều tra viên khi triệu tập phải gửi giấy triệu tập. Giấy phải thể hiện các thông tin như họ tên, chỗ ở của bị can; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Quy định này cho thấy việc triệu tập bị can phải được thể hiện bằng thủ tục tố tụng cụ thể, thay vì chỉ đánh giá dựa trên việc một cá nhân được liên hệ và yêu cầu đến làm việc.

Triệu tập người làm chứng có gì khác?

Đối với người làm chứng, Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định giấy triệu tập phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; thời gian, địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt.

Từ ngày 01/7/2026, Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025 có hiệu lực và có điều chỉnh dẫn chiếu tại điểm c khoản 3 Điều 185 đối với trường hợp triệu tập người làm chứng theo yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài. Sự thay đổi này không làm mất hiệu lực của cơ chế triệu tập người làm chứng trong các vụ án hình sự thông thường.

>>> Xem thêm: Bị công an gửi giấy triệu tập xử lý nên làm gì?

Những ai có thể được Cơ quan điều tra yêu cầu đến làm việc?

Không phải người nào nhận giấy triệu tập hoặc giấy yêu cầu làm việc cũng là bị can. Việc xác định đúng tư cách là bước đầu tiên để biết người đó có những quyền, nghĩa vụ nào.

Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

Theo Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là chủ thể đang tham gia giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm nhưng chưa mặc nhiên là bị can.

Người thuộc nhóm này có quyền được thông báo về hành vi bị tố giác, được giải thích quyền và nghĩa vụ, đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, trình bày ý kiến và có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

>>> Xem thêm: Luật sư tham gia khi chưa khởi tố vụ án – Những lợi ích nhiều người bỏ qua

Bị can

Theo Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với người bị tố giác.

Do đó, việc một người được Cơ quan điều tra mời hoặc triệu tập đến làm việc không phải là căn cứ duy nhất để kết luận người đó đã trở thành bị can. Cần xác định có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền hay chưa.

>>> Xem thêm: Hỏi cung bị can: Thủ tục thực hiện và quyền của bị can

Người làm chứng

Theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người làm chứng là người biết những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án và được cơ quan có thẩm quyền triệu tập đến làm chứng.

Người làm chứng có hệ thống quyền và nghĩa vụ riêng, trong đó có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập và trình bày trung thực những tình tiết mình biết cũng như lý do biết được những tình tiết đó.

Bị hại, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Tùy nội dung vụ án, Cơ quan điều tra cũng có thể làm việc với bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể này tại các điều luật riêng. Điều 188 cũng điều chỉnh việc triệu tập, lấy lời khai bị hại, đương sự trong quá trình điều tra.

Người nhận giấy triệu tập có bắt buộc phải đến không?

Trong tố tụng hình sự, không thể chỉ căn cứ vào việc một người “nhận giấy triệu tập” để kết luận rằng nếu không đến thì đương nhiên sẽ bị áp giải hoặc dẫn giải. Nghĩa vụ có mặt và hậu quả pháp lý của việc vắng mặt phụ thuộc vào tư cách tố tụng của người được triệu tập, lý do vắng mặt và các điều kiện cụ thể mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Bị can có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập

Theo khoản 3 Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 , bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không thuộc trường hợp có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, hoặc có biểu hiện trốn tránh, thì có thể bị áp dụng biện pháp áp giải. Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng xác định áp giải là biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng đối với người bị buộc tội.

Vì vậy, không nên diễn đạt theo hướng “cứ không đến theo giấy triệu tập là sẽ bị áp giải”. Việc áp giải không phát sinh tự động chỉ vì một lần vắng mặt mà phải có căn cứ và được quyết định bởi người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng cũng có nghĩa vụ có mặt, nhưng biện pháp áp dụng là dẫn giải

Điểm a khoản 4 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015  người làm chứng có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trường hợp người làm chứng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử, người đó có thể bị dẫn giải.

Đồng thời, điểm a khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định người làm chứng không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thuộc trường hợp có thể áp dụng biện pháp dẫn giải.

Do đó, khi trình bày về người làm chứng nên nêu đầy đủ các điều kiện tại Điều 66, thay vì khẳng định rằng chỉ cần không đến theo giấy triệu tập là sẽ bị dẫn giải.

