Điều kiện tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo NQ 37/2026

Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự là cơ chế, chính sách đặc thù được quy định tại Nghị quyết số 37/2026/QH16 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, nhằm tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân có liên quan đến một số vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thời gian khắc phục hậu quả theo điều kiện luật định. Bài viết dưới đây của Luật Long Phan PMT phân tích đầy đủ điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và hệ quả pháp lý của cơ chế này, đồng thời chỉ ra những sai lầm thường gặp khi tự chuẩn bị hồ sơ trách nhiệm hình sự theo chính sách đặc thù này.

Điều kiện tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết 37/2026/QH16.
Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được xem xét khi đồng thời đáp ứng đủ 03 điều kiện tại Điều 7 Nghị quyết 37/2026/QH16.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng khi đáp ứng đồng thời 03 điều kiện quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16, không phải đáp ứng một trong ba.
  • Thời hạn tạm hoãn tối đa là 02 năm kể từ ngày ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.
  • Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thay đổi theo từng giai đoạn tố tụng — Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án — theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.
  • Không khắc phục hậu quả thiệt hại đúng cam kết mà không có lý do chính đáng sẽ bị hủy quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, theo khoản 5 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết 37/2026/QH16 là gì?

Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự (theo Điều 7 Nghị quyết 37/2026/QH16) là cơ chế cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ các thủ tục tố tụng trong một thời gian nhất định, nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm có thời gian và cơ hội thực hiện cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại. Cơ chế này áp dụng đặc thù cho các hành vi vi phạm liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhưng xuất phát từ mục đích “vì lợi ích chung”:

  • Theo khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16, “vì lợi ích chung” được hiểu là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương, vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi.
  • Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16 xác định “hậu quả thiệt hại” là hậu quả vật chất phát sinh từ hành vi vi phạm liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
  • Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định “khắc phục hậu quả thiệt hại” là việc tổ chức, cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp từ hành vi vi phạm thực hiện bồi thường, khắc phục nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan.

Cơ chế này khác với “không truy cứu trách nhiệm hình sự” tại Điều 5 và “miễn trách nhiệm hình sự” tại Điều 8 của Nghị quyết. Theo Điều 5, cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi đồng thời đáp ứng 05 điều kiện, trong đó hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, đồng thời đáp ứng các điều kiện khác về tham nhũng, khiếu nại, tố cáo và thất thoát, lãng phí tài sản. Trong khi đó, Điều 7 được đặt ra đối với hoạt động đang thực hiện, chưa hoàn thành và chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại, nhưng vẫn có điều kiện và khả năng khắc phục theo phương án khả thi.

“Miễn trách nhiệm hình sự” theo Điều 8 Nghị quyết số 37/2026/QH16 là quyết định pháp lý cụ thể của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng cho chính trường hợp đã đủ điều kiện không truy cứu tại Điều 5, phát sinh trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

03 điều kiện áp dụng tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16, cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khi đồng thời đáp ứng đủ 03 điều kiện sau đây:

Điều kiện thứ nhất — vì lợi ích chung

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16, hành vi vi phạm phải xuất phát từ mục đích vì lợi ích chung theo giải thích tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16 — tức vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực hoặc địa phương, không vì lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm. Đây là điều kiện tiên quyết, áp dụng chung cho cả 04 chính sách đặc thù của Nghị quyết, và cũng là điều kiện đầu tiên cơ quan tiến hành tố tụng xem xét khi đánh giá hồ sơ. Chủ thể vi phạm cần chứng minh được động cơ, mục đích của hành vi thông qua tài liệu, chứng cứ cụ thể, không chỉ dựa trên lời trình bày.

Điều kiện thứ hai — có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng

Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định điều kiện thứ hai là hành vi vi phạm có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không thuộc trường hợp tham nhũng. Theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16, “không tham nhũng” là việc không thực hiện các hành vi tham nhũng theo Luật Phòng, chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự, đồng thời phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác kết luận bằng văn bản. Điều kiện này khác với Điều 5 Nghị quyết số 37/2026/QH16 ở chỗ Điều 5 yêu cầu không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc nếu có thì đã khắc phục toàn bộ, trong khi Điều 7 chấp nhận trường hợp đã gây thất thoát nhưng chưa khắc phục xong, với điều kiện không có yếu tố tham nhũng.

