Hợp đồng bị tuyên vô hiệu có thể làm thay đổi căn bản quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt khi hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ. Khi Tòa án tuyên bố một hợp đồng vô hiệu, hậu quả pháp lý không dừng lại ở việc hợp đồng “mất hiệu lực” mà kéo theo hàng loạt vấn đề về hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại và quyền của người thứ ba. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT phân tích căn cứ, hậu quả, thời hiệu và thủ tục đòi lại quyền lợi theo quy định hiện hành.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Hợp đồng bị tuyên vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập, theo khoản 1 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015.
- Các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, kể cả trường hợp phải trị giá thành tiền khi không hoàn trả được bằng hiện vật, theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015.
- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu đối với một số căn cứ chỉ là 02 năm, theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, trong khi một số căn cứ khác không bị giới hạn thời hiệu, theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.
- Tài sản đã được chuyển giao hợp pháp cho người thứ ba ngay tình trong một số trường hợp sẽ không thể đòi lại được, theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015.
Các căn cứ khiến hợp đồng bị tòa án tuyên vô hiệu
Hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu khi không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc thuộc một trong các trường hợp vô hiệu được quy định từ Điều 123 đến Điều 129. Xác định đúng căn cứ vô hiệu có ý nghĩa quan trọng để xác định thời hiệu yêu cầu, hậu quả pháp lý và khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên.
Trong thực tiễn tư vấn của Luật Long Phan PMT, phần lớn tranh chấp phát sinh từ bốn nhóm căn cứ dưới đây, xoay quanh chủ thể giao kết, ý chí tự nguyện và hình thức hợp đồng. Xác định đúng căn cứ vô hiệu là bước đầu tiên để đánh giá khả năng đòi lại quyền lợi.
>>> Xem thêm: Thủ tục yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu
Vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc giả tạo?
Theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Song song đó, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hợp đồng giả tạo — được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác — cũng vô hiệu, và giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định.
Chủ thể không đủ năng lực hành vi dân sự khi giao kết
Theo Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo yêu cầu của người đại diện nếu giao dịch đó theo quy định pháp luật phải do người đại diện xác lập, thực hiện hoặc đồng ý.
Tuy nhiên, giao dịch không bị vô hiệu trong một số trường hợp, như giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; giao dịch chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người thuộc các trường hợp nêu trên; hoặc giao dịch được chính người xác lập thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc không nhận thức, làm chủ hành vi
Theo Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được xác lập do nhầm lẫn mà làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu, trừ trường hợp mục đích của giao dịch đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay sự nhầm lẫn để đạt được mục đích đó.
Theo Điều 127, giao dịch được xác lập do bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì bên bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu. Trong đó, lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung giao dịch; đe dọa, cưỡng ép là hành vi buộc bên bị tác động phải xác lập giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của mình hoặc người thân thích.
Theo Điều 128, giao dịch do người tại thời điểm xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo yêu cầu của người đó hoặc người đại diện. Việc xác định tình trạng này phải căn cứ vào tình trạng của người xác lập giao dịch tại thời điểm giao kết, không phải chỉ dựa vào việc người đó sau này bị mất khả năng nhận thức hoặc làm chủ hành vi.
Như vậy, đối với nhóm căn cứ này, việc hợp đồng có hiệu lực hay không phụ thuộc vào nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tự nguyện hoặc khả năng nhận thức của chủ thể tại thời điểm xác lập giao dịch và các điều kiện cụ thể của từng trường hợp.
Trong thực tiễn xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT nhận thấy việc chứng minh “lừa dối” hoặc “nhầm lẫn” đòi hỏi tài liệu, chứng cứ cụ thể chứ không chỉ dựa trên lời khai của một bên, nên nhiều yêu cầu tuyên vô hiệu theo nhóm căn cứ này bị Tòa án bác vì thiếu chứng cứ.
