Đánh bạc online nhiều lần dưới 5 triệu đồng có bị khởi tố hình sự không?

Đánh bạc online nhiều lần dưới 5 triệu đồng mỗi lần là tình huống nhiều người thắc mắc khi làm việc với cơ quan điều tra, vì không rõ nhiều lần có bị cộng dồn để xử lý hình sự hay không. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là vướng mắc phổ biến, đặc biệt khi hành vi đánh bạc diễn ra qua mạng internet với nhiều giao dịch nhỏ lẻ, khiến người trong cuộc khó tự đánh giá mức độ rủi ro pháp lý của mình. Bài viết dưới đây, với sự tư vấn của luật sư hình sự giàu kinh nghiệm, phân tích cách xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc online nhiều lần theo Bộ luật Hình sự hiện hành.

Đánh bạc online nhiều lần dưới 5 triệu và cách xác định trách nhiệm hình sự theo từng lần đăng nhập
Mỗi lượt cược dưới 5 triệu đồng chưa đủ để kết luận không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Nhiều lượt đặt cược dưới 5 triệu đồng trong cùng một lần đăng nhập vẫn bị cộng dồn để xác định ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Các lần đánh bạc độc lập đều dưới 5 triệu đồng thì không mặc nhiên bị cộng dồn, trừ trường hợp đã từng bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích.
  • Việc sử dụng mạng internet để đánh bạc chỉ bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn theo điểm c khoản 2 Điều 321 sau khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội theo khoản 1.
  • Đánh bạc chưa đến mức truy cứu hình sự vẫn có thể bị xử phạt hành chính, tịch thu tang vật và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.

Nội Dung Bài Viết

Cách xác định trách nhiệm hình sự khi đánh bạc online nhiều lần

Để xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc online nhiều lần, không chỉ xem số tiền của từng lượt đặt cược riêng lẻ. Trước hết phải xác định phạm vi của một lần đánh bạc, sau đó xác định tổng số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng để đánh bạc trong lần đó. Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, trừ trường hợp dưới 5 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án theo điều luật này.

Đối với hình thức trực tuyến, Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể về cách xác định một lần đánh bạc và xử lý trường hợp thực hiện hành vi nhiều lần.

Một lần đánh bạc online được xác định như thế nào?

Theo hướng dẫn tại Câu hỏi 3 Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026, một lần đánh bạc trực tuyến trên website hoặc phần mềm được xác định từ thời điểm người tham gia đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản. Số tiền dùng để đánh bạc trong lần đó được xác định bằng tổng số tiền đã sử dụng để đặt cược trong các lượt đặt cược thuộc cùng lần đăng nhập.

Từ cách xác định này, khi đánh giá trách nhiệm hình sự cần lưu ý:

  • Không mặc nhiên coi mỗi lượt đặt cược là một lần đánh bạc độc lập;
  • Nhiều lượt đặt cược riêng lẻ đều dưới 5 triệu đồng vẫn phải được xem xét tổng số tiền nếu cùng thuộc một lần đăng nhập;
  • Nếu tổng số tiền dùng để đánh bạc trong một lần đăng nhập đạt từ 5 triệu đồng trở lên thì có thể đáp ứng dấu hiệu định lượng tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
  • Sau khi đăng xuất rồi tiếp tục đăng nhập tham gia ở thời điểm khác thì phải tiếp tục xác định lần đánh bạc tiếp theo trên cơ sở dữ liệu điện tử và các chứng cứ của vụ án.

Như vậy, đối với đánh bạc online, việc xác định “một lần đánh bạc” có ý nghĩa trực tiếp đến việc xác định số tiền dùng để đánh bạc và căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Tất cả các lần đánh bạc đều dưới 5 triệu đồng và chưa từng bị xử phạt

Trường hợp một người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần nhưng từng lần độc lập đều chưa đạt 5 triệu đồng thì phải xem xét riêng điều kiện của từng lần. Theo Câu hỏi 9 Công văn 851/VKSTC-V2, nếu tất cả các lần đánh bạc đều dưới 5 triệu đồng, các hành vi chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và vẫn chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các lần này.

