Cách chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ để đòi bồi thường

Chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ của chủ thể quyền, và Tòa án chỉ chấp nhận bồi thường khi từng khoản thiệt hại có chứng cứ. Luật Long Phan PMT thường gặp chủ thể quyền thắng về việc có xâm phạm nhưng nhận mức bồi thường thấp vì không chứng minh được con số. Bài viết hướng dẫn chọn căn cứ theo Điều 205 và thu thập chứng cứ xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ khi cần.

Hồ sơ chứng cứ, kính lúp và cán cân minh họa chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ theo Điều 205
Chủ thể quyền phải nêu rõ từng khoản thiệt hại và chứng minh bằng chứng cứ; mức Tòa án ấn định không quá một tỷ đồng từ ngày 01/4/2026.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Chủ thể quyền phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế và chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ, theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025) và điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.
  • Khi không xác định được thiệt hại vật chất theo ba căn cứ đầu, Tòa án ấn định mức bồi thường không quá một tỷ đồng theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, áp dụng từ ngày 01/4/2026.
  • Thiệt hại tinh thần được yêu cầu bồi thường từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở theo khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, nếu nguyên đơn chứng minh được thiệt hại đó.
  • Vụ việc xâm phạm đã được thụ lý trước ngày 01/4/2026 mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục áp dụng quy định cũ theo khoản 5 Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thông qua ngày 10/12/2025.

Nội Dung Bài Viết

Chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ được điều chỉnh bởi những văn bản nào?

Việc đòi bồi thường chịu sự điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ về căn cứ và mức bồi thường, Bộ luật Dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về chứng cứ, và nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về xác định thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, thiệt hại gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đặt ra các căn cứ để Tòa án xác định mức bồi thường. Hai điều này là xương sống của mọi yêu cầu bồi thường trong tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.

Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung nguyên tắc chung. Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người nào có hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường. Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, nhưng chỉ đối với thiệt hại có thật.

Về tố tụng, khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025) yêu cầu đương sự đòi bảo vệ quyền lợi phải thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ. Nếu không đưa ra đủ chứng cứ, Tòa án giải quyết theo chứng cứ đang có trong hồ sơ.

Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, có hiệu lực từ ngày 01/01/2023. Văn bản này không viết riêng cho sở hữu trí tuệ, nhưng Tòa án thường vận dụng để đánh giá thiệt hại thực tế và quan hệ nhân quả. Đây là nhận định theo thực tiễn áp dụng, không phải quy định bắt buộc riêng cho loại tranh chấp này.

Mốc ngày 01/4/2026 thay đổi điều gì?

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026. Mức trần Tòa án ấn định khi không xác định được thiệt hại vật chất tăng từ năm trăm triệu đồng lên một tỷ đồng. Thiệt hại tinh thần chuyển từ khoảng cố định sang bội số của mức lương cơ sở.

Luật mới còn bổ sung biện pháp dân sự mới tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, như buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử xâm phạm. Biện pháp này không thay cho bồi thường, nhưng giúp chủ thể quyền chặn thiệt hại tiếp diễn trên môi trường số.

Chủ thể quyền phải chứng minh những yếu tố nào để được bồi thường?

Nguyên đơn phải chứng minh bốn nội dung: mình là chủ thể quyền hợp pháp, bị đơn có hành vi xâm phạm, có thiệt hại thực tế, và thiệt hại là hệ quả trực tiếp của hành vi xâm phạm. Thiếu một trong bốn nội dung, yêu cầu bồi thường dễ bị bác hoặc chỉ được chấp nhận một phần.

Điểm này thường bị bỏ sót vì chủ thể quyền chỉ tập trung chứng minh có xâm phạm. Trong khi đó, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP yêu cầu thiệt hại vật chất phải là tổn thất thực tế xác định được, còn điểm c khoản 1 Điều 2 yêu cầu có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm.

Bảng dưới đây giúp phân loại nhanh từng yếu tố cần chứng minh và loại tài liệu thường được sử dụng.

