Làm giả giấy tờ rồi đem công chứng có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với người trực tiếp tạo ra giấy tờ giả, người biết rõ giấy tờ là giả nhưng vẫn sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật và cả những người cùng cố ý tham gia nếu đủ dấu hiệu đồng phạm. Nếu giấy tờ giả được sử dụng làm thủ đoạn để chiếm đoạt tiền, quyền sử dụng đất hoặc tài sản khác, người thực hiện còn có thể bị xem xét về tội xâm phạm sở hữu tương ứng. Bên cạnh trách nhiệm hình sự, giao dịch được xác lập trên cơ sở giấy tờ giả còn có thể phát sinh tranh chấp về hiệu lực, hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT sẽ giúp Quý khách hiểu rõ.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Làm giả giấy tờ và sử dụng giấy tờ giả để yêu cầu công chứng đều có thể bị xử lý hình sự theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, dù chưa gây ra thiệt hại thực tế.
- Nếu giấy tờ giả được dùng làm thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, người thực hiện có thể bị truy cứu đồng thời tội làm giả giấy tờ và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Hợp đồng công chứng dựa trên giấy tờ giả có thể bị tuyên vô hiệu, kéo theo nghĩa vụ hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại.
- Người thứ ba ngay tình nhận chuyển giao tài sản từ giao dịch vô hiệu vẫn có thể được pháp luật bảo vệ nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định.
Làm giả giấy tờ rồi đem công chứng có thể bị xử lý về tội gì?
Tội danh phụ thuộc vào vai trò của từng người và mục đích cuối cùng của việc làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả. Trong một vụ việc, có thể chỉ phát sinh Điều 341, nhưng cũng có trường hợp Điều 341 đi kèm một tội phạm độc lập khác.
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Người trực tiếp tạo ra con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức có thể bị truy cứu theo Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.
Khoản 1 Điều 341 áp dụng khung cơ bản. Khi số lượng tài liệu, số lần thực hiện hoặc các tình tiết khác tăng lên, có thể chuyển sang khoản 2 hoặc khoản 3.
Chẳng hạn, điểm c khoản 2 Điều 341 áp dụng đối với trường hợp làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; trong khi điểm a khoản 3 Điều 341 áp dụng khi làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên.
Do đó, trong vụ án có nhiều Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, nhiều giấy ủy quyền giả hoặc nhiều giấy tờ nhân thân giả, số lượng tài liệu thực tế là yếu tố cần xác định chính xác vì có thể tác động trực tiếp đến khung hình phạt.
Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Người không trực tiếp tạo ra giấy tờ nhưng biết tài liệu là giả và sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu về hành vi sử dụng tài liệu giả theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.
Ví dụ, A mua một giấy tờ giả do B làm sẵn, sau đó A sử dụng để thực hiện một giao dịch công chứng trái pháp luật. Nếu có đủ chứng cứ A biết rõ tính giả của tài liệu, việc A không trực tiếp in, ký hoặc đóng dấu giả không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự về hành vi sử dụng tài liệu giả.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã có giải đáp về trường hợp người mua bằng giả và sử dụng tài liệu đó trong hồ sơ, cho thấy người sử dụng vẫn có thể bị xem xét Điều 341 nếu đủ các dấu hiệu luật định.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Nếu giấy tờ giả được sử dụng làm thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, cần xem xét Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.
Dấu hiệu đặc trưng của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối có trước hoặc diễn ra đồng thời với việc người bị hại giao tài sản. Chính sự gian dối làm người bị hại nhận thức sai sự thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Theo khoản 1 Điều 174, về nguyên tắc tội phạm được đặt ra đối với tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp đặc biệt mà khoản này liệt kê.
Ví dụ, nếu một người sử dụng sổ đỏ giả làm người mua tin rằng họ là chủ sử dụng đất hợp pháp, từ đó người mua chuyển tiền đặt cọc hoặc tiền mua đất, hành vi có thể được xem xét theo Điều 174 nếu chứng minh được ý thức chiếm đoạt và các dấu hiệu cấu thành.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 không áp dụng chỉ vì trong vụ việc có giấy tờ giả. Điểm khác biệt quan trọng nằm ở cách người phạm tội ban đầu có được tài sản.
Khoản 1 Điều 175 áp dụng đối với trường hợp người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản thông qua hình thức hợp đồng, sau đó thực hiện một trong các hành vi luật quy định, như:
- Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt;
- Đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
- Hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại.
Do đó:
Gian dối từ đầu để người bị hại giao tài sản → cần ưu tiên xem xét Điều 174.