Hướng dẫn này cho thấy không mặc nhiên cộng toàn bộ số tiền của nhiều lần đánh bạc độc lập chỉ để đạt ngưỡng 5 triệu đồng. Tuy nhiên, đối với hình thức online, trước khi kết luận mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng phải xác định đúng phạm vi “một lần đánh bạc” theo hướng dẫn tại Câu hỏi 3 Công văn 851/VKSTC-V2, tức là tính từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản.

Trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Hiện nay, Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt đối với các hành vi đánh bạc trái phép chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Có ít nhất một lần đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên

Nếu trong nhiều lần đánh bạc độc lập có ít nhất một lần có số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng để đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên, lần đó có thể đáp ứng dấu hiệu định lượng để xem xét trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Theo điều luật này, mức định lượng cơ bản được xác định từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Câu hỏi 10 Công văn 851/VKSTC-V2 hướng dẫn trường hợp một người đánh bạc nhiều lần với tổng số tiền 100 triệu đồng, trong đó chỉ có một lần 5 triệu đồng, các lần còn lại đều dưới 5 triệu đồng và người thực hiện chưa có tiền án, tiền sự liên quan. Theo hướng dẫn, người đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 5 triệu đồng của lần đủ định lượng, còn 95 triệu đồng của các lần còn lại bị truy thu để sung công quỹ.

Do đó, khi xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp đánh bạc nhiều lần cần phân biệt giữa từng lần đánh bạc độc lập và tổng số tiền của các lần đó. Không mặc nhiên cộng toàn bộ số tiền của các lần độc lập để xác định số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự. Riêng đối với đánh bạc online, các lượt đặt cược thuộc cùng một lần đăng nhập phải được cộng lại trước khi xác định lần đó có đạt ngưỡng 5 triệu đồng hay không.

Đánh bạc dưới 5 triệu đồng nhưng đã từng bị xử phạt

Không phải mọi trường hợp đánh bạc dưới 5 triệu đồng đều nằm ngoài phạm vi xử lý hình sự. Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định người đánh bạc trái phép với số tiền hoặc hiện vật dưới 5 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 mà còn vi phạm; hoặc đã bị kết án về Tội đánh bạc hoặc Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Đối với trường hợp đã từng bị xử phạt hành chính, Câu hỏi 11 Công văn 851/VKSTC-V2 hướng dẫn rằng nếu một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, sau đó tiếp tục thực hiện 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đều dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tình tiết đã bị xử phạt hành chính được áp dụng đối với cả 03 hành vi để xem xét xử lý hình sự tương ứng.

Vì vậy, khi đánh giá trường hợp đánh bạc dưới 5 triệu đồng nhưng người thực hiện đã từng bị xử lý trước đó, cần kiểm tra cụ thể hành vi đã bị xử phạt, thời điểm chấp hành quyết định xử phạt, tình trạng pháp lý của lần xử phạt, bản án trước đó nếu có và việc xóa án tích. Việc xác định này phải được đối chiếu trực tiếp với các điều kiện tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự thay vì chỉ sử dụng chung khái niệm “có tiền án, tiền sự”.

Có được cộng nhiều lần đặt cược dưới 5 triệu đồng không?

Việc có cộng nhiều khoản đặt cược dưới 5 triệu đồng hay không phụ thuộc vào việc các khoản tiền đó thuộc cùng một lần đánh bạc hay là nhiều lần đánh bạc độc lập. Đối với đánh bạc online, cách xác định một lần đánh bạc được hướng dẫn riêng tại Câu hỏi 3 Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026; còn ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Nhiều lượt đặt cược trong cùng một lần đăng nhập

Đối với đánh bạc trực tuyến, Câu hỏi 3 Công văn 851/VKSTC-V2 hướng dẫn một lần đánh bạc trên website hoặc phần mềm được tính từ khi người tham gia đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản. Số tiền dùng để đánh bạc của lần đó là tổng số tiền đã sử dụng để đặt cược trong các lượt đặt cược thuộc lần đăng nhập này.