Yếu tố cần chứng minh Nội dung cần làm rõ Tài liệu thường dùng
Quyền hợp pháp của nguyên đơn Có quyền tác giả, văn bằng bảo hộ, đăng ký nhãn hiệu hoặc quyền đối với bí mật kinh doanh Giấy chứng nhận, văn bằng, hợp đồng chuyển giao hoặc license, bản gốc tác phẩm
Hành vi xâm phạm Bị đơn sử dụng đối tượng được bảo hộ mà không được phép Hàng mẫu mua được, vi bằng, hóa đơn, ảnh chụp màn hình, kết luận giám định
Thiệt hại thực tế Khoản tiền, lợi nhuận, cơ hội kinh doanh hoặc chi phí đã mất Sổ sách kế toán, báo cáo doanh thu, hợp đồng, chứng từ chi phí
Quan hệ nhân quả Thiệt hại phát sinh do chính hành vi xâm phạm Số liệu so sánh trước và sau xâm phạm, thư phàn nàn của khách hàng

Thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần trong các vụ án về sở hữu trí tuệ khác nhau thế nào?

Thiệt hại vật chất là tổn thất quy được thành tiền, như giảm sút thu nhập, lợi nhuận, mất cơ hội kinh doanh hoặc chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Thiệt hại tinh thần liên quan đến danh dự, uy tín và chỉ được xem xét khi nguyên đơn chứng minh được theo khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

>>> Xem thêm: Case study: Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép

Chứng minh thiệt hại vật chất theo từng căn cứ tại Điều 205 như thế nào?

Điều 205 cho nguyên đơn chọn một trong bốn hướng tính: tổng thiệt hại cộng lợi nhuận của bị đơn, giá chuyển giao quyền giả định, cách tính khác do chủ thể quyền đưa ra, hoặc mức do Tòa án ấn định. Mỗi hướng đòi hỏi bộ chứng cứ khác nhau và nên được chọn từ đầu.

Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trên cơ sở một trong các căn cứ tại khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khi chứng minh được hành vi xâm phạm đã gây thiệt hại vật chất. Việc chọn đúng căn cứ ngay trong đơn khởi kiện giúp tập trung nguồn lực thu thập chứng cứ.

Căn cứ tại điểm a: tổng thiệt hại cộng lợi nhuận bị đơn thu được

Điểm a khoản 1 Điều 205 cho phép tính bằng tổng thiệt hại vật chất cộng khoản lợi nhuận bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm, nếu khoản lợi nhuận này chưa nằm trong tổng thiệt hại. Cách này phù hợp khi nguyên đơn có sổ sách rõ ràng và tiếp cận được số liệu của bị đơn.

Nguyên đơn cần chứng minh hai nhóm số liệu:

  • Nhóm thứ nhất là thiệt hại của mình, gồm doanh thu và lợi nhuận bình quân trước thời điểm xâm phạm, doanh thu sau xâm phạm, và chi phí khắc phục.
  • Nhóm thứ hai là lợi nhuận bị đơn thu được, thường lấy từ hóa đơn, sao kê bán hàng, số lượng sản phẩm xâm phạm đã tiêu thụ.

Khó khăn lớn nhất là số liệu của bị đơn nằm ngoài tầm kiểm soát của nguyên đơn. Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép Tòa án áp dụng các biện pháp như yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật hoặc ủy thác thu thập chứng cứ khi cần thiết.

Căn cứ tại điểm b: giá chuyển giao quyền sử dụng giả định

Điểm b khoản 1 Điều 205 tính theo giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ, với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao theo hợp đồng, trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm. Đây là cách tính phổ biến khi không chứng minh được lợi nhuận bị mất.

Chứng cứ trọng tâm là bảng giá, hợp đồng license hoặc hợp đồng chuyển giao với bên thứ ba cho cùng đối tượng, cùng phạm vi và thời hạn. Nếu chưa từng cấp phép cho ai, nguyên đơn có thể dùng thông tin giá của đối tượng tương tự trên thị trường hoặc kết luận định giá, giám định.