Nhận tài sản hợp pháp trước, sau đó mới phát sinh hành vi chiếm đoạt theo luật → cần xem xét Điều 175. Không được lựa chọn Điều 174 hoặc Điều 175 chỉ dựa vào việc có sử dụng giấy tờ giả.

Khung hình phạt đối với hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả
Khung hình phạt Điều 341 được phân thành ba mức chính dựa trên tính chất, số lần thực hiện, số lượng tài liệu, mục đích sử dụng và khoản thu lợi bất chính.
Khung hình phạt cơ bản theo khoản 1 Điều 341
Theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, người làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, có thể bị áp dụng một trong các hình phạt:
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
- Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Đây là khung hình phạt cơ bản, thường được xem xét khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa xuất hiện các tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 341.
Điểm cần lưu ý là Điều 341 không quy định cứ bị kết tội thì bắt buộc phải chịu hình phạt tù. Trong phạm vi khoản 1, pháp luật cho phép Tòa án lựa chọn giữa phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Việc áp dụng hình phạt cụ thể còn phụ thuộc vào toàn bộ diễn biến vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Ví dụ, trong vụ việc liên quan đến giấy tờ được đưa đi công chứng, cần xác định người đó trực tiếp làm giả giấy tờ hay chỉ nhận và sử dụng giấy tờ do người khác làm giả. Đối với người sử dụng, còn phải làm rõ họ có biết tài liệu là giả hay không và việc sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật nào. Đây là những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm hình sự.
Khung tăng nặng từ 02 năm đến 05 năm tù
Mức độ trách nhiệm hình sự tăng lên khi hành vi thuộc một trong các tình tiết định khung được quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có tổ chức: hành vi được thực hiện dưới hình thức đồng phạm có sự cấu kết, phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện;
- Phạm tội 02 lần trở lên: người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần trở lên và đáp ứng điều kiện áp dụng tình tiết này;
- Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác: số lượng tài liệu được làm giả là căn cứ trực tiếp để xác định khung hình phạt;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, một vụ việc ban đầu có thể được xem xét theo khoản 1 nhưng sẽ chuyển sang khoản 2 nếu cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được một trong các tình tiết định khung nêu trên.
Đặc biệt, đối với trường hợp có nhiều người cùng tham gia làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả để công chứng, không phải cứ có từ hai người tham gia thì mặc nhiên được xác định là “có tổ chức”. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải đánh giá mối quan hệ đồng phạm, sự bàn bạc, phân công và mức độ phối hợp giữa những người thực hiện.
Tương tự, đối với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, cần xác định chính xác từng lần thực hiện hành vi, thời điểm thực hiện và tính độc lập của từng hành vi. Không nên chỉ dựa vào số lượng giấy tờ xuất hiện trong hồ sơ để đồng nhất với số lần phạm tội.
Khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù
Khoản 3 Điều 341 quy định khung hình phạt nghiêm khắc nhất của tội danh này, với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Khung hình phạt này được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp:
- Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên.
So với khoản 2, khoản 3 thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn, đặc biệt về số lượng giấy tờ bị làm giả, tính chất của tội phạm được thực hiện thông qua tài liệu giả hoặc số tiền thu lợi bất chính.
Thực tiễn xử lý cũng cho thấy số lượng tài liệu giả có thể là căn cứ quan trọng để xác định khoản áp dụng. Chẳng hạn, cơ quan điều tra từng khởi tố hành vi làm giả với số lượng lớn theo điểm a khoản 3 Điều 341.
Trường hợp sử dụng giấy tờ giả để thực hiện một tội phạm khác
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là việc sử dụng giấy tờ giả có thể không dừng lại ở trách nhiệm theo Điều 341. Nếu tài liệu giả được sử dụng như một phương tiện để thực hiện một tội phạm độc lập khác và hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành của tội đó, người thực hiện có thể còn bị xem xét trách nhiệm hình sự đối với tội phạm tương ứng.
Nguyên tắc này đã được thể hiện trong hướng dẫn áp dụng pháp luật ở một số lĩnh vực: khi một người vừa thực hiện hành vi phạm tội khác, vừa làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả và mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, trách nhiệm theo Điều 341 có thể được xem xét đồng thời với tội phạm liên quan.
Đối với trường hợp làm giả giấy tờ rồi đem công chứng, vì vậy cần làm rõ mục đích cuối cùng của việc công chứng. Nếu giấy tờ giả chỉ được sử dụng để thực hiện một thủ tục trái pháp luật thì việc đánh giá sẽ khác với trường hợp người thực hiện dùng giấy tờ giả nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc thực hiện một tội phạm khác.
Hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Đây là hình phạt bổ sung nên không phải mọi trường hợp phạm tội theo Điều 341 đều mặc nhiên phải chịu khoản tiền này. Tòa án sẽ xem xét việc áp dụng căn cứ vào từng vụ án cụ thể.
Cũng cần phân biệt hình phạt tiền tại khoản 4 với hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng tại khoản 1. Ở khoản 1, phạt tiền là một trong các hình phạt chính mà Tòa án có thể lựa chọn; còn khoản 4 quy định khoản tiền có thể được áp dụng với tư cách hình phạt bổ sung.
Căn cứ xác định mức hình phạt cụ thể trong từng vụ án
Việc xác định người phạm tội thuộc khoản 1, khoản 2 hay khoản 3 Điều 341 mới chỉ là bước xác định khung hình phạt. Mức án cụ thể trong khung còn phải được Tòa án quyết định trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án.
Trong vụ việc làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả để công chứng, các vấn đề thường cần được làm rõ gồm:
- Ai là người trực tiếp tạo ra tài liệu giả;
- Ai cung cấp thông tin hoặc tài liệu để làm giả;
- Ai biết rõ tài liệu là giả nhưng vẫn sử dụng;
- Có bao nhiêu tài liệu, giấy tờ bị làm giả;
- Hành vi được thực hiện một lần hay nhiều lần;
- Có sự bàn bạc, tổ chức hoặc phân công giữa nhiều người hay không;
- Tài liệu giả được sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật nào;
- Có phát sinh khoản thu lợi bất chính hay không;
- Việc sử dụng tài liệu giả có nhằm thực hiện một tội phạm khác hay không;
- Vai trò, mức độ tham gia của từng người trong trường hợp có đồng phạm;
- Nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào việc một giấy tờ được xác định là giả để kết luận ngay người liên quan phải chịu mức án bao nhiêu. Cần đối chiếu toàn bộ hành vi thực tế với từng dấu hiệu cấu thành và từng tình tiết định khung tại Điều 341. Việc xác định đúng hành vi “làm giả”, “sử dụng tài liệu giả”, số lần thực hiện, số lượng tài liệu và mục đích sử dụng có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định tội danh, khung hình phạt và trách nhiệm của từng người.
Dùng giấy tờ giả để chiếm đoạt tài sản xử lý như thế nào?
Khi giấy tờ giả được sử dụng để chiếm đoạt tài sản, vấn đề pháp lý không chỉ là Điều 341 mà phải xác định chính xác cơ chế chiếm đoạt.
Phân biệt Điều 174 và Điều 175
Điểm phân biệt trọng tâm là thời điểm và phương thức hình thành ý định chiếm đoạt.
Đối với Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối khiến người bị hại tin vào thông tin không đúng sự thật và vì sự gian dối đó mà giao tài sản.
Ví dụ:
- Giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi bán đất không thuộc quyền của mình;
- Giả giấy ủy quyền để nhận tiền chuyển nhượng;
- Giả giấy tờ nhân thân để giả danh chủ sở hữu và nhận tiền.
Nếu thủ đoạn gian dối đã tồn tại trước khi người bị hại giao tiền thì Điều 174 là tội danh cần được xem xét.
Đối với Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội ban đầu nhận tài sản thông qua quan hệ hợp pháp như vay, mượn, thuê hoặc hợp đồng, sau đó mới thực hiện hành vi chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 175.
Vì vậy, không thể dùng cụm từ chung “dùng giấy tờ giả chiếm đoạt” rồi áp dụng đồng thời cả Điều 174 và Điều 175 cho cùng một hành vi chiếm đoạt.
Mức hình phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản
Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015:
- Khoản 1: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm;
- Khoản 2: tù từ 02 năm đến 07 năm;
- Khoản 3: tù từ 07 năm đến 15 năm;
- Khoản 4: tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Khoản 4 Điều 174 hiện áp dụng, trong đó có trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Khoản 5 Điều 174 còn quy định hình phạt bổ sung: có thể phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.
Lưu ý: Luật 86/2025/QH15 không sửa Điều 174. Vì vậy mức cao nhất hiện vẫn có thể là tù chung thân, không phải chỉ 20 năm tù.
Đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015:
- Khoản 1: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm;
- Khoản 2: tù từ 02 năm đến 07 năm;
- Khoản 3: tù từ 05 năm đến 12 năm;
- Khoản 4: tù từ 12 năm đến 20 năm khi thuộc trường hợp luật định, trong đó có hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên.
Khoản 5 Điều 175 còn cho phép áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu tài sản trong phạm vi luật quy định.
Có thể xử lý thêm Điều 341 không?