Vì vậy, nhiều lượt đặt cược riêng lẻ đều dưới 5 triệu đồng nhưng phát sinh trong cùng một lần đăng nhập không được tách riêng từng lượt để xác định ngưỡng chịu trách nhiệm hình sự. Cần cộng tổng số tiền đã sử dụng đặt cược trong lần đăng nhập đó rồi đối chiếu với khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Theo quy định này, đánh bạc trái phép bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thuộc trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Do đó, nếu từng lượt đặt cược đều dưới 5 triệu đồng nhưng tổng số tiền đã sử dụng để đặt cược trong cùng một lần đăng nhập đạt từ 5 triệu đồng trở lên thì không thể căn cứ riêng số tiền của từng lượt để cho rằng hành vi chưa đạt ngưỡng định lượng.

Nhiều lần đánh bạc độc lập đều dưới 5 triệu đồng

Ngược lại, trường hợp có nhiều lần đánh bạc độc lập thì số tiền của các lần này không mặc nhiên được cộng lại chỉ để đạt ngưỡng 5 triệu đồng. Theo Câu hỏi 9 Công văn 851/VKSTC-V2, nếu một người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần mà số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần đều dưới 5 triệu đồng, các hành vi chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và vẫn chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các lần này.

Quy định này cần được áp dụng kết hợp với khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Theo đó, trường hợp đánh bạc dưới 5 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về Tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Như vậy, sau khi đã xác định đúng từng lần đánh bạc độc lập, nếu mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng và người thực hiện không thuộc trường hợp đặc biệt được khoản 1 Điều 321 quy định thì không cộng tổng số tiền của các lần độc lập chỉ để tạo thành mức định lượng 5 triệu đồng.

>>> Xem thêm: Giải đáp: Có khởi tố hình sự khi chưa xóa án tích đánh bạc dưới 5 triệu đồng

Phân biệt “một lần đánh bạc online” với “trong cùng một lần” tại Điều 322

Khi áp dụng Công văn 851/VKSTC-V2 cần phân biệt hai hướng dẫn có phạm vi khác nhau. Đối với người trực tiếp đánh bạc online, Câu hỏi 3 xác định một lần đánh bạc từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản và cộng số tiền của các lượt đặt cược trong lần đăng nhập đó.

Trong khi đó, Câu hỏi 8 Công văn 851/VKSTC-V2 giải thích cụm từ “trong cùng một lần” tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, liên quan đến Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Theo hướng dẫn này, một lần có thể gồm một hoặc nhiều đợt, chẳng hạn các đợt cá cược thuộc cùng một trận bóng đá, một kỳ đua ngựa hoặc việc chơi trong một lô đề.

Do hai hướng dẫn điều chỉnh những tình huống pháp lý khác nhau, không nên sử dụng tiêu chí “một lần có thể gồm nhiều đợt” tại Câu hỏi 8 để thay thế tiêu chí đăng nhập – đăng xuất được quy định riêng cho đánh bạc trực tuyến tại Câu hỏi 3. Khi xác định trách nhiệm hình sự về Tội đánh bạc online, trước hết cần xác định phạm vi từng lần đăng nhập, tổng số tiền đã sử dụng đặt cược trong lần đó và sau đó đối chiếu với các điều kiện tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Cách cộng nhiều lượt đặt cược dưới 5 triệu đồng trong cùng một lần đăng nhập khi đánh bạc online
Các lượt đặt cược trong cùng lần đăng nhập được cộng để xác định số tiền dùng đánh bạc của lần đó.

Đánh bạc online có làm khung hình phạt nặng hơn không?

Đánh bạc online có thể làm người phạm tội bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn, nhưng chỉ sau khi đã xác định hành vi đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Khi đó, việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội mới được xem xét như một tình tiết định khung theo điểm c khoản 2 Điều 321.

Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội

Điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định trường hợp sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội thuộc khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù.

Để thống nhất cách áp dụng tình tiết này, Công văn 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội được hiểu là sử dụng các phương tiện này để đánh bạc trực tuyến, chẳng hạn hình thành chiếu bạc online.

Ngược lại, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp chỉ sử dụng internet, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử như một phương tiện liên lạc với nhau mà không hình thành việc đánh bạc trực tuyến thì không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 321.

Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ vụ việc đánh bạc có sử dụng điện thoại, tin nhắn, internet hoặc giao dịch điện tử thì đương nhiên bị áp dụng khoản 2 Điều 321. Cần xác định phương thức sử dụng công nghệ có trực tiếp tạo thành hoạt động đánh bạc trực tuyến hay không.

Phân biệt dấu hiệu định tội với tình tiết định khung

Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với đánh bạc online cần thực hiện lần lượt hai bước. Trước hết, khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự được sử dụng để xác định hành vi đã cấu thành Tội đánh bạc hay chưa, căn cứ vào số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng để đánh bạc và các trường hợp luật định khác.

Sau khi có đủ căn cứ xác định Tội đánh bạc, cơ quan tiến hành tố tụng mới xem xét các tình tiết thuộc khoản 2 Điều 321 để xác định khung hình phạt. Trong đó, điểm c khoản 2 Điều 321 quy định tình tiết sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội.

Có thể khái quát việc áp dụng như sau:

  • Khoản 1 Điều 321: xác định hành vi có cấu thành Tội đánh bạc hay không;
  • Điểm c khoản 2 Điều 321: xác định người đã phạm Tội đánh bạc có thuộc trường hợp sử dụng mạng hoặc phương tiện điện tử để phạm tội và phải áp dụng khung hình phạt nặng hơn hay không;
  • Công văn 196/TANDTC-PC: hướng dẫn cách hiểu tình tiết sử dụng mạng, phương tiện điện tử theo hướng phải gắn với hoạt động đánh bạc trực tuyến.

Do đó, yếu tố sử dụng môi trường mạng không thay thế các dấu hiệu định tội tại khoản 1 Điều 321. Chỉ khi hành vi đã cấu thành Tội đánh bạc và việc sử dụng mạng hoặc phương tiện điện tử đáp ứng cách hiểu được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì mới xem xét áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321.

Khung hình phạt đánh bạc online khi sử dụng internet hoặc phương tiện điện tử để phạm tội
Yếu tố sử dụng internet được xem xét sau khi xác định hành vi đã cấu thành Tội đánh bạc.

Đánh bạc nhiều lần có bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” không?

Việc một người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần trên thực tế không đồng nghĩa đương nhiên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”. Để áp dụng tình tiết này phải đối chiếu điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 15/11/2025.

Điều kiện áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên

Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn tình tiết này được áp dụng khi người phạm tội đã thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm, trong đó mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với Tội đánh bạc, vì vậy cần xác định riêng từng lần thực hiện hành vi trước khi xem xét tình tiết tăng nặng. Việc có nhiều giao dịch, nhiều lượt đặt cược hoặc nhiều lần chuyển tiền chưa đủ để kết luận người thực hiện đã phạm Tội đánh bạc từ 02 lần trở lên.

Để áp dụng tình tiết này đối với Tội đánh bạc, về nguyên tắc phải xác định:

  • Có từ 02 lần thực hiện hành vi cấu thành Tội đánh bạc;
  • Mỗi lần đều độc lập đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 321 Bộ luật Hình sự;
  • Chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Các lần phạm tội đều chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Các lần được xem xét phải là những lần phạm cùng Tội đánh bạc, không chỉ đơn thuần là nhiều hành vi khác nhau liên quan đến cờ bạc.

Như vậy, số lượng lượt đặt cược thực tế và số lần phạm tội theo điểm g khoản 1 Điều 52 là hai khái niệm khác nhau.

Trường hợp tất cả các lần độc lập đều dưới ngưỡng cấu thành

Nếu sau khi xác định đúng từng lần đánh bạc mà mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng và người thực hiện không thuộc trường hợp đánh bạc dưới 5 triệu đồng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì các lần đó chưa cấu thành Tội đánh bạc.

Câu hỏi 9 Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 cũng hướng dẫn trường hợp một người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần nhưng số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của từng lần đều dưới 5 triệu đồng, các hành vi chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các lần đó.