Các chủ thể khác phải xem xét theo từng tư cách tố tụng

Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập đối với nhiều chủ thể khác. Chẳng hạn, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ngoài ra, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cũng phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố. Trong trường hợp đã được triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và có đủ các điều kiện luật định, họ có thể thuộc trường hợp bị dẫn giải theo điểm c khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 .

>>> Xem thêm: Không có mặt theo giấy triệu tập có bị phạt hay không?

Bị can có quyền không trả lời câu hỏi bất lợi cho mình không?

Đây là vấn đề thường được gọi trong thực tế là “quyền im lặng”. Tuy nhiên, khi viết bài pháp lý nên sử dụng đúng cách diễn đạt của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quyền không tự buộc tội của bị can

Điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận bị can có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

Quy định này cần được hiểu là cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Không nên diễn đạt thành quyền che giấu chứng cứ, tiêu hủy tài liệu hoặc cung cấp thông tin sai sự thật.

Người làm chứng có quyền giống bị can không?

Không nên áp dụng nguyên trạng Điều 60 cho người làm chứng.

Theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người làm chứng được bảo đảm các quyền như được giải thích quyền, nghĩa vụ; yêu cầu bảo vệ khi bị đe dọa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng liên quan đến việc làm chứng và được thanh toán chi phí theo quy định.

Đồng thời, người làm chứng có nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết mình biết. Vì vậy, phạm vi quyền và nghĩa vụ của người làm chứng phải được đánh giá độc lập với bị can.

Cần chuẩn bị gì trước khi đến Cơ quan điều tra?

Chuẩn bị trước buổi làm việc giúp người được triệu tập xác định đúng tư cách của mình, kiểm tra thông tin và hạn chế việc trình bày sai do không nhớ rõ diễn biến vụ việc.

Kiểm tra nội dung và hình thức của giấy triệu tập

Trước hết, cần rà soát:

  • Cơ quan ban hành;
  • Người thực hiện việc triệu tập;
  • Họ tên người được triệu tập;
  • Tư cách tố tụng nếu được thể hiện;
  • Ngày, giờ và địa điểm làm việc;
  • Mục đích hoặc nội dung làm việc;
  • Người cần gặp;
  • Yêu cầu mang theo giấy tờ hoặc tài liệu, nếu có.

Đối với bị can và người làm chứng, các yêu cầu về nội dung giấy triệu tập được xác định lần lượt tại Điều 182 và Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chuẩn bị tài liệu liên quan

Sau khi xác định nội dung làm việc, người được triệu tập nên rà soát những giấy tờ trực tiếp liên quan như hợp đồng, chứng từ, biên nhận, thư từ hoặc tài liệu đã được giao nộp trước đó.

Mục đích của việc rà soát là giúp người tham gia tố tụng nhớ chính xác diễn biến thực tế và có căn cứ khi trình bày, không phải để tạo lập hoặc thay đổi chứng cứ.

Rà soát diễn biến sự việc

Trước buổi làm việc, nên sắp xếp lại các sự kiện theo trình tự thời gian, xác định rõ nội dung nào mình trực tiếp biết và nội dung nào chỉ biết thông qua người khác.

Đối với người làm chứng, yêu cầu này đặc biệt phù hợp với nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết mình biết theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xác định có cần luật sư hỗ trợ ngay không

Việc tham khảo luật sư nên được cân nhắc sớm nếu người nhận giấy:

  • Đang là người bị tố giác hoặc người bị kiến nghị khởi tố;
  • Nội dung làm việc liên quan trực tiếp đến hành vi của chính mình;
  • Có nhiều tài liệu, giao dịch hoặc người liên quan;
  • Đã làm việc nhiều lần và cần xác định lại tư cách tố tụng;
  • Đã có quyết định khởi tố bị can;
  • Có dấu hiệu phát sinh tranh luận về thủ tục tố tụng.
Các bước chuẩn bị trước khi đến Cơ quan điều tra làm việc theo giấy triệu tập.
Việc chuẩn bị tập trung vào kiểm tra giấy triệu tập, tài liệu, diễn biến sự việc và nhu cầu có luật sư hỗ trợ.