Có thể, nếu hành vi làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả và hành vi chiếm đoạt tài sản đều độc lập thỏa mãn cấu thành tội phạm tương ứng.
Ví dụ, một người làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó sử dụng tài liệu này để làm người khác tin tưởng và giao một khoản tiền nhằm chiếm đoạt. Nếu chứng cứ chứng minh đầy đủ cả hai nhóm hành vi, cơ quan tố tụng có thể xem xét:
- Điều 341 đối với việc làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả;
- Điều 174 đối với hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao từng lưu ý trường hợp sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ xử lý Điều 174 mà bỏ sót Điều 341 có thể dẫn đến bỏ lọt hành vi xâm phạm khách thể độc lập.
Nếu bị xét xử về cả hai tội, Tòa án quyết định hình phạt riêng cho từng tội và tổng hợp theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015.
>>>> Xem thêm: Trách nhiệm bồi thường thuộc về ai khi giấy tờ giả mạo được công chứng?
Hợp đồng công chứng dựa trên giấy tờ giả có bị vô hiệu không?
Không nên kết luận theo công thức “có giấy tờ giả = hợp đồng đương nhiên vô hiệu” mà phải xác định căn cứ vô hiệu cụ thể.
Căn cứ xem xét giao dịch vô hiệu
Theo khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện về:
- Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp;
- Chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Khoản 2 Điều 117 còn quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực khi luật có quy định.
Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch không có một trong các điều kiện tại Điều 117 thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác.
Trong vụ việc sử dụng giấy tờ giả, cần làm rõ:
- Người ký có đúng là chủ sở hữu hoặc người có quyền định đoạt không;
- Có giả mạo người có quyền hay không;
- Có giả mạo chữ ký không;
- Một bên có bị lừa dối khi xác lập giao dịch không;
- Người ký có đúng phạm vi ủy quyền không;
- Tài sản có đủ điều kiện giao dịch hay không;
- Nội dung giao dịch có vi phạm điều cấm không.
Tùy kết quả, ngoài Điều 117 và Điều 122, có thể phải đối chiếu thêm các điều khoản về giao dịch vô hiệu do giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối hoặc vi phạm điều cấm tương ứng với tình tiết của vụ án.
Người thứ ba ngay tình có được bảo vệ không?
Việc bảo vệ người thứ ba ngay tình thực hiện theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 và không áp dụng giống nhau đối với mọi loại tài sản.
Theo khoản 1 Điều 133, nếu giao dịch ban đầu vô hiệu nhưng đối tượng là tài sản không phải đăng ký và đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba có thể vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp Điều 167 Bộ luật Dân sự quy định.
Đối với tài sản phải đăng ký, khoản 2 Điều 133 quy định: nếu tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó để xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch sau có thể không bị vô hiệu.
Ngược lại, nếu tài sản phải đăng ký nhưng chưa đăng ký theo luật thì giao dịch với người thứ ba về nguyên tắc bị vô hiệu, trừ các ngoại lệ mà chính khoản 2 Điều 133 quy định.
Vì vậy, đối với đất đai, nhà ở hoặc tài sản đăng ký quyền sở hữu, không nên viết đơn giản rằng “người thứ ba ngay tình luôn được bảo vệ”.
Hậu quả khi giao dịch bị vô hiệu
Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch bị tuyên vô hiệu:
- Giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự kể từ thời điểm xác lập;
- Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu;
- Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận;
- Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền;
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức;
- Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Do đó, trong giao dịch nhà đất có giấy tờ giả, việc giải quyết không chỉ dừng ở tuyên hợp đồng vô hiệu mà còn phải xác định ai đang quản lý tài sản, ai đã nhận tiền, bên nào có lỗi, tài sản đã chuyển sang người thứ ba hay chưa và có căn cứ bảo vệ người thứ ba ngay tình hay không.
>>> Xem thêm: Thủ tục khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Xử phạt hành chính khi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Từ ngày 18/5/2026, Nghị định 109/2026/NĐ-CP là văn bản mới quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có công chứng. Nghị định được ban hành ngày 01/4/2026.
Khi hành vi chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự, cần xác định chính xác hành vi cụ thể tại Điều 14 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, thay vì dùng một mức phạt chung cho mọi trường hợp “giấy tờ giả”.
Các nhóm hành vi đáng lưu ý gồm:
- Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ hoặc sử dụng giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa để yêu cầu công chứng;
- Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật;
- Giả mạo người yêu cầu công chứng;
- Giả mạo chữ ký;
- Nhờ hoặc thuê người khác giả mạo;
- Thực hiện các hành vi gian dối khác trong hoạt động công chứng.
