Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều bị cáo, bị hại và đương sự không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm nhưng lúng túng khi xác định căn cứ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm cũng như ai có quyền thực hiện, thời hạn bao lâu và nộp đơn ở đâu cho đúng quy định về thủ tục tố tụng hình sự. Việc bỏ lỡ thời hạn hoặc nộp đơn sai thẩm quyền có thể khiến bản án sơ thẩm phát sinh hiệu lực thi hành ngay cả khi còn tình tiết chưa được làm rõ. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể chủ thể có quyền kháng cáo, phạm vi, thời hạn, thủ tục và những rủi ro thường gặp trên thực tế.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Chỉ 06 nhóm chủ thể quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 mới có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm.
- Thời hạn kháng cáo là 15 ngày đối với bản án và 07 ngày đối với quyết định sơ thẩm, tính theo mốc thời gian riêng cho từng trường hợp.
- Từ ngày 01/7/2025, mô hình tổ chức Tòa án thay đổi khiến Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh cùng có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự tùy loại tội phạm, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định Tòa án cấp phúc thẩm.
- Phần bản án, quyết định bị kháng cáo chưa được đưa ra thi hành cho đến khi có bản án, quyết định phúc thẩm.
Chủ thể có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm
Không phải ai liên quan đến vụ án cũng có quyền kháng cáo; pháp luật giới hạn quyền này cho từng nhóm chủ thể gắn với quyền lợi cụ thể bị ảnh hưởng bởi bản án sơ thẩm. Xác định đúng tư cách của mình là điều kiện tiên quyết trước khi soạn đơn kháng cáo.
Quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp
Theo khoản 1 Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị cáo, bị hại và người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Đây là nhóm chủ thể phổ biến nhất trên thực tế: bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc kêu oan, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại. Người đại diện hợp pháp thực hiện quyền kháng cáo thay khi bị cáo hoặc bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng.
Quyền kháng cáo của người bào chữa, nguyên đơn, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 mở rộng quyền kháng cáo cho ba nhóm chủ thể còn lại. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình. Ngoài ra, người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội cũng có quyền kháng cáo về căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định họ không có tội, nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm của mình trong trường hợp không đồng ý với lý do được tuyên vô tội.
Lưu ý người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đúng phần bản án ảnh hưởng đến mình, không được kháng cáo phần trách nhiệm hình sự của bị cáo. Việc xác định sai phạm vi kháng cáo theo tư cách tố tụng là nguyên nhân khiến đơn kháng cáo bị Tòa án yêu cầu làm rõ hoặc không được xem xét đối với phần vượt quá quyền của người kháng cáo.
Đối tượng và phạm vi kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm
Đối tượng bị kháng cáo chỉ có thể là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; người kháng cáo có quyền lựa chọn kháng cáo toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án. Việc xác định đúng phạm vi kháng cáo quyết định giới hạn xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm sau này.
Kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm
Người kháng cáo có thể yêu cầu xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, bao gồm cả phần tội danh, hình phạt lẫn phần dân sự trong vụ án hình sự, khi có căn cứ cho rằng toàn bộ quá trình xét xử sơ thẩm chưa đánh giá đúng bản chất vụ việc theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Kháng cáo một phần bản án về hình phạt, phần dân sự hoặc tội danh
Theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Do đó, bị cáo có thể chỉ kháng cáo phần hình phạt để xin giảm nhẹ trong khi giữ nguyên phần xác định tội danh, hoặc bị hại chỉ kháng cáo phần bồi thường thiệt hại mà không kháng cáo phần hình phạt áp dụng đối với bị cáo.
Người kháng cáo cân nhắc kỹ phạm vi kháng cáo ngay từ đầu, vì Tòa án cấp phúc thẩm về nguyên tắc không xem xét phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến nội dung đã kháng cáo, kháng nghị.
Thời hạn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là bao lâu?