Điều kiện thứ ba — hoạt động đang thực hiện, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng có cam kết khắc phục

Theo khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16, điều kiện thứ ba đòi hỏi các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang được thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại do nguyên nhân khách quan, nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và bảo đảm tính khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho địa phương, đất nước. Chủ thể vi phạm phải có cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16, tức thực hiện bồi thường, khắc phục nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan. Cam kết này là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng giám sát tiến độ trong suốt thời gian tạm đình chỉ.

Bảng dưới đây so sánh 03 điều kiện của Điều 7 với điều kiện tương ứng của Điều 5 (không truy cứu trách nhiệm hình sự):

Tiêu chí Điều 7 — tạm hoãn Điều 5 — không truy cứu
Yếu tố lợi ích chung Bắt buộc (khoản 1 Điều 7) Bắt buộc (khoản 2 Điều 5)
Yếu tố tham nhũng Không tham nhũng, có thể đã gây thất thoát tài sản nhà nước (khoản 2 Điều 7) Không tham nhũng (khoản 1 Điều 5)
Mức độ hoàn thành hoạt động Đang thực hiện, chưa hoàn thành (khoản 3 Điều 7) Đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội (khoản 3 Điều 5)
Tình trạng khắc phục hậu quả Chưa khắc phục xong do nguyên nhân khách quan, có cam kết khắc phục (khoản 3 Điều 7) Không gây thất thoát, lãng phí hoặc đã khắc phục toàn bộ nếu có (khoản 5 Điều 5)
Khiếu nại, tố cáo Không quy định là điều kiện bắt buộc Không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm (khoản 4 Điều 5)

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, nhiều chủ thể vi phạm nhầm lẫn giữa hai cơ chế này ngay từ khi chuẩn bị hồ sơ, dẫn đến việc đề nghị áp dụng Điều 5 trong khi hoạt động vẫn đang triển khai dở dang — trường hợp đúng phải xin áp dụng Điều 7. Việc xác định đúng điều kiện áp dụng ngay từ đầu quyết định toàn bộ chiến lược làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng.

Ba điều kiện áp dụng tạm hoãn gồm lợi ích chung, không tham nhũng và cam kết khắc phục.
Điều 7 Nghị quyết 37/2026/QH16 yêu cầu đồng thời đáp ứng đủ ba nhóm điều kiện để được xem xét tạm hoãn.

Thẩm quyền và thủ tục áp dụng theo từng giai đoạn tố tụng

Thẩm quyền áp dụng cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết số 37/2026/QH16 được xác định theo giai đoạn tố tụng mà vụ việc đang được giải quyết, theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và điều tra

Theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16, trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Giai đoạn truy tố

Trong giai đoạn truy tố, nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 7, Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Giai đoạn xét xử

Trong giai đoạn xét xử, nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 7, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Đối với các trường hợp tạm đình chỉ, thời hạn tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng thời hạn hoãn phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án

Theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 37/2026/QH16, nếu đã có bản án của Tòa án nhưng chưa có quyết định thi hành án mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 7, Tòa án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù, thời hạn tối đa 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời hiệu thi hành bản án và thời gian chấp hành hình phạt. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ tại Điều 7, khoản 4 Điều 10 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, thời hạn tối đa cũng là 02 năm, không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

Thời hạn tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và hệ quả khi hết thời hạn

Theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16, khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 7, các quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo có thời hạn tối đa 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với trường hợp hoãn phiên tòa, thời hạn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại

Theo điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16, khi hết thời hạn tạm đình chỉ mà tổ chức, cá nhân đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc theo từng giai đoạn tố tụng.

Cụ thể, đối với vụ việc đang ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử, Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo theo thẩm quyền.

Đối với trường hợp đã có bản án, nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 10 và hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt mà đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt theo điểm a khoản 2 Điều 10.