Mức phạt được phân theo từng khoản Điều 14, không thể gom tất cả vào một mức duy nhất.
Đồng thời, cần lưu ý nguyên tắc: nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì trách nhiệm hình sự được xem xét theo Bộ luật Hình sự; không thể chỉ áp dụng xử phạt hành chính để thay thế trách nhiệm hình sự.
Dịch vụ luật sư tư vấn, giải quyết vụ việc làm giả giấy tờ và sử dụng giấy tờ giả để công chứng
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến làm giả giấy tờ rồi đem công chứng với các công việc:
- Rà soát giấy tờ có dấu hiệu giả mạo;
- Kiểm tra hồ sơ công chứng và nguồn gốc tài liệu;
- Xác định giấy tờ có thuộc đối tượng của Điều 341 Bộ luật Hình sự hay không;
- Đánh giá dấu hiệu hành vi làm giả;
- Đánh giá dấu hiệu sử dụng tài liệu giả;
- Phân tích yếu tố “thực hiện hành vi trái pháp luật” tại khoản 1 Điều 341;
- Xác định khung hình phạt tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 341;
- Phân tích khả năng áp dụng Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự;
- Xác định vai trò của từng người và dấu hiệu đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự;
- Soạn thảo đơn tố giác và hệ thống tài liệu chứng cứ;
- Hỗ trợ làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng;
- Rà soát căn cứ vô hiệu theo Điều 117, Điều 122 và các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự 2015;
- Tư vấn hậu quả giao dịch vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015;
- Đánh giá quyền của người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015;
- Đại diện khách hàng khởi kiện hoặc tham gia tố tụng theo phạm vi ủy quyền và quy định pháp luật.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về làm giả giấy tờ rồi đem công chứng bị xử lý bao nhiêu tội danh
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi gặp tình huống làm giả giấy tờ rồi đem công chứng. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và Luật Công chứng hiện hành.
1. Làm giả rồi sử dụng giấy tờ giả có luôn bị tính là hai tội không?
Không. Cả hành vi làm giả và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả đều được quy định chung trong cùng một điều luật là Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015. Việc một người bị xử lý về một hay nhiều hành vi phụ thuộc vào việc người đó có trực tiếp thực hiện cả hai hành vi này hay không và mục đích sử dụng giấy tờ giả là gì.
2. Dùng sổ đỏ giả để bán đất có thể bị thêm tội lừa đảo không?
Có thể, nếu việc sử dụng sổ đỏ giả là thủ đoạn gian dối khiến người mua tin tưởng và giao tiền, tài sản, thỏa mãn đầy đủ yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Khi đó, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự đồng thời về cả Điều 341 và Điều 174.
3. Giấy tờ giả đã được công chứng có trở thành hợp pháp không?
Không. Việc công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu không làm thay đổi bản chất của một giấy tờ giả thành giấy tờ hợp pháp. Hợp đồng, giao dịch được xác lập dựa trên giấy tờ giả vẫn có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo Điều 117, Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015.
4. Công chứng viên không biết giấy tờ là giả có bị coi là đồng phạm không?
Không đương nhiên. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, do đó phải chứng minh được công chứng viên biết rõ giấy tờ là giả nhưng vẫn cố ý thực hiện việc công chứng thì mới có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Căn cứ: khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015.
5. Điều 341 Bộ luật Hình sự có mức tù cao nhất là bao nhiêu?
Khung hình phạt chính cao nhất của Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, áp dụng khi sử dụng con dấu, tài liệu giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên.
Kết luận
Làm giả giấy tờ rồi đem công chứng không chỉ khiến người trực tiếp làm giả bị xử lý hình sự mà còn có thể kéo theo trách nhiệm của người sử dụng giấy tờ giả, đồng thời làm phát sinh nguy cơ giao dịch công chứng liên quan bị tuyên vô hiệu. Việc xác định đúng tội danh, khung hình phạt và hướng xử lý dân sự song song đòi hỏi đánh giá cụ thể từng vai trò và mục đích hành vi trong vụ việc. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá rủi ro pháp lý và tư vấn phương án xử lý phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025)
- Bộ luật Dân sự 2015
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: công chứng giấy tờ giả, đồng phạm trong vụ án hình sự, Giao dịch vô hiệu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, hợp đồng công chứng vô hiệu, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người thứ ba ngay tình, Sổ đỏ giả, Thủ tục công chứng nhà đất, tội làm giả con dấu tài liệu, tội sử dụng tài liệu giả, xử lý hình sự giấy tờ giả

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.