Mức tính phải khớp phạm vi giả định. Nếu bị đơn xâm phạm trong một khu vực, một khoảng thời gian hoặc một số lượng sản phẩm xác định, mức tính phải khớp với đúng phạm vi đó, không nhân rộng sang phạm vi mà bị đơn chưa khai thác.

Căn cứ tại điểm c: cách tính khác do chủ thể quyền đưa ra

Điểm c khoản 1 Điều 205 cho phép chủ thể quyền đưa ra cách tính thiệt hại khác, với điều kiện phù hợp quy định pháp luật. Cách này thường áp dụng cho chi phí xây dựng lại thương hiệu, chi phí truyền thông đính chính hoặc thiệt hại do mất khách hàng cụ thể.

Cách tính tự đề xuất chỉ thuyết phục khi mỗi khoản đều có chứng từ và lý giải về mối liên hệ với hành vi xâm phạm. Theo điểm đ khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người yêu cầu bồi thường phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế và mức yêu cầu, kèm tài liệu, chứng cứ.

Căn cứ tại điểm d: mức do Tòa án ấn định tối đa một tỷ đồng

Điểm d khoản 1 Điều 205 áp dụng khi không thể xác định thiệt hại vật chất theo điểm a, b, c. Khi đó Tòa án quyết định mức bồi thường tùy mức độ thiệt hại, nhưng không quá một tỷ đồng theo quy định có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.

Mức ấn định không có nghĩa là nguyên đơn được miễn chứng minh. Nguyên đơn vẫn phải đưa ra tài liệu về quy mô xâm phạm, thời gian, địa bàn, giá trị thương hiệu hoặc tác phẩm, để Tòa án có cơ sở quyết định mức nằm gần hay xa mức trần.

Bảng sau so sánh bốn căn cứ để nguyên đơn chọn hướng phù hợp với dữ liệu mình có.

Căn cứ Phù hợp khi Chứng cứ trọng tâm Rủi ro chính
Điểm a: thiệt hại cộng lợi nhuận bị đơn Có sổ sách đầy đủ, tiếp cận được số liệu bị đơn Báo cáo tài chính, hóa đơn, sao kê bán hàng của bị đơn Không thu thập được số liệu bị đơn
Điểm b: giá chuyển giao giả định Đã từng cấp phép hoặc có giá tham chiếu Hợp đồng license, bảng giá, kết luận định giá Giá tham chiếu bị cho là không tương đương
Điểm c: cách tính khác Có khoản chi hoặc tổn thất cụ thể Chứng từ chi phí, hợp đồng bị hủy, thư từ khách hàng Bị loại vì thiếu liên hệ nhân quả
Điểm d: Tòa án ấn định Không đủ dữ liệu cho ba căn cứ trên Tài liệu về quy mô, thời gian, địa bàn xâm phạm Mức ấn định thấp hơn kỳ vọng
Bốn căn cứ tính bồi thường thiệt hại vật chất tại khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ từ điểm a đến điểm d
Nguyên đơn chọn một trong bốn hướng tính tại khoản 1 Điều 205, mỗi hướng cần bộ chứng cứ riêng.

Chứng minh thiệt hại tinh thần và chi phí thuê luật sư ra sao?

Thiệt hại tinh thần phải được nguyên đơn chứng minh mới được xem xét, với khung từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở. Chi phí hợp lý thuê luật sư được tính riêng, ngoài khoản bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Về thiệt hại tinh thần, chứng cứ thường gồm bài báo, bình luận trên mạng xã hội hạ thấp uy tín, thư của đối tác hoặc khách hàng nghi ngờ chất lượng, hoặc việc hàng giả kém chất lượng gắn tên thương hiệu của nguyên đơn. Mức cụ thể do Tòa án quyết định tùy mức độ thiệt hại, trong khung theo khoản 2 Điều 205.

