Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều đương sự muốn ghi âm tại phiên tòa để phục vụ hồ sơ vụ án nhưng lúng túng vì không rõ xin phép ai, vào thời điểm nào. Kể từ 01/01/2025, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định lại vấn đề này tại Điều 141, và từ 01/8/2026, Thông tư 12/2026/TT-TANDTC hướng dẫn cụ thể liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa và việc ghi âm, ghi hình. Bài viết phân tích điều kiện, thủ tục xin phép và rủi ro pháp lý khi ghi âm sai quy định.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Việc ghi âm lời nói được thực hiện trong toàn bộ thời gian diễn ra phiên tòa, trong khi ghi hình ảnh chỉ được thực hiện khi khai mạc và tuyên án, theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025).
- Ghi âm, ghi hình Hội đồng xét xử, Thẩm phán chỉ cần sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa, còn ghi người tiến hành tố tụng khác hoặc người tham gia tố tụng cần thêm sự đồng ý của chính người đó, theo khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025).
- Người tham dự phiên tòa không được mang thiết bị điện tử có tính năng ghi âm, ghi hình vào phòng xử án nếu chưa được Thẩm phán chủ tọa cho phép, theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC.
- Mọi hành vi truyền phát trực tiếp, trực tuyến diễn biến phiên tòa đều bị nghiêm cấm, theo khoản 5 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Điều kiện được ghi âm, ghi hình tại phiên tòa theo quy định hiện hành
Điều kiện ghi âm, ghi hình tại phiên tòa được xác định theo hai trục: phạm vi thời gian được ghi và đối tượng nào cần xin phép ai. Đây là khung pháp lý bắt buộc mọi cá nhân, tổ chức phải tuân thủ trước khi thực hiện hành vi ghi âm, ghi hình tại phòng xử án.
Theo khoản 3, khoản 5 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025) và khoản 3, khoản 4 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh tại phiên tòa, phiên họp được thực hiện theo nguyên tắc phân biệt rõ giữa ghi âm và ghi hình, đồng thời phân biệt rõ đối tượng cần xin phép. Đây là điểm mới so với Thông tư 02/2017/TT-TANDTC trước đây, siết chặt hơn việc kiểm soát hình ảnh trong khi vẫn cho phép ghi âm toàn bộ diễn biến.
Ghi âm lời nói — được thực hiện trong suốt thời gian phiên tòa
Theo điểm a khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc ghi âm lời nói được thực hiện trong thời gian diễn ra phiên tòa, phiên họp, không giới hạn ở một giai đoạn cụ thể. Quy định này áp dụng thống nhất cho toàn bộ diễn biến từ khai mạc đến tuyên án. Đương sự, luật sư có thể ghi âm liên tục toàn bộ phần xét hỏi, tranh luận, nghị án công khai (nếu có) và tuyên án, miễn đáp ứng điều kiện xin phép nêu tại phần tiếp theo.
Ghi hình ảnh — chỉ giới hạn ở thời điểm khai mạc và tuyên án
Theo điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc ghi hình ảnh tại phiên tòa, phiên họp chỉ được thực hiện trong thời gian khai mạc phiên tòa, phiên họp và tuyên án, công bố quyết định. Ngoài hai thời điểm này, việc ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa không được phép thực hiện, kể cả khi đã được Thẩm phán chủ tọa đồng ý cho ghi âm. Đây là ngoại lệ giới hạn phạm vi hẹp hơn nhiều so với ghi âm lời nói.
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng nhầm lẫn giữa quyền ghi âm và quyền ghi hình, dẫn đến việc bật máy quay liên tục suốt phiên xét xử mà không biết đã vi phạm giới hạn về thời điểm ghi hình. Đây là lỗi phổ biến nhất khiến người tham dự bị nhắc nhở hoặc buộc dừng thiết bị ngay tại chỗ.
Trường hợp phải có sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa và trường hợp phải có thêm sự đồng ý của người được ghi
Theo khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử, Thẩm phán chỉ cần sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, phiên họp. Ngược lại, trường hợp ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của người tiến hành tố tụng khác (Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa) hoặc người tham gia tố tụng (đương sự, người làm chứng, người bào chữa của bên đối lập…) thì phải được sự đồng ý của chính người đó và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, phiên họp.
Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: nếu luật sư chỉ xin phép Thẩm phán chủ tọa mà muốn ghi âm lời trình bày của người làm chứng hoặc đương sự phía đối tụng, việc ghi âm đó vẫn chưa đủ điều kiện hợp pháp nếu người được ghi không đồng ý. Do đó, khi chuẩn bị nội dung xin phép, cần xác định rõ đối tượng dự kiến ghi âm, ghi hình để xin đủ các bên liên quan ngay từ đầu phiên tòa.
>>> Xem thêm: Thẩm quyền sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa
Mang thiết bị điện tử vào phòng xử án
Theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, người tham dự không được mang thiết bị truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số như điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh, thiết bị khác có tính năng ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu điện tử vào phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp cho phép. Việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, xét xử trực tuyến hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp đối với người tham gia tố tụng phải theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp.
Quy định này đồng nghĩa với việc quyền mang thiết bị vào phòng xử án và quyền ghi âm, ghi hình là hai lớp điều kiện tách biệt: được phép mang điện thoại vào phòng không đồng nghĩa được phép bật ghi âm nếu chưa xin phép riêng cho việc ghi âm, ghi hình.
>>> Xem thêm: Có được mang điện thoại laptop vào phiên tòa dân sự 2026?
Thủ tục đề nghị Tòa án chấp thuận cho ghi âm, ghi hình tại phiên tòa
Thủ tục xin phép ghi âm, ghi hình tại phiên tòa không có mẫu đơn bắt buộc theo văn bản pháp luật, nhưng phải thực hiện theo trình tự xin phép trực tiếp Thẩm phán chủ tọa và tuân thủ sự điều hành của Thẩm phán trong suốt phiên tòa. Dưới đây là quy trình gợi ý theo đúng thẩm quyền điều hành quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025) và khoản 3, khoản 4 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC.
- Chuẩn bị văn bản đề nghị hoặc lời đề nghị trực tiếp gửi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nêu rõ mục đích ghi âm, ghi hình, đối tượng dự kiến ghi và tư cách tham gia tố tụng của người đề nghị.
- Nộp hoặc trình bày đề nghị trước khi khai mạc phiên tòa hoặc ngay khi có nhu cầu phát sinh trong quá trình xét xử, để Thẩm phán chủ tọa có thời gian xem xét và thông báo quyết định cho các bên liên quan.
- Nếu đối tượng dự kiến ghi âm, ghi hình là người tiến hành tố tụng khác hoặc người tham gia tố tụng, xin thêm sự đồng ý trực tiếp của những người này tại phiên tòa.
- Chỉ sử dụng thiết bị điện tử để ghi âm, ghi hình sau khi đã được Thẩm phán chủ tọa xác nhận đồng ý, và tuân thủ đúng phạm vi thời gian, đối tượng đã được chấp thuận.
- Trong suốt phiên tòa, tiếp tục tuân theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa; nếu Thẩm phán yêu cầu tạm dừng ghi âm, ghi hình vào một số thời điểm nhất định (ví dụ khi nghị án, khi công bố thông tin cần bảo mật), phải chấp hành ngay.
Thời điểm và cách thức đề nghị xin phép Thẩm phán chủ tọa
Người có nhu cầu ghi âm, ghi hình nên đề nghị xin phép ngay tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, khi Thẩm phán chủ tọa hỏi ý kiến các bên về các vấn đề liên quan đến phiên tòa. Theo khoản 3 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, việc sử dụng thiết bị điện tử để ghi âm, ghi hình đối với người tham gia tố tụng phải theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nghĩa là quyền quyết định cuối cùng thuộc về Thẩm phán, không phải quyền mặc nhiên của người tham dự.
Về hình thức, hiện nay pháp luật chưa quy định mẫu đơn bắt buộc cho việc xin phép ghi âm, ghi hình. Theo thực tiễn áp dụng, để Thẩm phán chủ tọa dễ tiếp nhận và trả lời, văn bản đề nghị nên trình bày theo đúng thể thức văn bản hành chính thông thường, nêu đầy đủ họ tên, số căn cước, tư cách tham gia tố tụng và căn cứ pháp lý về quyền tham gia tố tụng của người đề nghị (ví dụ Điều 13 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nếu là vụ án dân sự, Điều 17 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nếu là vụ án hình sự, hoặc Điều 22 Luật Tố tụng hành chính 2015 nếu là vụ án hành chính).
Xin thêm sự đồng ý của người tiến hành tố tụng khác hoặc người tham gia tố tụng
Khi đối tượng dự kiến ghi âm, ghi hình không phải Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán, người đề nghị cần trực tiếp hỏi ý kiến người đó tại phiên tòa, đồng thời thông báo cho Thẩm phán chủ tọa biết. Nên lưu ý xin đồng ý bằng lời nói được ghi nhận công khai tại phiên tòa hoặc bằng văn bản, để tránh tranh chấp về sau nếu người được ghi phủ nhận đã đồng ý.
