Tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai là căn cứ quan trọng để xác định tính chất, mức độ xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai. Việc đánh giá không chỉ dựa trên hành vi đã xảy ra mà còn xem xét hậu quả, phạm vi ảnh hưởng và tình trạng sử dụng đất thực tế. Kết quả khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi cơ quan có thẩm quyền xác định biện pháp xử lý phù hợp. Do đó, người sử dụng đất cần nắm rõ các tiêu chí được áp dụng trong từng trường hợp vi phạm. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT sẽ phân tích cụ thể các tiêu chí đánh giá trách nhiệm hình sự và những vấn đề cần lưu ý khi khắc phục vi phạm đất đai.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Cơ chế đánh giá theo Nghị quyết 29/2026/QH16 chỉ áp dụng cho hành vi vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 và vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.
- Mức độ thiệt hại tài sản là tiêu chí định lượng bắt buộc trong hồ sơ đánh giá, đồng thời cũng là căn cứ định khung hình phạt tại Điều 229, Điều 230 Bộ luật Hình sự.
- Nghị quyết 29/2026/QH16 tuyệt đối không hợp pháp hóa sai phạm và không áp dụng cho trường hợp có yếu tố tham nhũng.
- Cơ chế xử lý vi phạm chỉ được áp dụng đến hết ngày 01/5/2029, còn cơ chế tháo gỡ dự án tồn đọng kéo dài áp dụng đến hết ngày 01/5/2031.
Tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai là gì?
Đây là tập hợp các yếu tố được cơ quan có thẩm quyền xem xét để xác định tính chất, mức độ vi phạm và kết quả khắc phục hậu quả, làm căn cứ áp dụng các chính sách xử lý theo Nghị quyết 29/2026/QH16. Các yếu tố này bao gồm vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm; nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại; kết quả khắc phục hậu quả; tài liệu, chứng cứ về hành vi tham nhũng; hiệu quả chính trị, kinh tế – xã hội của dự án, công trình và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Ngày 24/4/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/5/2026. Theo khoản 2 Điều 3, việc áp dụng các quy định tại Chương II phải xem xét đồng thời các yếu tố nêu trên, qua đó làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xác định phương án xử lý phù hợp đối với từng vụ việc.
Phạm vi và đối tượng áp dụng cơ chế đánh giá theo Nghị quyết 29/2026/QH16
Nghị quyết 29/2026/QH16 điều chỉnh hai nhóm chính: xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và không tham nhũng xảy ra trước ngày 01/8/2024; và tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước ngày 01/8/2024. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hành vi vi phạm và các dự án thuộc phạm vi này.
Do đó, khi xem xét áp dụng cơ chế xử lý theo Nghị quyết, cần xác định chính xác thời điểm xảy ra vi phạm hoặc thời điểm dự án thuộc diện tồn đọng, kéo dài, đồng thời đối chiếu với các điều kiện cụ thể của từng nhóm chính sách. Không phải mọi vi phạm đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 đều đương nhiên được áp dụng các chính sách đặc thù của Nghị quyết.
Phân biệt với biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính đất đai thông thường
Cơ chế đánh giá theo Nghị quyết 29/2026/QH16 khác biệt căn bản so với việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính về đất đai theo pháp luật xử lý vi phạm hành chính thông thường. Xử phạt hành chính là chế tài áp dụng chung cho mọi hành vi vi phạm đất đai không phân biệt thời điểm, trong khi cơ chế của Nghị quyết 29/2026/QH16 là chính sách đặc thù, có giới hạn về thời gian phát sinh vi phạm (trước 01/8/2024) và thời hạn áp dụng chính sách (đến 01/5/2029 hoặc 01/5/2031 tùy nhóm chính sách), nhằm hướng tới việc miễn, giảm trách nhiệm hình sự và kỷ luật chứ không chỉ đơn thuần buộc khắc phục hậu quả hành chính.
Vi phạm pháp luật đất đai thường bị xử lý theo tội danh hình sự nào?
Đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai có dấu hiệu tội phạm, tùy hành vi cụ thể và các yếu tố cấu thành, người vi phạm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo Điều 229 hoặc Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 230 Bộ luật Hình sự. Việc xác định tội danh không chỉ dựa vào giá trị thiệt hại mà còn phải căn cứ vào chủ thể, hành vi, lỗi và các dấu hiệu định tội, định khung được quy định trong từng điều luật.
Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229 Bộ luật Hình sự)
Theo Điều 229 Bộ luật Hình sự 2015, người lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái quy định pháp luật, thuộc trường hợp đất trồng lúa có diện tích từ 5.000 m² đến dưới 30.000 m², đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất từ 10.000 m² đến dưới 50.000 m², đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp từ 10.000 m² đến dưới 40.000 m², hoặc đất có giá trị quyền sử dụng đất quy thành tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng (đất nông nghiệp) hoặc từ 1.000.000.000 đồng trở lên (đất phi nông nghiệp), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo khoản 1 Điều 229. Trường hợp nghiêm trọng hơn theo khoản 3 Điều 229, người phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230 Bộ luật Hình sự)
Theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự 2015, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định pháp luật về bồi thường về đất, hỗ trợ, tái định cư, hoặc bồi thường về tài sản, sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khoản 2 Điều 230 quy định khung tăng nặng, phạt tù từ 03 năm đến 12 năm, áp dụng khi phạm tội vì vụ lợi, vì động cơ cá nhân khác, hoặc có tổ chức. Khoản 3 Điều 230 quy định khung cao nhất, phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, áp dụng khi gây thiệt hại tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.
Mối liên hệ giữa mức thiệt hại tài sản và khung hình phạt
Mức thiệt hại tài sản là một trong những yếu tố quan trọng khi xem xét trách nhiệm hình sự đối với các tội danh quy định tại Điều 229 và Điều 230 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, không nên đồng nhất mức thiệt hại với toàn bộ tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm theo Nghị quyết 29/2026/QH16.
Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16, khi áp dụng các chính sách xử lý theo Nghị quyết, cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân; nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại; kết quả khắc phục hậu quả; tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng; hiệu quả chính trị, kinh tế – xã hội của dự án, công trình và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Vì vậy, việc xác định thiệt hại cần được thực hiện chính xác, nhưng kết quả đánh giá theo Nghị quyết 29 không chỉ phụ thuộc vào một con số thiệt hại. Cần đối chiếu đồng thời các yếu tố liên quan đến hành vi, người thực hiện, hậu quả và kết quả khắc phục để xác định chính sách xử lý phù hợp.
Các tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm pháp luật về đất đai
Mức độ vi phạm được đánh giá trên cơ sở tổng hợp nhiều yếu tố, thay vì chỉ dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ. Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16 yêu cầu khi áp dụng các quy định tại Chương II phải xác định rõ vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm; nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại; kết quả khắc phục hậu quả; tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng; hiệu quả về chính trị, kinh tế – xã hội của dự án, công trình và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm
Theo khoản 2 điểm a Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16, cơ quan có thẩm quyền phải xác định rõ vai trò của tổ chức, cá nhân trong hành vi vi phạm (người quyết định, người tham mưu, người thực hiện) cùng động cơ, mục đích thực hiện hành vi. Trường hợp vi phạm xuất phát từ mục đích phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và không có yếu tố tham nhũng sẽ được xem xét theo hướng thuận lợi hơn so với trường hợp vi phạm vì động cơ vụ lợi cá nhân.
Mức độ thiệt hại tài sản và nguyên nhân vi phạm
Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16, khi áp dụng các quy định tại Chương II, cơ quan có thẩm quyền phải xác định rõ nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại và kết quả khắc phục hậu quả, cùng với vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm và các yếu tố khác được Nghị quyết quy định.
Việc đánh giá không chỉ dừng ở giá trị thiệt hại mà còn phải xem xét nguyên nhân dẫn đến vi phạm và tính chất của hành vi trong hoàn cảnh thực tế của vụ việc.
Yếu tố tham nhũng và hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án
Căn cứ Điều 1 về phạm vi điều chỉnh, Nghị quyết 29/2026/QH16 chỉ áp dụng cho trường hợp không có yếu tố tham nhũng. Theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết cũng quy định “không tham nhũng” phải được cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản. Cơ quan có thẩm quyền phải kết luận rõ về việc có hay không có hành vi tham nhũng gắn với vi phạm, đồng thời đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của dự án, công trình đã triển khai để làm căn cứ áp dụng chính sách.