Nếu mức lương cơ sở bị bãi bỏ, Chính phủ sẽ quy định mức tham chiếu thay thế, theo khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sau sửa đổi. Nguyên đơn cần đối chiếu mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử để tính đúng số tiền đề nghị trong đơn.

Về chi phí luật sư, khoản 3 Điều 205 cho phép yêu cầu bị đơn thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Để được chấp nhận, nên giữ hợp đồng dịch vụ pháp lý, chứng từ thanh toán và bảng kê công việc. Tòa án sẽ đánh giá tính hợp lý của khoản chi so với độ phức tạp của vụ việc.

Những chứng cứ nào cần thu thập và thu thập bằng cách nào?

Chứng cứ gồm tài liệu, dữ liệu điện tử, vật chứng, lời khai, kết luận giám định, vi bằng và kết quả định giá. Nguyên đơn có thể tự thu thập hoặc đề nghị Tòa án thu thập khi không tự làm được, theo Điều 94 và Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liệt kê các nguồn chứng cứ, trong đó có dữ liệu điện tử, kết luận giám định và kết quả định giá tài sản. Điều 97 cho phép đương sự tự thu thập chứng cứ, yêu cầu Tòa án thu thập hoặc yêu cầu trưng cầu giám định, định giá.

Trình tự thu thập thường được thực hiện như sau:

  1. Lập bộ chứng cứ về quyền: giấy chứng nhận, văn bằng, hợp đồng chuyển giao, bản thảo hoặc dữ liệu gốc chứng minh quyền tác giả.
  2. Cố định hành vi xâm phạm: mua hàng có hóa đơn, lập vi bằng, lưu trang web, tài khoản mạng xã hội, quảng cáo trực tuyến, có ghi rõ ngày giờ.
  3. Cố định số liệu của nguyên đơn: sổ sách kế toán, báo cáo doanh thu, tỷ suất lợi nhuận theo từng kỳ, trước và sau thời điểm xâm phạm.
  4. Thu thập dấu vết số lượng xâm phạm: số lượng sản phẩm bày bán, lượt truy cập, lượt tải, đơn hàng, doanh thu quảng cáo.
  5. Đề nghị giám định hoặc định giá khi cần xác định mức độ giống nhau, giá trị quyền hoặc mức thiệt hại.
  6. Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ nằm trong tay bị đơn hoặc bên thứ ba, nêu rõ tài liệu cần thu thập và lý do không tự thu thập được.
Sáu bước thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại sở hữu trí tuệ, từ chứng cứ về quyền đến đề nghị Tòa án thu thập
Chủ thể quyền có thể tự thu thập hoặc đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ theo Điều 94 và Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Giám định sở hữu trí tuệ giúp ích gì khi chứng minh thiệt hại?

Giám định giúp xác định phạm vi bảo hộ, đánh giá hành vi có bị coi là xâm phạm hay không và, trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có thể bao gồm cả xác định giá trị quyền và thiệt hại. Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ để Tòa án tham khảo, không ràng buộc Tòa án.

Theo Nghị định 65/2023/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2026), nội dung giám định sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 114, và quyền yêu cầu giám định thuộc về chủ thể quyền cùng các bên liên quan tại Điều 116. Nguyên đơn có thể trực tiếp yêu cầu tổ chức giám định hoặc đề nghị Tòa án trưng cầu giám định theo Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kinh nghiệm thực tế khi chứng minh thiệt hại trong tranh chấp sở hữu trí tuệ

Khác biệt giữa vụ thắng và vụ thua thường nằm ở việc chuẩn bị chứng cứ trước khi liên hệ bị đơn, không nằm ở việc nhận diện hành vi xâm phạm. Phần này tổng hợp các tình huống điển hình, được mô tả khái quát để bảo mật thông tin khách hàng.

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, sai lầm phổ biến nhất là gửi thư yêu cầu chấm dứt vi phạm trước khi cố định chứng cứ. Sau khi nhận thư, bị đơn gỡ nội dung, xóa lịch sử bán hàng hoặc đổi tên gian hàng, khiến nguyên đơn không còn dữ liệu chứng minh số lượng và thời gian xâm phạm.