Có thể mời luật sư trước khi bị khởi tố bị can không?

Có. Quan niệm phải chờ đến khi trở thành bị can mới được nhờ luật sư là chưa chính xác.

Người bị tố giác được nhờ luật sư từ giai đoạn giải quyết nguồn tin

Điểm e khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Điều 83 Bộ luật này tiếp tục quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Luật sư là một trong những chủ thể có thể đảm nhận vai trò này.

Vì vậy, người bị tố giác không phải chờ đến khi có quyết định khởi tố bị can mới được nhờ luật sư.

Luật sư tham gia với tư cách người bào chữa từ thời điểm nào?

Khi khách hàng đã thuộc trường hợp có người bào chữa, thời điểm tham gia được xác định theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Về nguyên tắc, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt, tạm giữ người, pháp luật cho phép người bào chữa tham gia từ thời điểm sớm hơn theo điều kiện cụ thể của Điều 74.

Do đó, cần phân biệt:

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố: Điều 57 và Điều 83;
  • Người bào chữa cho người bị buộc tội: Điều 72, Điều 73 và Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mời luật sư khi chưa bị khởi tố bị can và thời điểm người bào chữa có thể tham gia tố tụng.
Luật sư có thể tham gia với tư cách phù hợp tùy giai đoạn giải quyết tố giác, bắt, tạm giữ hoặc khởi tố bị can.

Luật sư có thể làm gì khi làm việc với Cơ quan điều tra?

Phạm vi quyền của luật sư phụ thuộc vào việc khách hàng đang là người bị tố giác hay đã trở thành người bị buộc tội.

Luật sư bảo vệ người bị tố giác

Theo Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể:

  • Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu;
  • Kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo phạm vi pháp luật cho phép;
  • Có mặt khi lấy lời khai người mình bảo vệ;
  • Tham gia một số hoạt động tố tụng theo quy định;
  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng;
  • Thực hiện các quyền khác được Điều 83 ghi nhận.

Thông tư 46/2019/TT-BCA tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm của lực lượng Công an trong việc bảo đảm các quyền này.

Luật sư bào chữa cho bị can

Khi người được triệu tập đã trở thành bị can, luật sư tham gia với tư cách người bào chữa.

Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định người bào chữa có các quyền như:

  • Có mặt khi lấy lời khai người bị bắt, hỏi cung bị can;
  • Có mặt trong các hoạt động điều tra theo luật định;
  • Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu;
  • Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng;
  • Thu thập, cung cấp chứng cứ theo phạm vi pháp luật cho phép;
  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng;
  • Thực hiện các quyền bào chữa khác theo quy định.

Do đó, việc mời luật sư từ giai đoạn sớm có thể giúp xác định đúng tư cách tố tụng và phạm vi quyền được thực hiện ngay từ những buổi làm việc đầu tiên.

Cần làm gì trong buổi làm việc với Điều tra viên?

Sau khi xác định đúng tư cách, người được triệu tập nên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tương ứng với vị trí tố tụng.

Xác nhận lại tư cách tố tụng nếu chưa rõ

Nếu nội dung giấy hoặc thông tin được cung cấp chưa rõ, nên đề nghị xác định mình đang làm việc với tư cách nào.

Việc này đặc biệt có ý nghĩa khi một người trước đó làm việc với tư cách người bị tố giác nhưng sau đó có quyết định khởi tố bị can, bởi hệ thống quyền và cơ chế luật sư tham gia sẽ thay đổi.

Nghe giải thích quyền và nghĩa vụ

Cơ quan, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm thực hiện các bảo đảm tố tụng theo tư cách của người tham gia.

Đối với người bị tố giác, quyền và nghĩa vụ được xác định theo Điều 57. Đối với bị can là Điều 60. Đối với người làm chứng là Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trình bày đúng những gì mình biết

Người được triệu tập nên trình bày dựa trên những thông tin mình thực tế biết hoặc tài liệu có thể kiểm chứng, tránh suy đoán về tình tiết mình không nắm rõ.

Riêng người làm chứng có nghĩa vụ khai trung thực những tình tiết mình biết và lý do biết được các tình tiết đó theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kiểm tra nội dung biên bản trước khi ký

Trước khi ký biên bản, nên kiểm tra lại thông tin cá nhân, câu hỏi, nội dung trả lời và các nội dung sửa chữa hoặc bổ sung.