Tài liệu, chứng cứ chứng minh mức độ vi phạm
Việc xác định vai trò, động cơ, mục đích, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại và kết quả khắc phục hậu quả phải được xem xét trên cơ sở các tài liệu, thông tin có liên quan trong hồ sơ vụ việc. Riêng đối với yếu tố tham nhũng, điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16 yêu cầu xác định tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng.
Do đó, việc đánh giá mức độ vi phạm cần được thực hiện trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và các tình tiết khách quan của từng vụ việc, bảo đảm xác định đầy đủ các yếu tố mà Nghị quyết yêu cầu xem xét, thay vì chỉ dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ.
Đối với tổ chức, cá nhân có liên quan, việc chủ động rà soát, thu thập và hệ thống hóa hồ sơ dự án, quá trình thực hiện dự án, các quyết định quản lý đất đai, nghĩa vụ tài chính và tài liệu về việc khắc phục hậu quả có thể giúp làm rõ quá trình hình thành, thực hiện và khắc phục vi phạm khi cơ quan có thẩm quyền xem xét vụ việc.

Tiêu chí đánh giá kết quả khắc phục hậu quả vi phạm đất đai
Kết quả khắc phục hậu quả là một trong những yếu tố được xem xét khi đánh giá, xử lý các hành vi vi phạm thuộc phạm vi áp dụng của Nghị quyết 29/2026/QH16. Theo điểm a khoản 2 Điều 3, cơ quan có thẩm quyền phải xác định kết quả khắc phục hậu quả cùng với vai trò, động cơ, mục đích, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại và các yếu tố khác của vụ việc.
Mức độ khắc phục thiệt hại vật chất
Khoản 5 Điều 4 Nghị quyết 29/2026/QH16 xác định hậu quả thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về đất đai gây ra là hậu quả vật chất. Theo khoản 6 Điều 4, khắc phục hậu quả thiệt hại là việc cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp từ hành vi vi phạm thực hiện bồi thường về vật chất nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan và bên thứ ba ngay tình.
Do đó, khi đánh giá kết quả khắc phục cần xác định cụ thể phạm vi thiệt hại đã được bồi thường, giá trị đã khắc phục và phần hậu quả còn chưa được khắc phục. Trường hợp chưa khắc phục toàn bộ, Điều 7 Nghị quyết còn quy định việc xem xét tỷ lệ khắc phục hậu quả cùng với hiệu quả kinh tế – xã hội để áp dụng chính sách giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điều kiện của Nghị quyết.
Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước
Đối với nghĩa vụ tài chính, điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị quyết quy định việc áp dụng chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án phải bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư, chủ đầu tư thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, đồng thời bảo đảm năng lực, điều kiện tiếp tục thực hiện dự án theo quy định pháp luật.
Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước cần được xem xét riêng với việc khắc phục hậu quả thiệt hại. Việc đã thực hiện nghĩa vụ tài chính như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hoặc các khoản phải nộp khác không mặc nhiên đồng nghĩa với việc đã bồi thường hoặc khắc phục toàn bộ hậu quả vật chất do hành vi vi phạm gây ra.
Đối với các dự án tồn đọng, kéo dài thuộc phạm vi Chương III, Nghị quyết quy định riêng yêu cầu nhà đầu tư, chủ đầu tư thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và thực hiện phương án khắc phục thiệt hại theo cơ chế xử lý tương ứng. Vì vậy, hồ sơ cần phân định rõ khoản nghĩa vụ tài chính phải thực hiện và khoản thiệt hại cần được khắc phục, bồi thường.
Khả năng và tiến độ khắc phục đối với dự án, công trình chưa hoàn thành
Đối với trường hợp dự án, công trình chưa hoàn thành và chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan, Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16 cho phép xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khi dự án có khả năng, phương án và điều kiện để khắc phục hậu quả, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, đồng thời tổ chức, cá nhân liên quan có cam kết và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Theo đó, trong trường hợp này, kết quả khắc phục không chỉ được xem xét ở phần thiệt hại đã được bồi thường mà còn gắn với phương án, điều kiện, cam kết và tiến độ thực hiện việc khắc phục theo quy định.
Phân biệt kết quả khắc phục với các điều kiện áp dụng chính sách
Khi đánh giá khả năng áp dụng chính sách theo Nghị quyết 29/2026/QH16, cần phân biệt kết quả khắc phục hậu quả với các điều kiện khác như không có hành vi tham nhũng, dự án hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, tình trạng khiếu nại, tố cáo hoặc các điều kiện cụ thể khác được quy định cho từng chính sách.