Vi phạm quy định bắt buộc về hình thức hợp đồng
Theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch vi phạm quy định bắt buộc về hình thức có thể bị vô hiệu. Tuy nhiên, pháp luật có cơ chế khắc phục trong một số trường hợp.
Cụ thể, nếu giao dịch đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực hoặc quy định về hình thức khác, mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ, thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án có thể ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch. Khi đó, các bên không phải thực hiện lại thủ tục về hình thức.
Vì vậy, đối với hợp đồng chưa đáp ứng yêu cầu về hình thức nhưng đã được thực hiện trên thực tế, bên có quyền lợi nên thu thập các tài liệu như chứng từ thanh toán, biên bản bàn giao, biên bản nghiệm thu và tài liệu thực hiện nghĩa vụ để xác định mức độ thực hiện hợp đồng và xem xét khả năng yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực.
Bảng so sánh các nhóm căn cứ khiến hợp đồng vô hiệu:
| Nhóm căn cứ | Cơ sở pháp lý | Giới hạn thời hiệu yêu cầu | Khả năng khắc phục |
| Vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội, giả tạo | Điều 123, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 | Không bị hạn chế (khoản 3 Điều 132) | Không thể khắc phục để công nhận hiệu lực |
| Chủ thể không đủ năng lực hành vi dân sự | Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 | 02 năm (khoản 1 Điều 132) | Có thể được xác lập lại nếu người đại diện đồng ý |
| Nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, không nhận thức hành vi | Điều 126, 127, 128 Bộ luật Dân sự 2015 | 02 năm (khoản 1 Điều 132) | Phụ thuộc vào thời điểm khắc phục nguyên nhân |
| Vi phạm hình thức | Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 | 02 năm (khoản 1 Điều 132) | Có thể được công nhận hiệu lực nếu đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ |
Hậu quả pháp lý khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu
Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, hậu quả pháp lý được xác định theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015. Về nguyên tắc, giao dịch vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; đồng thời các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và xử lý các vấn đề về hoa lợi, lợi tức, thiệt hại theo quy định pháp luật.
Hợp đồng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên
Theo khoản 1 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vô hiệu được coi như chưa từng tồn tại về mặt pháp lý kể từ thời điểm xác lập. Điều này có nghĩa mọi quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng đều không có giá trị pháp lý, bất kể các bên đã thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ trên thực tế.
Nghĩa vụ khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
Vì vậy, khi hợp đồng đã được thực hiện, cần xác định cụ thể tài sản, tiền hoặc lợi ích mà mỗi bên đã nhận để làm cơ sở giải quyết nghĩa vụ hoàn trả.
Xử lý hoa lợi, lợi tức đối với bên ngay tình
Khoản 3 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Quy định này áp dụng khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu và nhằm bảo vệ bên ngay tình đối với phần hoa lợi, lợi tức mà họ đã thu được. Việc xác định một bên có ngay tình hay không cần căn cứ vào các tình tiết cụ thể và nhận thức của bên đó trong quá trình xác lập, thực hiện giao dịch.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên có lỗi
Theo khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường khi giao dịch dân sự bị vô hiệu.
Do đó, việc hợp đồng bị tuyên vô hiệu không đồng nghĩa với việc một bên đương nhiên phải bồi thường. Bên yêu cầu bồi thường cần xác định và chứng minh thiệt hại thực tế phát sinh, hành vi hoặc lỗi của bên gây thiệt hại và mối quan hệ giữa lỗi với thiệt hại.
Trường hợp cả hai bên cùng có lỗi làm phát sinh thiệt hại, trách nhiệm bồi thường được xem xét tương ứng với mức độ lỗi của mỗi bên. Vì vậy, khi yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, các bên cần chuẩn bị chứng cứ không chỉ về căn cứ làm hợp đồng vô hiệu mà còn về thiệt hại thực tế, lỗi và mối quan hệ nhân quả để bảo vệ yêu cầu bồi thường.
Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình
Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng vô hiệu. Đối với tài sản không phải đăng ký, nếu đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực (khoản 1). Đối với tài sản phải đăng ký, nếu tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau đó tiếp tục được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc đăng ký đó, giao dịch với người thứ ba cũng không bị vô hiệu (khoản 2).
Đây là rủi ro trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng đòi lại quyền lợi khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Trường hợp tài sản đã qua tay người thứ ba ngay tình và đủ điều kiện được bảo vệ theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015, bên bị thiệt hại sẽ không thể đòi lại tài sản mà chỉ có thể yêu cầu bên có lỗi bồi thường bằng giá trị tương ứng. Vì vậy, ngay khi phát hiện có dấu hiệu vô hiệu, bên có quyền lợi nên nhanh chóng thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc tiếp tục chuyển nhượng tài sản, như yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, để hạn chế tài sản rơi vào tay người thứ ba ngay tình.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Thời hiệu là yếu tố quan trọng khi đánh giá cá nhân, doanh nghiệp còn quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu hay không. Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khác nhau tùy theo căn cứ vô hiệu tại Điều 132.
Thời hiệu 02 năm áp dụng cho những trường hợp nào
Theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu đối với các trường hợp quy định tại Điều 125, 126, 127, 128 và 129 là 02 năm.
Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu được xác định tùy theo từng căn cứ:
- Đối với giao dịch theo Điều 125, thời hiệu được tính từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
- Đối với trường hợp nhầm lẫn hoặc lừa dối theo Điều 126 và Điều 127, thời hiệu được tính từ ngày người bị nhầm lẫn hoặc bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do nhầm lẫn hoặc do bị lừa dối;
- Đối với trường hợp bị đe dọa, cưỡng ép, thời hiệu được tính từ ngày hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt;
- Đối với trường hợp người xác lập giao dịch không nhận thức và làm chủ được hành vi theo Điều 128, thời hiệu được tính từ ngày người này xác lập giao dịch;
- Đối với giao dịch vi phạm quy định về hình thức theo Điều 129, thời hiệu được tính từ ngày giao dịch được xác lập.
Hết thời hiệu mà không yêu cầu thì hợp đồng đương nhiên có hiệu lực
Theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, sau khi hết thời hiệu 02 năm mà không có yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch có hiệu lực.
Do đó, đối với các trường hợp chỉ có thời hiệu yêu cầu 02 năm, việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời hiệu có ý nghĩa quan trọng khi xem xét khả năng yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Trường hợp không giới hạn thời hiệu yêu cầu tuyên vô hiệu
Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 123 và Điều 124, tức giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc giao dịch giả tạo.
Vì vậy, đối với các giao dịch thuộc những trường hợp này, việc đã qua nhiều năm kể từ thời điểm giao kết không làm mất quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do hết thời hiệu. Tuy nhiên, thời gian kéo dài có thể gây khó khăn cho việc thu thập và chứng minh chứng cứ, nên việc chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vẫn có ý nghĩa thực tế.

Thủ tục đòi lại quyền lợi khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu
Việc xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, căn cứ vào tính chất tranh chấp, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ. Luật 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Đối với tranh chấp về hợp đồng, thẩm quyền giải quyết được xác định theo Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025. Theo quy định hiện hành, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các tranh chấp dân sự thuộc phạm vi luật định.
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, theo Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, về nguyên tắc vụ án dân sự do Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết. Trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản thì áp dụng quy định riêng về thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản.
Do đó, khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, cần xác định đồng thời loại tranh chấp, Tòa án có thẩm quyền sơ thẩm và Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ trước khi nộp đơn.
Trình tự nộp đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Việc nộp và thụ lý đơn được thực hiện theo trình tự sau:
- Chuẩn bị đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu nêu rõ căn cứ hợp đồng vô hiệu, kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh (hợp đồng, chứng từ thanh toán, biên bản bàn giao, tài liệu liên quan đến hành vi lừa dối, đe dọa nếu có).
- Nộp đơn đến Tòa án có thẩm quyền theo Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bằng hình thức nộp trực tiếp, gửi qua bưu điện hoặc gửi trực tuyến.