Một tình huống khác là doanh nghiệp chỉ nộp báo cáo doanh thu tổng của cả năm. Hội đồng xét xử thường yêu cầu tách doanh thu của dòng sản phẩm bị xâm phạm, so sánh với kỳ trước và giải thích các yếu tố khác như khuyến mại, mùa vụ, đối thủ khác. Khi không tách được, khoản thiệt hại dễ bị coi là không có quan hệ nhân quả.

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, chúng tôi cũng thấy nhiều chủ thể quyền chọn cách tính giá chuyển giao nhưng không có hợp đồng license nào làm cơ sở. Trường hợp này, bộ chứng cứ về giá thị trường của đối tượng tương tự, kèm kết luận định giá độc lập, thường có sức thuyết phục hơn lập luận chung chung về giá trị thương hiệu.

Những trường hợp đặc biệt khi chứng minh thiệt hại cần lưu ý gì?

Có ba nhóm trường hợp thường làm thay đổi cách chứng minh: vụ việc thụ lý trước ngày 01/4/2026, nguyên đơn không thực hiện biện pháp hạn chế thiệt hại, và bị đơn không có lợi nhuận hoặc không công khai số liệu. Mỗi nhóm cần cách xử lý riêng ngay từ đầu.

Vụ việc đã được thụ lý trước ngày 01/4/2026

Theo khoản 5 Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thông qua ngày 10/12/2025, vụ việc đã được thụ lý trước ngày luật mới có hiệu lực mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục áp dụng quy định cũ.

Do đó, mức trần ấn định vẫn là năm trăm triệu đồng và khung thiệt hại tinh thần vẫn là từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Khuyến nghị thực tiễn: nếu vụ việc đang ở giai đoạn thụ lý, không nên kỳ vọng mức trần mới. Cần đầu tư để chứng minh theo điểm a, b hoặc c khoản 1 Điều 205 nhằm vượt mức trần cũ, thay vì phụ thuộc vào mức ấn định.

Nguyên đơn không áp dụng biện pháp hạn chế thiệt hại

Theo khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, người bị thiệt hại không được bồi thường phần thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khi có điều kiện thực hiện. Với sở hữu trí tuệ, việc biết rõ hàng giả bán ra nhiều tháng mà không phản ứng có thể bị bị đơn viện dẫn.

Khuyến nghị thực tiễn: khi phát hiện xâm phạm, hãy lập biên bản nội bộ ghi ngày phát hiện, gửi yêu cầu gỡ bỏ trên nền tảng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý ngay. Các chi phí ngăn chặn thực tế, cần thiết theo khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP có thể đưa vào yêu cầu bồi thường.

Bị đơn không có lợi nhuận hoặc che giấu số liệu

Việc bị đơn báo lỗ hoặc không có sổ sách không làm mất quyền đòi bồi thường của nguyên đơn. Nguyên đơn có thể chọn điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều 205 để không phụ thuộc vào lợi nhuận của bị đơn, hoặc đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thông tin liên hệ với Luật Long Phan PMT

Nếu Quý khách cần dựng bộ chứng cứ về thiệt hại, chọn căn cứ tính bồi thường hoặc phản biện yêu cầu bồi thường trong tranh chấp sở hữu trí tuệ, hãy liên hệ để luật sư rà soát hồ sơ của Quý khách.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư tư vấn xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ.

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Muốn kiểm tra bộ chứng cứ của mình còn thiếu gì? Hãy gửi Luật Long Phan PMT danh mục tài liệu hiện có về quyền, hành vi xâm phạm và số liệu kinh doanh để được rà soát điểm yếu trước khi nộp đơn khởi kiện..

Câu hỏi thường gặp về chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ

Các câu hỏi dưới đây phản ánh những băn khoăn mà chủ thể quyền và doanh nghiệp bị đòi bồi thường thường nêu ra trong quá trình tư vấn. Mỗi câu trả lời nêu căn cứ pháp lý đã đối chiếu với quy định hiện hành tính đến ngày 10/10/2026.