Do khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP yêu cầu mỗi lần phạm tội đều phải có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên không thể lấy những lần đánh bạc chưa cấu thành tội phạm để xác định tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.

Nói cách khác, nếu có nhiều lần đánh bạc độc lập nhưng:

  • Mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng;
  • Không thuộc trường hợp dưới 5 triệu đồng vẫn bị truy cứu theo khoản 1 Điều 321;
  • Các hành vi chưa cấu thành Tội đánh bạc;

thì việc tổng số lần thực hiện hành vi từ 02 lần trở lên không làm phát sinh tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp đã bị xử phạt hành chính trước đó

Trường hợp người thực hiện đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc cần được đánh giá khác. Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định trường hợp đánh bạc dưới 5 triệu đồng vẫn có thể cấu thành Tội đánh bạc nếu người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 mà còn vi phạm.

Câu hỏi 11 Công văn 851/VKSTC-V2 hướng dẫn trường hợp một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, sau đó tiếp tục thực hiện 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đều dưới mức định lượng thì tình tiết đã bị xử phạt hành chính có thể được sử dụng làm dấu hiệu định tội đối với cả các hành vi sau đó.

Tuy nhiên, việc các hành vi dưới ngưỡng sau đó có thể cấu thành tội phạm không đồng nghĩa tự động áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Muốn áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 vẫn phải tiếp tục kiểm tra các điều kiện tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP, đặc biệt là yêu cầu có từ 02 lần phạm cùng một tội phạm, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và còn thời hiệu truy cứu.

Vì vậy, nếu các hành vi sau lần xử phạt gồm cả đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thì không thể chỉ dựa vào tổng số hành vi để kết luận có “phạm tội 02 lần trở lên” đối với Tội đánh bạc. Cần phân loại từng hành vi theo tội danh tương ứng trước khi áp dụng tình tiết tăng nặng.

Dữ liệu điện tử được sử dụng thế nào trong vụ án đánh bạc online?

Trong vụ án đánh bạc online, dữ liệu điện tử có thể là căn cứ quan trọng để xác định tài khoản sử dụng, thời điểm tham gia, các lượt đặt cược, giao dịch và số tiền liên quan. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có giá trị chứng cứ khi đáp ứng các yêu cầu về nguồn, trình tự thu thập và giá trị chứng minh theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định chứng cứ phải là những gì có thật, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định; còn điểm c khoản 1 Điều 87 ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ.

Dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự

Điểm c khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định dữ liệu điện tử là một trong các nguồn mà từ đó chứng cứ có thể được xác định. Theo Điều 99 Bộ luật này, dữ liệu điện tử bao gồm ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

Trong vụ án liên quan đến đánh bạc trực tuyến, tùy chứng cứ thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thu thập, kiểm tra và đối chiếu các loại thông tin như:

  • Dữ liệu liên quan đến tài khoản;
  • Lịch sử giao dịch và sao kê ngân hàng;
  • Dữ liệu lưu trên điện thoại, máy tính;
  • Tin nhắn và dữ liệu trao đổi có liên quan;
  • Thông tin được hệ thống điện tử ghi nhận;
  • Các nguồn dữ liệu điện tử khác có liên quan đến vụ án.

Tuy nhiên, việc một thông tin tồn tại dưới dạng điện tử chưa đồng nghĩa thông tin đó đương nhiên có giá trị chứng minh. Khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự yêu cầu giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử phải được đánh giá dựa trên cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi; khả năng bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn; cách thức xác định người khởi tạo và những yếu tố phù hợp khác.

Việc trích xuất dữ liệu từ điện thoại, máy tính được thực hiện thế nào?

Đối với dữ liệu được lưu giữ trong thiết bị điện tử, việc thu giữ và trích xuất phải bảo đảm yêu cầu về thẩm quyền và thủ tục tố tụng. Câu hỏi 16 Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 trực tiếp giải đáp trường hợp thu giữ, trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động, máy tính cá nhân, tài khoản mạng xã hội hoặc ứng dụng nhắn tin khi người sử dụng không có mặt hoặc không cung cấp mật khẩu.