- Tòa án xem xét đơn trong thời hạn luật định theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nếu đơn hợp lệ, Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí.
- Người khởi kiện, người yêu cầu nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí để Tòa án thụ lý vụ án, vụ việc.
- Giải quyết vụ án: Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết như xác minh, thu thập và đánh giá chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định; sau đó mở phiên tòa nếu vụ án được đưa ra xét xử.
Yêu cầu hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại trong cùng vụ việc
Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, bên có quyền lợi có thể đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, bao gồm hoàn trả những gì các bên đã nhận theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo khoản 4 Điều 131 nếu có căn cứ.
Việc đưa các yêu cầu có liên quan vào cùng vụ án có thể giúp Tòa án xem xét đồng thời việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu và các hậu quả phát sinh từ giao dịch. Tuy nhiên, phạm vi yêu cầu cần được xác định phù hợp với quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng của các bên và chứng cứ chứng minh từng khoản yêu cầu.
>>> Xem thêm: Khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Rủi ro cần lưu ý sau khi hợp đồng vô hiệu
Sau khi phát sinh căn cứ làm hợp đồng vô hiệu, các bên không chỉ đối mặt với hậu quả hoàn trả tài sản mà còn có thể gặp nhiều rủi ro về thời hiệu, khả năng thu hồi tài sản và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Một số rủi ro cần đặc biệt lưu ý gồm:
Rủi ro hết thời hiệu yêu cầu tuyên vô hiệu
Đối với các trường hợp áp dụng thời hiệu 02 năm theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, việc chậm yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu có thể dẫn đến hết thời hiệu. Theo khoản 2 Điều 132, khi hết thời hiệu mà không có yêu cầu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
Do đó, việc xác định đúng căn cứ vô hiệu và thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền yêu cầu.
Rủi ro không thu hồi được tài sản đã chuyển cho bên thứ ba ngay tình
Trường hợp tài sản của hợp đồng vô hiệu đã được chuyển giao cho người thứ ba, quyền đòi lại tài sản cần được xem xét theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu người thứ ba đáp ứng đầy đủ điều kiện được pháp luật bảo vệ thì giao dịch với người thứ ba có thể vẫn có hiệu lực, dẫn đến việc bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu không thể đương nhiên đòi lại tài sản từ người thứ ba.
Khi đó, cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch trước, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên có lỗi theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không nên mặc nhiên cho rằng mọi trường hợp tài sản đã chuyển cho người thứ ba ngay tình đều chỉ có thể yêu cầu bồi thường bằng tiền.
Rủi ro tranh chấp kéo dài khi xác định lỗi và mức bồi thường
Theo khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Việc xác định trách nhiệm bồi thường vì vậy có thể phát sinh tranh chấp về hành vi của từng bên, lỗi gây ra thiệt hại, thiệt hại thực tế và mối quan hệ giữa hành vi vi phạm với thiệt hại.
Trường hợp nhiều bên cùng có lỗi, việc xác định trách nhiệm bồi thường cần được xem xét dựa trên mức độ lỗi và thiệt hại thực tế theo các nguyên tắc bồi thường của Bộ luật Dân sự. Do đó, bên yêu cầu bồi thường cần chủ động thu thập tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, lỗi và mối quan hệ nhân quả để bảo vệ yêu cầu của mình..
Dịch vụ luật sư tư vấn hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hợp đồng vô hiệu với các công việc sau:
- Rà soát điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và giao dịch dân sự.
- Kiểm tra tư cách chủ thể, thẩm quyền ký kết và phạm vi đại diện.
- Đánh giá nội dung hợp đồng có vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội hay không.
- Rà soát dấu hiệu hợp đồng giả tạo hoặc giao dịch nhằm che giấu giao dịch khác.
- Đánh giá trường hợp giao kết do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
- Kiểm tra yêu cầu về hình thức, công chứng, chứng thực của từng loại hợp đồng.