1. Ai có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại trong tranh chấp sở hữu trí tuệ?

Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại trong tranh chấp sở hữu trí tuệ. Theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi phải cung cấp chứng cứ chứng minh yêu cầu có căn cứ. Đồng thời, khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 yêu cầu nguyên đơn chứng minh hành vi xâm phạm đã gây ra thiệt hại để làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

2. Không chứng minh được thiệt hại cụ thể thì có được bồi thường không?

Có thể được bồi thường nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật, nhưng mức bồi thường do Tòa án ấn định. Theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, trường hợp không thể xác định mức bồi thường theo các căn cứ khác, Tòa án quyết định mức bồi thường tùy thuộc mức độ thiệt hại, tối đa 01 tỷ đồng từ ngày 01/4/2026. Đối với vụ việc thụ lý trước thời điểm này, mức trần được nêu là 500 triệu đồng.

3. Có phải chứng minh thiệt hại tinh thần không?

Có. Nguyên đơn phải chứng minh hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra thiệt hại tinh thần nếu yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại này. Theo khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Tòa án có thể quyết định mức bồi thường từ 10 lần đến 100 lần mức lương cơ sở. Chứng cứ có thể bao gồm tài liệu chứng minh danh dự, uy tín hoặc nhân phẩm bị ảnh hưởng bởi hành vi xâm phạm.

4. Vi bằng có đủ để chứng minh hành vi xâm phạm không?

Vi bằng có thể được sử dụng làm nguồn chứng cứ hợp pháp nhưng không đương nhiên đủ để chứng minh toàn bộ hành vi xâm phạm. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xem xét các nguồn chứng cứ và đánh giá trong mối liên hệ với những tài liệu khác. Vì vậy, nên kết hợp vi bằng với hóa đơn mua hàng, dữ liệu điện tử, tài liệu giao dịch và kết luận giám định khi cần thiết.

5. Có thể yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ từ bị đơn không?

Có. Đương sự có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ khi không thể tự mình thu thập. Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thể thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định, bao gồm yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu hoặc ủy thác thu thập chứng cứ. Đơn đề nghị cần xác định rõ tài liệu cần thu thập và lý do không thể tự thu thập.

6. Chi phí thuê luật sư có được bị đơn trả không?

Có thể được thanh toán nếu chi phí thuê luật sư là hợp lý và đáp ứng điều kiện pháp luật. Theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Tòa án có thể buộc bên xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư, ngoài khoản bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần. Nguyên đơn cần lưu giữ hợp đồng dịch vụ pháp lý, hóa đơn và chứng từ thanh toán để chứng minh khoản chi phí yêu cầu.

Kết luận

Chứng minh thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ đòi hỏi chủ thể quyền chọn đúng căn cứ tại Điều 205, thu thập chứng cứ có hệ thống và nêu rõ từng khoản thiệt hại theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP. Mức trần một tỷ đồng chỉ là phương án cuối khi không đủ dữ liệu. Nếu bạn đang cần đánh giá khả năng chứng minh thiệt hại, chọn phương án tính bồi thường hoặc ứng phó khi bị đòi bồi thường, Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ qua hotline 1900636387. Việc rà soát bộ chứng cứ sớm thường giúp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí tố tụng.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025).
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019 – 2025)
  • Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP
  • Nghị định 65/2023/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung 2026)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , ,

Nguyễn Thị Huyền Trang

Luật sư Nguyễn Thị Huyền Trang là Luật sư Cộng sự tại Luật Long Phan PMT, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Với kinh nghiệm hơn 10 năm trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp đầu tư cho các tập đoàn lớn và doanh nghiệp FDI, Luật sư Trang luôn cam kết mang đến những giá trị pháp lý tốt nhất cho khách hàng. Làm việc với phương châm đặt lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp lên trên, Luật sư Trang đã và đang nhận được nhiều phản hồi tích cực từ những khách hàng, đối tác của mình.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87