Nếu nội dung biên bản chưa phản ánh đúng phần đã trình bày, người tham gia tố tụng có thể đề nghị ghi nhận việc sửa chữa, bổ sung theo thủ tục phù hợp. Việc kiểm tra biên bản nhằm bảo đảm tính chính xác của tài liệu tố tụng, không nhằm thay đổi hoặc che giấu thông tin.

>>> Xem thêm: Thủ tục nhờ luật sư bảo vệ khi doanh nghiệp nhận giấy mời của cơ quan điều tra

Rủi ro pháp lý nếu không chuẩn bị kỹ trước buổi làm việc

Việc không kiểm tra giấy triệu tập, tư cách tố tụng hoặc tài liệu liên quan có thể làm phát sinh nhiều vấn đề trong quá trình làm việc.

Nhầm lẫn giữa người bị tố giác và bị can

Đây là nhầm lẫn phổ biến. Người bị tố giác chưa mặc nhiên là bị can.

Nếu không phân biệt hai tư cách này, người tham gia có thể hiểu sai phạm vi quyền của mình hoặc nhầm tư cách của luật sư giữa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp với người bào chữa.

Lời trình bày không thống nhất với tài liệu khách quan

Một người có thể nhớ sai ngày, số tiền, thời điểm giao dịch hoặc vai trò của từng người nếu không rà soát trước hồ sơ.

Vì vậy, nên kiểm tra tài liệu đang có trước buổi làm việc và chỉ trình bày những nội dung mình thực sự biết.

Không kiểm tra biên bản trước khi ký

Biên bản là tài liệu được lập trong hoạt động tố tụng. Việc không đọc lại có thể dẫn đến trường hợp nội dung được ghi nhận chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác so với phần người tham gia đã trình bày.

Không xác định đúng hậu quả của việc vắng mặt

Bị can có thể bị áp giải theo điều kiện của khoản 3 Điều 182. Người làm chứng có thể bị dẫn giải khi đáp ứng các điều kiện tại điểm a khoản 4 Điều 66.

Vì vậy, không nên mặc định rằng tất cả người được triệu tập vắng mặt đều chịu cùng một biện pháp tố tụng.

Sau buổi làm việc với Cơ quan điều tra cần làm gì?

Sau khi kết thúc buổi làm việc, người tham gia vẫn cần theo dõi diễn biến vụ việc để nhận biết sự thay đổi về tư cách tố tụng hoặc các yêu cầu tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền.

Một số việc nên thực hiện gồm:

  • Lưu giữ giấy tờ được giao theo quy định;
  • Ghi nhận ngày, giờ và nội dung chính của buổi làm việc;
  • Theo dõi giấy triệu tập, thông báo hoặc quyết định tố tụng tiếp theo;
  • Kiểm tra xem tư cách tố tụng có thay đổi hay không;
  • Trao đổi với luật sư khi xuất hiện quyết định hoặc hành vi tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp.

Nếu một người từ tư cách người bị tố giác chuyển sang bị can thì cơ chế luật sư cũng chuyển từ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo Điều 83 sang người bào chữa theo Điều 72 đến Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ khi nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra

Tùy tư cách tố tụng và tình trạng hồ sơ, Luật Long Phan PMT có thể hỗ trợ khách hàng trong các công việc:

  • Kiểm tra nội dung giấy triệu tập;
  • Xác định cơ quan và người có thẩm quyền;
  • Xác định tư cách tố tụng của người được triệu tập;
  • Giải thích quyền và nghĩa vụ tương ứng;
  • Rà soát tài liệu trước buổi làm việc;
  • Tư vấn việc cung cấp chứng cứ, tài liệu;
  • Tư vấn quyền không tự buộc tội khi khách hàng thuộc trường hợp pháp luật ghi nhận;
  • Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
  • Đăng ký bào chữa khi khách hàng thuộc trường hợp có người bào chữa;
  • Tham gia hỏi cung, lấy lời khai và các hoạt động tố tụng trong phạm vi pháp luật cho phép;
  • Tư vấn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng khi có căn cứ.