Trong thực tiễn xử lý các vụ việc tương tự, một sai lầm phổ biến của đương sự là chỉ xin phép Thẩm phán chủ tọa mà bỏ qua bước xin phép người làm chứng hoặc đương sự phía đối tụng, dẫn đến việc dữ liệu ghi âm đó có nguy cơ không được coi là thu thập hợp pháp nếu sau này cần sử dụng làm chứng cứ trong một thủ tục khác.
Phạm vi được ghi sau khi được chấp thuận — không đồng nghĩa được ghi toàn bộ
Được Thẩm phán chủ tọa chấp thuận cho ghi âm, ghi hình không đồng nghĩa với việc được ghi không giới hạn trong toàn bộ thời gian phiên tòa đối với hình ảnh. Theo khoản 4 Điều 4 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, việc ghi hình ảnh chỉ được thực hiện trong thời gian khai mạc phiên tòa, phiên họp và tuyên án, công bố quyết định, dù đã được đồng ý cho ghi âm toàn bộ. Đây là trường hợp ngoại lệ cần đặc biệt lưu ý: sự chấp thuận của Thẩm phán chủ tọa không thể mở rộng phạm vi ghi hình vượt quá giới hạn luật định.
Luật Long Phan PMT khuyến nghị người tham dự nên chủ động tắt tính năng quay hình ngay sau phần khai mạc và chỉ bật lại khi Thẩm phán chuẩn bị tuyên án, để tránh vi phạm không cố ý trong lúc theo dõi diễn biến xét hỏi, tranh luận.

Đề nghị Tòa án cung cấp bản ghi âm, ghi hình chính thức của phiên tòa
Ngoài quyền tự ghi âm, ghi hình, đương sự và luật sư còn có thể đề nghị Tòa án cung cấp bản ghi âm, ghi hình chính thức do Tòa án thực hiện phục vụ nhiệm vụ chuyên môn. Đây là cơ chế bổ sung, khác với việc tự ghi âm tại chỗ và có điều kiện tiếp cận riêng.
Theo khoản 4 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án tiến hành ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp trong trường hợp cần thiết để phục vụ nhiệm vụ chuyên môn; việc sử dụng, cung cấp kết quả ghi âm, ghi hình được thực hiện theo quy định của pháp luật, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết. Cụ thể hóa quy định này, Điều 7 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC quy định Tòa án thực hiện ghi âm, ghi hình để phục vụ các công tác rút kinh nghiệm trong thực tiễn xét xử, tổng kết thực tiễn, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, hoặc trường hợp khác do Chánh án Tòa án quyết định.
Theo khoản 3 Điều 7 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, kết quả ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp được cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: nội dung là thông tin được phép tiếp cận theo pháp luật về tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; người yêu cầu là người có quyền được yêu cầu cung cấp theo quy định pháp luật; bảo đảm quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác; và không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án, sự độc lập, vô tư, khách quan của Tòa án.
Đây là hướng tiếp cận đáng cân nhắc đối với đương sự, đặc biệt trong trường hợp việc tự ghi âm tại chỗ bị Thẩm phán chủ tọa từ chối hoặc không kịp thực hiện đầy đủ: đề nghị Tòa án cung cấp bản ghi chính thức, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào quyền tự ghi, có thể là phương án dự phòng để bảo đảm có bằng chứng khách quan về diễn biến phiên tòa khi cần thiết.
Hậu quả pháp lý khi ghi âm, ghi hình sai quy định tại phiên tòa
Vi phạm quy định về ghi âm, ghi hình tại phiên tòa không chỉ dừng ở việc bị nhắc nhở mà có thể dẫn đến các biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn tùy tính chất, mức độ vi phạm. Người tham dự cần nắm rõ ba nhóm hành vi thường gặp và hậu quả tương ứng để tránh vi phạm không cố ý.