Như vậy, kết quả khắc phục hậu quả cần được đánh giá chủ yếu trên cơ sở thiệt hại vật chất phát sinh, mức độ bồi thường, phần hậu quả đã được khắc phục và, trong trường hợp chưa khắc phục toàn bộ, tỷ lệ cũng như phương án, tiến độ khắc phục. Các yếu tố khác phải được xem xét độc lập theo điều kiện áp dụng của từng chính sách tại Nghị quyết.
>>> Xem thêm: Hướng dẫn phản đối cách tính số lợi bất hợp pháp từ đất

Hệ quả pháp lý tương ứng với từng mức độ vi phạm và kết quả khắc phục
Nghị quyết 29/2026/QH16 thiết lập nhiều cơ chế xử lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất vụ việc, hậu quả đã xảy ra, kết quả khắc phục và khả năng tiếp tục khắc phục. Các cơ chế này được phân hóa theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng, từ việc không truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu để khắc phục hậu quả đến hoãn, miễn, giảm hình phạt và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.Nghị quyết 29/2026/QH16 thiết lập nhiều cơ chế xử lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất vụ việc, hậu quả đã xảy ra, kết quả khắc phục và khả năng tiếp tục khắc phục. Các cơ chế này được phân hóa theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng, từ việc không truy cứu hoặc miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu để khắc phục hậu quả đến hoãn, miễn, giảm hình phạt và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
Không truy cứu và miễn trách nhiệm hình sự
Theo Điều 5 Nghị quyết 29/2026/QH16, người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết được không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng, trong đó Nghị quyết phân biệt trường hợp không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước với trường hợp có gây thất thoát, lãng phí nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Đối với trường hợp đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều 7 Nghị quyết quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp thuộc Điều 5.
Tạm hoãn, tạm đình chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả
Theo Điều 6 Nghị quyết 29/2026/QH16, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân khắc phục hậu quả nếu đáp ứng các điều kiện mà Nghị quyết quy định.
Cơ chế này áp dụng đối với trường hợp dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội; đồng thời tổ chức, cá nhân liên quan có cam kết và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Hết thời hạn tạm hoãn và các thời hạn tạm đình chỉ tố tụng theo Nghị quyết, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc không khởi tố hoặc đình chỉ theo trường hợp tương ứng. Nếu chưa khắc phục toàn bộ, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xử lý theo Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả, hiệu quả kinh tế – xã hội để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.
Hoãn chấp hành hình phạt, miễn giảm hình phạt và xóa án tích
Đối với người đã có bản án, Điều 9 Nghị quyết 29/2026/QH16 thiết lập cơ chế riêng tùy thuộc vào tình trạng thi hành án và kết quả khắc phục hậu quả.
Trường hợp đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án và đáp ứng điều kiện của Điều 6, Tòa án có thể quyết định hoãn chấp hành hình phạt, với thời hạn tối đa 02 năm.
Hết thời hạn hoãn, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt. Nếu chưa khắc phục toàn bộ, Tòa án quyết định thi hành án và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả, hiệu quả kinh tế – xã hội để xem xét giảm mức hình phạt đã tuyên hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.
Đối với người đang chấp hành hình phạt tù và đáp ứng điều kiện của Điều 6, Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù trong thời hạn tối đa 02 năm. Tùy kết quả khắc phục sau thời gian này, người bị kết án có thể được miễn phần hình phạt còn lại hoặc tiếp tục chấp hành án và được xem xét giảm hình phạt theo quy định.
Miễn, giảm nhẹ xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang
Theo Điều 10 Nghị quyết 29/2026/QH16, cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết có thể được miễn kỷ luật nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định, trong đó có yêu cầu về mục đích phát triển kinh tế – xã hội hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, dự án hoặc công trình đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, đồng thời không có khiếu nại, tố cáo hoặc khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết dứt điểm. Ngoài ra, phải thuộc trường hợp không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Trường hợp dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành và chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án và điều kiện khắc phục, đồng thời có cam kết và tích cực thực hiện theo tiến độ, phương án đã cam kết, khoản 2 Điều 10 quy định cơ chế xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục hậu quả.