Theo hướng dẫn này, việc thu giữ, trích xuất được coi là hợp pháp khi bảo đảm:

  • Có quyết định tố tụng hợp pháp về khám xét, thu giữ;
  • Việc mở khóa, trích xuất do cơ quan có chuyên môn thực hiện;
  • Việc thực hiện được lập biên bản đầy đủ;
  • Có người chứng kiến theo yêu cầu tố tụng.

Bản sao hoặc ảnh chụp màn hình có thể được sử dụng làm chứng cứ không?

Việc dữ liệu điện tử gốc đã bị xóa hoặc thất thoát không đồng nghĩa mọi thông tin còn lại đều mất khả năng được sử dụng để chứng minh. Câu hỏi 17 Công văn 851/VKSTC-V2 trực tiếp đề cập trường hợp chỉ còn bản sao hoặc bản chụp màn hình được thu thập từ nguồn khác.

Theo hướng dẫn tại Công văn 851/VKSTC-V2, dữ liệu này có thể được xem xét khi có căn cứ xác định:

  • Nguồn gốc của bản sao hoặc bản chụp màn hình;
  • Thông tin có liên quan đến vụ án;
  • Dữ liệu được người có thẩm quyền tố tụng thu thập;
  • Việc thu thập đúng trình tự tố tụng hình sự;
  • Nội dung phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác như lời khai, sao kê ngân hàng, dữ liệu nhà mạng hoặc kết quả giám định kỹ thuật số.

Cách đánh giá này cũng phù hợp với Điều 86 và khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, chứng cứ phải được thu thập đúng trình tự, thủ tục và giá trị của dữ liệu điện tử còn phụ thuộc vào nguồn gốc, tính toàn vẹn, người khởi tạo cũng như các yếu tố liên quan khác.

Do đó, không phải mọi ảnh chụp màn hình đều mặc nhiên có giá trị chứng cứ như nhau. Cần đánh giá cụ thể nguồn hình thành, quá trình thu thập, khả năng xác thực và sự phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Đánh bạc dưới 5 triệu đồng chưa đến mức hình sự bị xử lý thế nào?

Trường hợp hành vi đánh bạc chưa đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 Bộ luật Hình sự thì người thực hiện vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Hiện nay, các hành vi đánh bạc trái phép và mức xử phạt tương ứng được quy định tại Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 15/12/2025.

Mức phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc trái phép

Khoản 2 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với một trong các hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, gồm: đánh bạc với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản hoặc hiện vật dưới các hình thức luật liệt kê hoặc hình thức khác; đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép; hoặc cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác.

Do đó, không nên hiểu rằng cứ đánh bạc dưới 5 triệu đồng thì đương nhiên bị phạt từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng. Trước hết phải xác định hành vi chưa thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, sau đó xác định hành vi cụ thể có thuộc khoản 2 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP hay không.

Riêng hành vi mua các số lô, số đề được khoản 1 Điều 36 quy định mức phạt riêng từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, nên không áp dụng mức 1–2 triệu đồng của khoản 2.

Tịch thu tang vật, phương tiện và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp

Ngoài hình thức phạt tiền, người thực hiện các hành vi thuộc khoản 2 Điều 36 còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung. Cụ thể, điểm a khoản 6 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này.

Đồng thời, khoản 7 Điều 36 quy định buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm đối với các hành vi thuộc khoản 2 Điều 36. Đây là biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng bên cạnh hình thức xử phạt theo quy định.

Như vậy, đối với hành vi đánh bạc trái phép chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc khoản 2 Điều 36, người vi phạm có thể phải chịu đồng thời phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng, tịch thu tang vật hoặc phương tiện vi phạm và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, tùy vào tình tiết và đối tượng cụ thể của vụ việc.

Rủi ro pháp lý khi đánh bạc online nhiều lần

Đánh bạc online nhiều lần có thể phát sinh đồng thời rủi ro về cách xác định số tiền dùng để đánh bạc, số lần phạm tội, khung hình phạt và xử lý tiền, tài sản liên quan. Việc đánh giá phải căn cứ vào từng lần đánh bạc cụ thể theo Điều 321 Bộ luật Hình sự và các hướng dẫn nghiệp vụ tại Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026.