Ghi âm, ghi hình không xin phép hoặc vượt phạm vi cho phép
Việc ghi âm, ghi hình mà không được Thẩm phán chủ tọa đồng ý, hoặc đã được đồng ý nhưng ghi hình ngoài thời điểm khai mạc và tuyên án, đều là hành vi vi phạm nội quy phiên tòa. Theo khoản 3 Điều 139 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, phiên họp có quyền cấm vào hoặc buộc rời khỏi phòng xử án đối với người vi phạm nội quy phiên tòa có thể gây ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm và an ninh, trật tự phòng xử án; đồng thời có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ hành chính hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Livestream, phát trực tiếp diễn biến phiên tòa
Theo khoản 5 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), người tham dự phiên tòa, phiên họp không được truyền phát trực tiếp, trực tuyến diễn biến phiên tòa dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả khi phiên tòa được xét xử công khai. Hành vi này bị nghiêm cấm tuyệt đối, không có ngoại lệ dựa trên việc đã được Thẩm phán chủ tọa cho phép ghi âm, ghi hình.
Theo khoản 4 Điều 139 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), người vi phạm nội quy phiên tòa thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị cấm vào hoặc buộc rời khỏi phòng xử án, bị xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Cắt ghép, chỉnh sửa nội dung ghi âm, ghi hình rồi đăng tải lên mạng xã hội
Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn, không chỉ dừng ở việc vi phạm nội quy phiên tòa mà còn có thể xâm phạm quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự và người tham gia tố tụng khác. Theo khoản 5 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), người tham dự phiên tòa không được thông tin sai sự thật, không được vi phạm quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc.
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, hành vi cắt ghép nội dung phiên tòa rồi đăng tải với mục đích câu view thường bị xử lý nặng hơn nhiều so với việc chỉ ghi âm sai phạm vi thời gian, vì cơ quan có thẩm quyền đánh giá đây là hành vi có chủ đích, ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của người liên quan và uy tín của hoạt động xét xử. Tùy tính chất, mức độ, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ hành chính hoặc bị kiến nghị khởi tố hình sự theo khoản 3, khoản 4 Điều 139 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025).
>>> Xem thêm: Điều kiện để file ghi âm trở thành chứng cứ trước Tòa án

Kinh nghiệm thực tế xử lý yêu cầu ghi âm, ghi hình tại phiên tòa
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, Luật Long Phan PMT nhận thấy vướng mắc phổ biến nhất không nằm ở quy định pháp luật mà nằm ở cách xử lý tình huống thực tế tại phòng xử án. Một tình huống thường gặp là Thẩm phán chủ tọa từ chối cho ghi âm chỉ bằng lời nói, không lập biên bản ghi nhận việc từ chối, khiến đương sự không có căn cứ để khiếu nại hoặc phản hồi lại quyết định đó sau phiên tòa.
Để hạn chế rủi ro này, đương sự thường đề nghị bằng văn bản trước ngày mở phiên tòa, gửi kèm hồ sơ vụ án hoặc nộp trực tiếp cho Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn từ, thay vì chỉ xin phép miệng ngay tại phiên tòa. Cách làm này giúp lưu lại bằng chứng đã đề nghị đúng thủ tục, đồng thời cho Thẩm phán chủ tọa thời gian cân nhắc và phản hồi trước khi phiên tòa diễn ra, tránh tình huống bị từ chối đột ngột gây gián đoạn công việc chuẩn bị của đương sự.
Một sai lầm phổ biến khác của đương sự là tự ý bật thiết bị ghi âm ngay khi vào phòng xử án mà không hỏi trước, do nhầm tưởng quyền tham dự phiên tòa công khai đương nhiên bao gồm quyền ghi âm. Trên thực tế, hai quyền này độc lập với nhau: quyền tham dự phát sinh từ nguyên tắc xét xử công khai, còn quyền ghi âm, ghi hình luôn phải qua bước xin phép riêng theo đúng khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025). Việc tự ý bật máy ghi âm mà chưa được đồng ý không chỉ có nguy cơ bị nhắc nhở, buộc dừng thiết bị ngay tại phiên tòa mà còn có thể ảnh hưởng đến thiện cảm của Hội đồng xét xử đối với thái độ tố tụng của bên liên quan.
Dịch vụ luật sư tư vấn và tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các tranh chấp dân sự giải quyết tại tòa án với các công việc sau:
- Tư vấn pháp lý và đánh giá vụ việc: Phân tích hồ sơ, xác định quyền và nghĩa vụ của khách hàng, đánh giá rủi ro và đề xuất phương án tố tụng phù hợp.
- Soạn thảo hồ sơ, đơn từ tố tụng: Soạn đơn khởi kiện, văn bản ý kiến, bản tự bảo vệ, đơn yêu cầu và các tài liệu cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án.