Các cơ chế tại Điều 10 là chính sách đặc thù đối với nhóm đối tượng được Nghị quyết quy định; khi xử lý vụ việc cụ thể vẫn cần xác định đồng thời điều kiện áp dụng của Nghị quyết và các quy định pháp luật về xử lý kỷ luật có liên quan.
Quy trình đánh giá và hồ sơ chứng minh kết quả khắc phục hậu quả vi phạm đất đai
Quy trình đánh giá được thực hiện qua các bước cụ thể, đòi hỏi tổ chức, cá nhân vi phạm chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền có căn cứ kết luận về mức độ vi phạm và kết quả khắc phục.
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, thanh tra, kiểm tra rà soát, lập danh sách các vụ việc, vụ án, bản án có vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 thuộc phạm vi Nghị quyết 29/2026/QH16.
- Người đứng đầu cơ quan liên quan đánh giá tính hiệu quả kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của dự án, công trình đã triển khai; đánh giá khả năng, phương án, điều kiện khắc phục hậu quả.
- Tổ chức, cá nhân vi phạm chuẩn bị hồ sơ chứng minh gồm tài liệu về nguồn gốc dự án, quyết định giao đất, cho thuê đất, chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính, biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có) và tài liệu chứng minh hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án.
- Cơ quan có thẩm quyền đối chiếu hồ sơ với các tiêu chí tại Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16 để kết luận về mức độ vi phạm và kết quả khắc phục, làm căn cứ áp dụng một trong các hướng xử lý đã phân tích ở phần trên.
Đối với dự án tồn đọng, kéo dài, hồ sơ và trình tự xử lý thực hiện theo Nghị quyết 29/2026/QH16 và Nghị định 147/2026/NĐ-CP ngày 07/5/2026. Doanh nghiệp nên chủ động hệ thống hóa hồ sơ về quá trình thực hiện dự án, nguyên nhân vi phạm, thiệt hại và kết quả khắc phục để làm cơ sở chứng minh khi cơ quan có thẩm quyền xem xét..
Rủi ro và lưu ý khi áp dụng tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm, kết quả khắc phục đất đai
Việc áp dụng Nghị quyết 29/2026/QH16 cần được xem xét theo từng vụ việc và từng chính sách cụ thể. Một số rủi ro cần lưu ý gồm:
Rủi ro về yếu tố tham nhũng và chứng cứ
Nghị quyết yêu cầu xem xét tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng và các yếu tố liên quan đến vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm. Vì vậy, việc chỉ chứng minh đã khắc phục thiệt hại về tài chính chưa chắc đáp ứng đầy đủ điều kiện áp dụng chính sách. Tổ chức, cá nhân liên quan cần lưu giữ hồ sơ thể hiện quá trình ra quyết định, mục đích thực hiện và các biện pháp khắc phục để làm rõ bản chất vụ việc.
Rủi ro về thời hạn áp dụng
Cơ chế xử lý vi phạm theo Nghị quyết được áp dụng đến hết ngày 01/5/2029, trong khi cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho dự án tồn đọng, kéo dài áp dụng đến hết ngày 01/5/2031. Do đó, cần chủ động rà soát và hoàn thiện hồ sơ trong thời hạn áp dụng của từng cơ chế.
Không hợp pháp hóa sai phạm
Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết quy định việc thực hiện chính sách phải bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới. Vì vậy, việc thuộc phạm vi Nghị quyết không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn hoặc giảm trách nhiệm; cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đánh giá các điều kiện theo chính sách tương ứng.
Rủi ro trong xác định thiệt hại
Việc xác định không chính xác thiệt hại vật chất có thể ảnh hưởng đến đánh giá mức độ vi phạm và việc áp dụng chính sách trách nhiệm tương ứng. Đối với vụ việc có tranh chấp về giá trị thiệt hại, cần rà soát phương pháp xác định giá trị, nguồn tài liệu và kết quả định giá để bảo đảm có căn cứ khách quan.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ đất đai tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong các vụ việc liên quan đến tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai với các công việc sau:
- Rà soát toàn bộ hồ sơ dự án, quyết định giao đất, cho thuê đất và đối chiếu với phạm vi áp dụng của Nghị quyết 29/2026/QH16.
- Đánh giá mức độ vi phạm, xác định khung hình phạt có thể áp dụng theo Điều 229, Điều 230 Bộ luật Hình sự.