Thời hạn kháng cáo được tính khác nhau tùy đối tượng bị kháng cáo là bản án hay quyết định sơ thẩm, và khác nhau tùy việc bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa hay không. Bỏ lỡ thời hạn này khiến việc kháng cáo phải xử lý theo thủ tục kháng cáo quá hạn, phức tạp và không chắc chắn được chấp nhận.
Cách tính thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo trong từng trường hợp
Theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 99/2025/QH15), thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Riêng đối với quyết định sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định đó.
Ngày kháng cáo được xác định theo cách thức gửi đơn: nếu gửi qua dịch vụ bưu chính, ngày kháng cáo tính theo dấu bưu chính nơi gửi; nếu gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam, ngày kháng cáo là ngày cơ quan này nhận được đơn; nếu nộp trực tiếp, ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn hoặc lập biên bản về việc kháng cáo.
Kháng cáo quá hạn và điều kiện được chấp nhận xem xét
Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan khiến người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định. Người kháng cáo quá hạn phải nêu rõ lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu chứng minh lý do nộp đơn quá hạn là chính đáng để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.
Lưu ý đây là trường hợp ngoại lệ, không phải quyền đương nhiên; việc chứng minh lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan trên thực tế đòi hỏi tài liệu cụ thể (giấy tờ y tế, xác nhận thiên tai, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền…). Do đó, người kháng cáo nên chủ động nộp đơn trong thời hạn luật định thay vì trông chờ vào khả năng được chấp nhận kháng cáo quá hạn.

Thủ tục và hình thức thực hiện kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm như thế nào?
Người kháng cáo có thể lựa chọn giữa việc gửi đơn kháng cáo hoặc trình bày trực tiếp tại Tòa án, miễn bảo đảm đầy đủ nội dung theo quy định. Việc chuẩn bị đúng thủ tục ngay từ đầu giúp tránh bị Tòa án yêu cầu bổ sung, làm rõ, kéo dài thời gian xử lý.
Nội dung bắt buộc của đơn kháng cáo
Theo khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), đơn kháng cáo phải có các nội dung chính gồm ngày, tháng, năm làm đơn; họ tên, địa chỉ của người kháng cáo; lý do và yêu cầu của người kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn. Đơn kháng cáo có thể kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung để chứng minh tính có căn cứ của yêu cầu kháng cáo.
Nơi nộp và cách thức gửi đơn kháng cáo
Theo khoản 1 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Đơn có thể gửi trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính; trường hợp bị cáo đang bị tạm giam thì Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam có trách nhiệm bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Trình bày kháng cáo trực tiếp và lập biên bản tại Tòa án
Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo; trong trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Khoản 1 Điều 332, Điều 132, Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo Điều 334 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nếu Tòa án cấp phúc thẩm là nơi nhận đơn hoặc lập biên bản kháng cáo thì phải gửi lại đơn hoặc biên bản đó cho Tòa án cấp sơ thẩm để xử lý theo trình tự chung.

Tòa án nào có thẩm quyền tiếp nhận và xét xử phúc thẩm theo mô hình tổ chức hiện hành?
Nơi tiếp nhận đơn kháng cáo luôn là Tòa án đã xét xử sơ thẩm, nhưng Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm hiện được xác định theo cấp Tòa án đã ra bản án sơ thẩm, phù hợp với mô hình tổ chức Tòa án hai cấp áp dụng từ ngày 01/7/2025.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân hoặc tử hình, cùng một số loại vụ án phức tạp, có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến người có chức vụ theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC.
Xác định Tòa án cấp phúc thẩm tương ứng với bản án sơ thẩm
Theo Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.
Bảng tổng hợp Tòa án có thẩm quyền theo cấp xét xử sơ thẩm:
| Bản án sơ thẩm do | Tòa án cấp phúc thẩm | Căn cứ pháp lý |
| Tòa án nhân dân khu vực | Tòa án nhân dân cấp tỉnh | Khoản 1 Điều 344 BLTTHS 2015 (sửa đổi 2025) |
| Tòa án nhân dân cấp tỉnh | Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao | Khoản 2 Điều 344 BLTTHS 2015 (sửa đổi 2025) |
Lưu ý: người kháng cáo không cần tự xác định và ghi tên Tòa án cấp phúc thẩm trong đơn; đơn kháng cáo vẫn nộp tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Tòa án này có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến đúng cấp phúc thẩm tương ứng. Tuy nhiên, việc nắm được cấp Tòa án sẽ giải quyết phúc thẩm giúp người kháng cáo chủ động theo dõi tiến độ xử lý vụ án.