- Đánh giá khả năng yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực đối với hợp đồng vi phạm hình thức nhưng đã thực hiện phần lớn nghĩa vụ.
- Rà soát thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Đánh giá hậu quả pháp lý khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu.
- Tư vấn phương án hoàn trả tiền, tài sản và các lợi ích các bên đã nhận.
- Xác định căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại, lỗi và mối quan hệ nhân quả.
- Rà soát quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi tài sản đã được chuyển giao.
- Tư vấn biện pháp bảo toàn tài sản, hạn chế việc tiếp tục chuyển nhượng cho bên thứ ba.
- Soạn hồ sơ khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, hoàn trả tài sản hoặc bồi thường thiệt hại.
- Đại diện khách hàng tham gia tố tụng trong vụ án yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu;
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
>>> Xem thêm: Tư vấn các điều kiện để tuyên bố hợp đồng điện tử vô hiệu
Câu hỏi thường gặp về hợp đồng bị tuyên vô hiệu: Hậu quả pháp lý và cách đòi lại quyền lợi
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi hợp đồng vô hiệu. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và văn bản pháp luật tố tụng có liên quan.
1. Hợp đồng bị tuyên vô hiệu có phải trả lại tiền đã nhận không?
Có. Theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
2. Ai là người có lỗi khi hợp đồng vô hiệu?
Theo khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Việc xác định lỗi không được áp dụng theo một tỷ lệ cố định mà cần căn cứ vào hành vi, chứng cứ và các tình tiết cụ thể của vụ việc. Trường hợp nhiều bên cùng có lỗi, trách nhiệm bồi thường được xem xét trên cơ sở mức độ lỗi và thiệt hại thực tế.
3. Hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức có thể “cứu” được không?
Có, trong một số trường hợp. Theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, đối với giao dịch vi phạm quy định bắt buộc về hình thức, Tòa án có thể công nhận hiệu lực của giao dịch nếu giao dịch đã được xác lập, thực hiện theo các điều kiện mà điều luật quy định, trong đó có trường hợp một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch.
4. Thời hiệu yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu là bao lâu?
Theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu là 02 năm đối với các căn cứ tại Điều 125 đến Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015. Riêng hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc giả tạo theo Điều 123, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 thì không bị giới hạn thời hiệu, theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.
5. Người thứ ba ngay tình có phải trả lại tài sản không?
Không phải trong mọi trường hợp. Theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015, người thứ ba ngay tình có thể được pháp luật bảo vệ nếu đáp ứng các điều kiện luật định; khi đó giao dịch với người thứ ba có thể vẫn có hiệu lực và họ không phải trả lại tài sản. Việc có phải trả lại hay không còn phụ thuộc vào loại tài sản, tình trạng đăng ký và trường hợp chuyển giao cụ thể.
6. Nộp đơn yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu ở đâu?
Kể từ ngày 01/7/2025, đơn được nộp tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025 và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, thay cho Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây. Thẩm quyền theo lãnh thổ vẫn xác định theo nơi cư trú, làm việc của bị đơn hoặc nơi có bất động sản tranh chấp.
Kết luận
Hợp đồng bị tuyên vô hiệu không chỉ chấm dứt hiệu lực của giao dịch mà còn kéo theo nghĩa vụ hoàn trả tài sản, xử lý hoa lợi lợi tức và trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa các bên. Việc xác định đúng căn cứ vô hiệu, theo dõi sát thời hiệu yêu cầu và chủ động ngăn chặn rủi ro tài sản rơi vào tay người thứ ba ngay tình là những yếu tố quyết định khả năng đòi lại quyền lợi cho khách hàng. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp với từng vụ việc. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: căn cứ hợp đồng vô hiệu, Hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu, hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu, Hợp đồng vô hiệu, khởi kiện hợp đồng vô hiệu, người thứ ba ngay tình, thời hiệu yêu cầu hợp đồng vô hiệu, thủ tục yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu., Tranh chấp hợp đồng, tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.