- Tư vấn phương án chứng minh kết quả khắc phục hậu quả và hoàn thiện hồ sơ chứng cứ theo đúng tiêu chí tại Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16.
- Đại diện hoặc cùng khách hàng làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thanh tra, kiểm tra trong quá trình xem xét áp dụng chính sách miễn, giảm trách nhiệm.
- Tư vấn thủ tục miễn, giảm nhẹ kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang liên quan đến vi phạm đất đai lịch sử.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai
Dưới đây là một số câu hỏi thực tế thường gặp khi tổ chức, cá nhân tìm hiểu về tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai theo Nghị quyết 29/2026/QH16.
1. Tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm đất đai áp dụng cho vi phạm phát sinh vào thời điểm nào?
Theo Nghị quyết 29/2026/QH16, cơ chế đánh giá chỉ áp dụng cho hành vi vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024, tức trước thời điểm Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành. Vi phạm phát sinh sau mốc thời gian này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết.
2. Mức thiệt hại tài sản bao nhiêu thì bị xử lý hình sự theo Điều 230 Bộ luật Hình sự?
Theo Điều 230 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1. Thiệt hại từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng thuộc một trong các trường hợp của khoản 2; từ 1 tỷ đồng trở lên thuộc khung hình phạt tại khoản 3. Việc xác định trách nhiệm hình sự còn phải căn cứ đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, không chỉ dựa vào giá trị thiệt hại.
3. Cán bộ, công chức vi phạm đất đai trước 01/8/2024 có đương nhiên được miễn kỷ luật không?
Không đương nhiên được miễn. Theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 29/2026/QH16, cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang chỉ được xem xét miễn kỷ luật nếu vi phạm vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, dự án đã hoàn thành mang lại hiệu quả và không còn khiếu nại, tố cáo chưa giải quyết, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ điều kiện cụ thể theo quy định.
4. Vi phạm có yếu tố tham nhũng có được áp dụng Nghị quyết 29/2026/QH16 không?
Không. Theo Điều 1, khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16, việc áp dụng chính sách phải bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân lợi dụng Nghị quyết để tham nhũng, tiêu cực. Vi phạm có yếu tố tham nhũng không thuộc đối tượng được xem xét miễn, giảm trách nhiệm theo cơ chế này.
5. Đến khi nào thì hết thời hạn áp dụng cơ chế đánh giá theo Nghị quyết 29/2026/QH16?
Cơ chế xử lý vi phạm pháp luật về đất đai được áp dụng đến hết ngày 01/5/2029. Riêng cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài được áp dụng đến hết ngày 01/5/2031. Sau các mốc thời gian này, việc xử lý vi phạm và dự án tồn đọng sẽ trở lại áp dụng theo quy định pháp luật thông thường.
6. Kết quả khắc phục hậu quả được thể hiện qua những tài liệu nào?
Kết quả khắc phục hậu quả thường được thể hiện qua chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, tài liệu chứng minh dự án đã hoàn thành và đưa vào khai thác hiệu quả, cùng biên bản giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan (nếu có), theo tinh thần khoản 2 Điều 3 và Điều 10 Nghị quyết 29/2026/QH16.
Kết luận
Tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm và kết quả khắc phục đất đai là căn cứ then chốt để tổ chức, cá nhân có vi phạm phát sinh trước ngày 01/8/2024 xác định khả năng được không truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt hoặc miễn giảm kỷ luật theo Nghị quyết 29/2026/QH16. Việc chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ về vai trò, động cơ, mức độ thiệt hại và kết quả khắc phục hậu quả ngay từ giai đoạn đầu có ý nghĩa quyết định đến kết quả đánh giá cuối cùng. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ tổ chức, cá nhân rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Quý khách cần tư vấn chi tiết có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Nghị quyết 29/2026/QH16
- Nghị định 147/2026/NĐ-CP
- Bộ luật Hình sự 2015
- Nghị định 172/2025/NĐ-CP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: dự án tồn đọng kéo dài, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hồ sơ chứng minh khắc phục hậu quả, kết quả khắc phục hậu quả đất đai, khắc phục hậu quả vi phạm đất đai, Miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ tài chính về đất đai, tiêu chí đánh giá mức độ vi phạm đất đai, trách nhiệm hình sự về đất đai, Vi phạm pháp luật đất đai, xử lý vi phạm đất đai

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.