Kháng cáo hợp lệ dẫn đến hệ quả pháp lý gì?
Khi có kháng cáo hợp lệ, phần bản án, quyết định bị kháng cáo tạm thời chưa phát sinh hiệu lực thi hành, đồng thời vụ án phải được chuyển cho Tòa án cấp phúc thẩm để thụ lý giải quyết theo trình tự riêng.
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo chưa phát sinh hiệu lực thi hành
Theo Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những phần của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 Bộ luật này (bản án tử hình được thi hành theo trình tự riêng). Nếu kháng cáo đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định đó chưa được đưa ra thi hành.
Trách nhiệm chuyển hồ sơ và thụ lý vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm
Theo Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án ngay sau khi nhận được hồ sơ theo Điều 340 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đồng thời có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu theo Điều 341 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 trước khi mở phiên tòa phúc thẩm.
Có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không?
Người kháng cáo không bị ràng buộc tuyệt đối vào nội dung đơn đã nộp; pháp luật cho phép điều chỉnh kháng cáo trong một giới hạn nhất định trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án, quyết định.
Theo Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nếu đã hết thời hạn kháng cáo; người kháng cáo cũng có quyền rút toàn bộ hoặc một phần kháng cáo. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa phải lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm; việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
Lưu ý ngoại lệ: người kháng cáo chỉ được bổ sung kháng cáo vượt phạm vi ban đầu trong trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; sau khi hết thời hạn này, việc bổ sung kháng cáo chỉ được thực hiện trong phạm vi kháng cáo đã có. Do đó, người kháng cáo nên trình bày đầy đủ, rõ ràng các yêu cầu ngay từ đơn kháng cáo đầu tiên để tránh bị giới hạn quyền bổ sung sau này.
Rủi ro cần lưu ý khi thực hiện quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm
Việc thực hiện quyền kháng cáo trên thực tế phát sinh một số rủi ro khiến kháng cáo không đạt được mục đích mong muốn, dù về hình thức đơn đã được nộp đúng thời hạn.
Rủi ro mất quyền kháng cáo do bỏ lỡ thời hạn
Bỏ lỡ thời hạn 15 ngày đối với bản án hoặc 07 ngày đối với quyết định sơ thẩm theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khiến người kháng cáo phải chứng minh lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 mới có cơ hội được xem xét kháng cáo quá hạn. Trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng chứng minh được lý do chính đáng, dẫn đến việc mất quyền kháng cáo theo thủ tục thông thường.
Rủi ro nộp đơn không đúng nơi tiếp nhận theo mô hình tổ chức Tòa án hiện hành
Theo Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đơn kháng cáo vẫn phải gửi đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm; việc mô hình tổ chức Tòa án thay đổi từ cấp huyện, cấp tỉnh sang Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khiến một số người kháng cáo nhầm lẫn về tên gọi, địa chỉ Tòa án cần gửi đơn, nhất là khi vụ án được xét xử tại địa bàn mới sáp nhập.
Người kháng cáo kiểm tra chính xác tên Tòa án đã xét xử sơ thẩm được ghi trong bản án, quyết định để gửi đơn đúng địa chỉ, tránh trường hợp đơn bị chuyển lòng vòng làm ảnh hưởng đến thời hạn.
Rủi ro nội dung kháng cáo thiếu căn cứ thuyết phục Hội đồng xét xử phúc thẩm
Theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm, hoặc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại. Theo Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo (miễn trách nhiệm hình sự, giảm hình phạt, chuyển sang hình phạt nhẹ hơn, cho hưởng án treo…) chỉ được thực hiện khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm tuyên chưa đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc xuất hiện tình tiết mới.