Rủi ro cộng các lượt cược trong cùng một lần đăng nhập

Một trong những rủi ro đáng chú ý sau Công văn 851 là người tham gia có thể cho rằng từng lượt đặt cược đều dưới 5 triệu đồng nên chưa đến mức hình sự.

Tuy nhiên, nếu các lượt đó nằm trong cùng một lần đăng nhập, số tiền được xác định là tổng tiền đã sử dụng để đặt cược trong lần đăng nhập đó. Tổng số tiền vì vậy có thể đạt ngưỡng của khoản 1 Điều 321.

Rủi ro một hoặc nhiều lần đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc

Cơ quan tiến hành tố tụng có thể xác định riêng từng lần đánh bạc.

Nếu có ít nhất một lần đáp ứng điều kiện của khoản 1 Điều 321 thì trách nhiệm hình sự được xem xét đối với lần đó. Nếu có nhiều lần độc lập đều cấu thành tội thì tiếp tục đánh giá việc áp dụng các tình tiết tăng nặng theo Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP.

Rủi ro bị áp dụng khung hình phạt liên quan đến việc sử dụng mạng

Khi hành vi đã cấu thành Tội đánh bạc, việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội có thể được xem xét theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ vụ việc đánh bạc online có nguy cơ bị xử lý hình sự

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc liên quan đến hành vi đánh bạc online có nguy cơ bị xử lý hình sự với các công việc sau:

  • Rà soát căn cứ áp dụng Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với hành vi cụ thể của khách hàng. Xác định từng lần và số tiền được cơ quan tố tụng cho rằng đã dùng để đánh bạc.
  •  Kiểm tra điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp dưới 5 triệu đồng.
  • Đánh giá việc áp dụng khoản 2 Điều 321 đối với hành vi đánh bạc qua mạng.
  • Rà soát tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP.
  •  Kiểm tra tính hợp pháp của dữ liệu điện tử và các chứng cứ khác được thu thập trong vụ việc.
  • Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng khi làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng. Tham gia bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
  •  Đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi có căn cứ.
  • Tư vấn hướng xử lý vật chứng, tiền và tài sản liên quan theo đúng quy định pháp luật.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về đánh bạc online nhiều lần dưới 5 triệu đồng

Trong thực tế, người tham gia đánh bạc online thường nhầm lẫn giữa mỗi lượt đặt cược và một lần đánh bạc để xác định số tiền dùng đánh bạc. Dưới đây là cách xác định đối với trường hợp có nhiều lượt cược nhưng từng lượt đều dưới 5 triệu đồng.

1. Đánh bạc online 10 lượt, mỗi lượt 1 triệu đồng có cộng thành 10 triệu đồng không?

Có thể có, nếu 10 lượt đặt cược đó thuộc cùng một lần đăng nhập. Công văn 851/VKSTC-V2 xác định một lần đánh bạc trực tuyến từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất; số tiền đánh bạc là tổng số tiền đã sử dụng đặt cược trong lần đăng nhập đó. Do đó, không thể chỉ nhìn từng lượt 1 triệu đồng để kết luận từng lượt đều dưới ngưỡng.

2. Nếu 10 lần đăng nhập riêng, mỗi lần 1 triệu đồng thì có cộng thành 10 triệu đồng để khởi tố không?

Nếu đây thực sự là 10 lần đánh bạc độc lập, sau khi xác định đúng phạm vi từng lần mà mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng, người thực hiện chưa bị xử phạt hành chính và không thuộc trường hợp có án tích theo khoản 1 Điều 321 thì không được chỉ cộng cơ học thành 10 triệu đồng để truy cứu.

Công văn 851 hướng dẫn trường hợp tất cả các lần đều dưới 5 triệu đồng, chưa bị xử phạt hành chính và còn thời hiệu xử phạt thì không chịu trách nhiệm hình sự.

3. Một lần đánh bạc 6 triệu đồng, các lần khác đều dưới 5 triệu đồng thì có bị khởi tố không?

Lần sử dụng 6 triệu đồng đã vượt ngưỡng định lượng cơ bản của khoản 1 Điều 321. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiếp tục đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành và chứng cứ của vụ án.