- Thu thập và đánh giá chứng cứ: Hỗ trợ khách hàng rà soát, hệ thống hóa và đánh giá giá trị pháp lý của tài liệu, chứng cứ phục vụ việc bảo vệ quyền lợi.
- Đại diện và làm việc với Tòa án: Đại diện hoặc cùng khách hàng làm việc với Thẩm phán, tham gia các hoạt động tố tụng và xử lý các yêu cầu phát sinh trong vụ án.
- Tham gia phiên tòa và bảo vệ quyền lợi: Tham gia xét xử, trình bày quan điểm, tranh luận và đưa ra lập luận pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Tư vấn xử lý các vấn đề phát sinh trong tố tụng: Hỗ trợ giải quyết các vướng mắc như ghi âm, ghi hình tại phiên tòa, đề nghị cung cấp bản ghi chính thức và xử lý vi phạm nội quy phiên tòa.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về ghi âm tại phiên tòa: thủ tục đề nghị Tòa chấp thuận
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi có nhu cầu ghi âm, ghi hình tại phiên tòa. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025) và Thông tư 12/2026/TT-TANDTC hiện đang có hiệu lực.
1. Có được tự ý ghi âm phiên tòa mà không xin phép Thẩm phán chủ tọa không?
Không. Theo khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc ghi âm lời nói của Hội đồng xét xử, Thẩm phán phải được sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Đối với người tham gia tố tụng khác, cần thêm sự đồng ý của chính người đó. Việc tự ý ghi âm khi chưa được đồng ý là hành vi vi phạm nội quy phiên tòa.
2. Ghi âm, ghi hình phiên tòa vượt phạm vi cho phép bị xử lý như thế nào?
Theo khoản 3, khoản 4 Điều 139 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), tùy tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm có thể bị Thẩm phán chủ tọa cấm vào hoặc buộc rời khỏi phòng xử án, bị xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ hành chính hoặc bị kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự.
3. Có được livestream phiên tòa xét xử công khai không?
Không. Theo khoản 5 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), người tham dự phiên tòa, phiên họp không được truyền phát trực tiếp, trực tuyến diễn biến phiên tòa, kể cả trong trường hợp phiên tòa được xét xử công khai theo nguyên tắc chung.
4. Luật sư có cần xin phép riêng khi ghi âm để phục vụ hồ sơ vụ án không?
Có. Tư cách luật sư tham gia tố tụng không đương nhiên miễn trừ nghĩa vụ xin phép ghi âm, ghi hình. Theo khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), luật sư vẫn phải xin sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa, và nếu ghi âm lời trình bày của người tham gia tố tụng khác thì cần thêm sự đồng ý của người đó.
5. Có thể đề nghị Tòa án cung cấp bản ghi âm, ghi hình chính thức của phiên tòa không?
Có. Theo khoản 3 Điều 7 Thông tư 12/2026/TT-TANDTC, kết quả ghi âm, ghi hình do Tòa án thực hiện phục vụ nhiệm vụ chuyên môn có thể được cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu khi đáp ứng đủ điều kiện về quyền tiếp cận thông tin, bảo vệ quyền con người và không ảnh hưởng đến việc xét xử.
6. Ghi hình Hội đồng xét xử có bị giới hạn thời điểm không?
Có. Theo điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử chỉ được thực hiện trong thời gian khai mạc phiên tòa và tuyên án, công bố quyết định, dù đã được Thẩm phán chủ tọa đồng ý cho ghi hình.
Kết luận
Ghi âm tại phiên tòa là quyền có điều kiện, không phải quyền mặc nhiên phát sinh từ việc tham dự phiên tòa công khai. Doanh nghiệp, cá nhân cần phân biệt rõ phạm vi ghi âm và ghi hình, xác định đúng đối tượng cần xin phép, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa để tránh rủi ro bị xử lý vi phạm nội quy phiên tòa. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng soạn văn bản đề nghị, tư vấn phạm vi ghi âm, ghi hình phù hợp và xử lý các vướng mắc phát sinh tại phiên tòa. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Thông tư 12/2026/TT-TANDTC
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bảo vệ quyền tố tụng, cung cấp bản ghi âm phiên tòa, ghi hình Hội đồng xét xử, ghi hình tại phiên tòa, livestream phiên tòa, nội quy phiên tòa, quyền ghi âm của đương sự, quyền ghi âm của luật sư, thủ tục xin phép ghi âm phiên tòa, vi phạm nội quy phiên tòa, xét xử công khai, xét xử tại Tòa án

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.