Việc tham gia của luật sư trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Luật sư, Thông tư 46/2019/TT-BCA và các quy định liên quan còn hiệu lực.

Quý khách có nhu cầu rà soát giấy triệu tập hoặc đánh giá hồ sơ có thể gửi tài liệu qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.

Câu hỏi thường gặp về giấy triệu tập của Cơ quan điều tra

Một số câu hỏi dưới đây giúp làm rõ những vấn đề thường gặp về tư cách tố tụng, nghĩa vụ có mặt và quyền nhờ luật sư khi được Cơ quan điều tra triệu tập.

1. Nhận giấy triệu tập có đồng nghĩa với việc đã bị khởi tố không?

Không. Người bị tố giác được điều chỉnh tại Điều 57, trong khi bị can được quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Một người chỉ trở thành bị can khi đã bị khởi tố về hình sự theo trình tự luật định. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ việc nhận giấy triệu tập để kết luận đã bị khởi tố.

2. Người bị tố giác có được mời luật sư trước khi bị khởi tố không?

Có. Điểm e khoản 1 Điều 57 cho phép người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép luật sư tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong giai đoạn này.

3. Luật sư có được đi cùng khi lấy lời khai người bị tố giác không?

Theo Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có quyền tham gia hoạt động lấy lời khai trong phạm vi luật định.

Đối với Cơ quan điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân, việc bảo đảm quyền này còn được điều chỉnh cụ thể bởi Thông tư 46/2019/TT-BCA, hiện vẫn còn hiệu lực.

4. Đăng ký bào chữa mất bao lâu?

Khoản 4 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn kiểm tra hồ sơ là 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ.

Nếu đủ điều kiện và không thuộc trường hợp từ chối, cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đăng ký và gửi thông báo người bào chữa. Nếu từ chối phải thực hiện theo hình thức và căn cứ pháp luật quy định.

5. Người làm chứng không đến theo giấy triệu tập có bị dẫn giải không?

Có thể, nhưng không phải cứ vắng mặt là bị dẫn giải.

Điểm a khoản 4 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu người làm chứng có mặt theo giấy triệu tập. Biện pháp dẫn giải có thể được áp dụng khi người này cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và việc vắng mặt gây trở ngại cho hoạt động tố tụng.

6. Bị can không đến theo giấy triệu tập có bị áp giải không?

Khoản 3 Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị can phải có mặt theo giấy triệu tập.

Nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải.

7. Thẩm quyền điều tra trong Công an nhân dân hiện căn cứ văn bản nào?

Ngoài Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, việc tổ chức, phân công và thẩm quyền điều tra trong Công an nhân dân hiện còn được điều chỉnh bởi Thông tư 11/2025/TT-BCA, có hiệu lực từ ngày 01/3/2025.

8. Có thể khiếu nại hành vi của Điều tra viên không?

Có thể khiếu nại nếu có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi tố tụng trái pháp luật và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp.

Việc khiếu nại được thực hiện theo Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời hiệu thông thường theo Điều 471 là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại, có xem xét trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định.

Kết luận

Nhận giấy triệu tập của Cơ quan điều tra không đồng nghĩa với việc đã bị khởi tố. Vấn đề cần xác định trước tiên là người nhận giấy đang tham gia với tư cách người bị tố giác, bị can, người làm chứng, bị hại hay chủ thể khác. Từ tư cách đó mới có thể xác định chính xác nghĩa vụ có mặt, phạm vi trình bày, khả năng áp giải hoặc dẫn giải và cơ chế luật sư tham gia. Quý khách cần luật sư kiểm tra giấy triệu tập, xác định tư cách tố tụng hoặc tham gia bảo vệ trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra có thể liên hệ Luật Long Phan PMT qua hotline 1900.636.387 để được hỗ trợ.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  • Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015
  • Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025
  • Thông tư 46/2019/TT-BCA
  • Thông tư 11/2025/TT-BCA
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Thu Hương

Luật sư Nguyễn Thu Hương thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT. Với hơn 10 năm hoạt động, Luật sư Hương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực luật khác nhau như Dân sự, Doanh nghiệp, Đất đai, Thương mại, Lao động, hôn nhân gia đình, v.v.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87