Do đó, đơn kháng cáo chỉ nêu chung chung “không đồng ý với bản án” mà không chỉ rõ căn cứ, chứng cứ cụ thể thường khó thuyết phục Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ bị cáo, bị hại và đương sự trong các vụ việc kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm với các công việc sau:
- Rà soát bản án, quyết định sơ thẩm và đối chiếu với hồ sơ vụ án để xác định căn cứ kháng cáo có cơ sở.
- Đánh giá tư cách tố tụng và phạm vi kháng cáo phù hợp với quyền lợi của khách hàng.
- Soạn thảo đơn kháng cáo bảo đảm đúng nội dung, thời hạn và nơi nộp theo quy định.
- Thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.
- Đại diện hoặc tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng tại phiên tòa phúc thẩm.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về căn cứ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về căn cứ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và văn bản hướng dẫn liên quan.
1. Ai có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm?
Theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền kháng cáo gồm bị cáo, bị hại, người đại diện của họ, người bào chữa (trong phạm vi bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm tâm thần, thể chất), nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người được tuyên không có tội. Mỗi nhóm chủ thể chỉ được kháng cáo trong phạm vi quyền lợi liên quan trực tiếp đến mình.
2. Thời hạn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là bao nhiêu ngày?
Theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bản án sơ thẩm và 07 ngày kể từ ngày nhận quyết định đối với quyết định sơ thẩm. Trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp pháp.
3. Đơn kháng cáo nộp ở đâu?
Theo khoản 1 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người kháng cáo gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm là nơi tiếp nhận phổ biến nhất trên thực tế, sau đó có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm theo đúng thẩm quyền tương ứng với cấp Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
4. Kháng cáo quá thời hạn có được chấp nhận không?
Theo Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, kháng cáo quá hạn vẫn có thể được xem xét chấp nhận nếu người kháng cáo chứng minh được lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến họ không thể kháng cáo đúng thời hạn. Người kháng cáo cần nộp kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh lý do quá hạn để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.
5. Bản án bị kháng cáo có được thi hành ngay không?
Theo Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, phần bản án, quyết định bị kháng cáo chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 Bộ luật này về thi hành án tử hình. Việc thi hành án chỉ được thực hiện sau khi có bản án, quyết định phúc thẩm hoặc khi phần bản án đó không bị kháng cáo, kháng nghị.
6. Có được rút kháng cáo sau khi đã nộp đơn không?
Theo Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người kháng cáo có quyền rút toàn bộ hoặc một phần kháng cáo trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Việc rút kháng cáo trước phiên tòa phải lập thành văn bản gửi Tòa án cấp phúc thẩm; nếu rút tại phiên tòa thì được ghi vào biên bản phiên tòa.
7. Tòa án nào xét xử phúc thẩm bản án của Tòa án nhân dân khu vực?
Theo khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp bản án sơ thẩm do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử thì thẩm quyền phúc thẩm thuộc về Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao theo khoản 2 Điều 344 Bộ luật này.
Kết luận
Xác định đúng căn cứ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm, tư cách chủ thể, phạm vi và thời hạn kháng cáo là điều kiện quyết định để quyền lợi của bị cáo, bị hại hay đương sự được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét đầy đủ. Việc chuẩn bị đơn kháng cáo đúng nội dung, nộp đúng nơi và trong thời hạn luật định giúp tránh những rủi ro pháp lý không đáng có, đặc biệt trong bối cảnh mô hình tổ chức Tòa án đã có nhiều thay đổi từ năm 2025. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát bản án và tư vấn phương án kháng cáo phù hợp; quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: đơn kháng cáo hình sự, hồ sơ kháng cáo bản án hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm, Kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm, Kháng cáo quá hạn, luật sư kháng cáo hình sự, phạm vi kháng cáo bản án hình sự, quyền kháng cáo của bị cáo, quyền kháng cáo của bị hại, sửa bản án hình sự sơ thẩm, Thời hạn kháng cáo hình sự, thủ tục kháng cáo vụ án hình sự

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.