Các lần độc lập còn lại không mặc nhiên được cộng vào số tiền chịu trách nhiệm hình sự. Công văn 851 hướng dẫn tương tự trường hợp chỉ có một lần đạt 5 triệu đồng thì trách nhiệm hình sự được xác định theo số tiền của lần đủ định lượng.

4. Đánh bạc dưới 5 triệu nhưng đã từng bị phạt hành chính có bị khởi tố không?

Có thể, nếu đáp ứng đúng điều kiện tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cần kiểm tra hành vi đã bị xử phạt trước đó và người thực hiện đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay chưa. Công văn 851 còn hướng dẫn rằng nếu người đã bị xử phạt hành chính mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt tiếp tục thực hiện nhiều hành vi dưới ngưỡng thì tình tiết đã bị xử phạt có thể được áp dụng đối với các hành vi tiếp theo để xử lý hình sự.

5. Đánh bạc online có bị xử nặng hơn đánh bạc trực tiếp không?

Có thể phát sinh tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 321 nếu việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử đáp ứng điều kiện luật định. Tuy nhiên, yếu tố online không có nghĩa là đương nhiên cấu thành tội. Trước hết vẫn phải xác định hành vi đã đáp ứng điều kiện định tội tại khoản 1 Điều 321.

6. Đánh bạc dưới 5 triệu không bị khởi tố thì bị phạt bao nhiêu?

Nếu hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và thuộc trường hợp tại khoản 2 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP thì mức phạt tiền là từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng. Ngoài ra có thể áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp theo khoản 6, khoản 7 Điều 36.

7. Nhiều lần đánh bạc có đương nhiên bị coi là “phạm tội 02 lần trở lên” không?

Không. Trước hết phải xác định có từ hai lần phạm tội hay chỉ có nhiều lượt thực hiện hành vi. Đối với đánh bạc online, nhiều lượt đặt cược trong cùng một lần đăng nhập có thể chỉ được xác định là một lần đánh bạc theo Công văn 851/VKSTC-V2. Việc áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” phải căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP.

8. Ảnh chụp màn hình giao dịch có đủ để buộc tội đánh bạc không?

Không thể mặc nhiên kết luận chỉ dựa trên một ảnh chụp màn hình. Cần đánh giá nguồn gốc, cách thu thập, nội dung và sự phù hợp với các chứng cứ khác.

Công văn 851 hướng dẫn bản sao hoặc bản chụp màn hình có thể được xem xét làm chứng cứ nếu xác định được nguồn gốc, được thu thập đúng trình tự tố tụng và phù hợp với các tài liệu khác như lời khai, sao kê ngân hàng, dữ liệu nhà mạng hoặc kết quả giám định kỹ thuật số.

Kết luận

Đánh bạc online nhiều lần dưới 5 triệu đồng mỗi lần không đương nhiên bị khởi tố hình sự, nhưng cũng không đồng nghĩa với việc hoàn toàn an toàn về mặt pháp lý. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải dựa trên phân tích từng lần thực hiện hành vi theo đúng quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự, kết hợp với việc đánh giá tiền sử xử lý vi phạm, tình tiết sử dụng mạng internet và các tình tiết tăng nặng liên quan. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp trong các vụ việc liên quan đến hành vi đánh bạc online. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
  • Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP huớng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sư quy đinh tai Điều 51 và Điều 52 của Bô luât Hình sự
  • Nghị định 282/2025/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
  • Công văn 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao
  • Công văn 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

 

Tags: , , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Hà Ngọc Tuyền

Luật sư Hà Ngọc Tuyền- thành viên đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Văn phòng luật sư Hà Tuyền, Luật sư cộng sự tại công ty Luật Long Phan PMT. Với kinh nghiệm lâu năm tham gia các vụ án hình sự, Luật sư Hà Ngọc Tuyền đã và đang trực tiếp tham gia tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các vụ án hình sự là một trong những luật sư kỳ cựu, nhận được rất nhiều kỳ vọng của khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87