Trường hợp không khắc phục được hoặc khắc phục không đúng cam kết

Theo điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16, nếu không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại, hiệu quả kinh tế – xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khoản 5 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định trường hợp không khắc phục hoặc khắc phục hậu quả thiệt hại không theo tiến độ, phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng, cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục tiến hành thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì vậy, tổ chức, cá nhân được áp dụng cơ chế này cần chủ động theo dõi tiến độ khắc phục hậu quả theo đúng phương án đã cam kết; lưu giữ chứng từ thanh toán, tài liệu về việc khắc phục, báo cáo tiến độ và các văn bản trao đổi với cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp phát sinh trở ngại khách quan làm ảnh hưởng đến tiến độ, nên kịp thời lập tài liệu chứng minh nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và phương án điều chỉnh, thay vì chỉ giải trình bằng lời khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

>>> Xem thêm: Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì vụ án có bị đình chỉ?

Thời hạn tạm hoãn tối đa 02 năm và hệ quả pháp lý khi hết thời hạn tạm đình chỉ.
Khi hết thời hạn tạm đình chỉ, kết quả khắc phục hậu quả thiệt hại là căn cứ cho hướng xử lý tiếp theo.

Phân biệt tạm hoãn truy cứu với không truy cứu, loại trừ và miễn trách nhiệm hình sự

Bốn cơ chế của Nghị quyết số 37/2026/QH16 dễ bị nhầm lẫn vì cùng hướng đến việc khoan hồng cho người vi phạm vì lợi ích chung, nhưng khác nhau về bản chất, điều kiện và thời điểm áp dụng.

Tiêu chí Điều 5 — không truy cứu Điều 6 — loại trừ trách nhiệm Điều 7 — tạm hoãn truy cứu Điều 8 — miễn trách nhiệm
Bản chất Cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu TNHS khi đủ 05 điều kiện luật định. Hành vi không bị coi là tội phạm do đáp ứng quy định về rủi ro cho phép trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tạm dừng thủ tục tố tụng để có thời gian khắc phục hậu quả Quyết định pháp lý cụ thể miễn áp dụng cho trường hợp đã đủ điều kiện tại Điều 5
Điều kiện cốt lõi 05 điều kiện: không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành hiệu quả, không có khiếu nại tố cáo tồn đọng, không gây thất thoát hoặc đã khắc phục toàn bộ Tuân thủ đúng quy trình, đã áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa; hoặc thuộc lĩnh vực chưa có pháp luật điều chỉnh và đáp ứng 03 điều kiện tại khoản 2 Điều 6 03 điều kiện: vì lợi ích chung, có thất thoát nhưng không tham nhũng, hoạt động đang thực hiện có cam kết khắc phục Áp dụng khi chủ thể đã đủ điều kiện quy định tại Điều 5
Thời điểm áp dụng Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Ngay khi xác định hành vi thuộc trường hợp loại trừ, không cần chờ khắc phục hậu quả Trước khi hoàn thành khắc phục hậu quả, cần thời gian tối đa 02 năm Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, khi đã đủ điều kiện Điều 5
Hệ quả pháp lý Không bị xử lý hình sự Không phải chịu trách nhiệm hình sự Tạm dừng thủ tục; hết hạn thì đình chỉ nếu khắc phục xong hoặc tiếp tục truy cứu nếu chưa khắc phục Miễn trách nhiệm hình sự bằng quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng

Căn cứ: Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Những sai lầm thường gặp khi chuẩn bị hồ sơ xin tạm dừng thủ tục tố tụng

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận liên quan đến chính sách đặc thù của Nghị quyết số 37/2026/QH16, Luật Long Phan PMT nhận thấy phần lớn hồ sơ bị cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu bổ sung hoặc từ chối xem xét đều xuất phát từ một số lỗi lặp lại, không phải do bản chất vụ việc không đủ điều kiện.

  • Cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại viết chung chung, không kèm phương án cụ thể, mốc thời gian và nguồn lực thực hiện — trong khi khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16 yêu cầu khắc phục phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan một cách thực chất, không chỉ là văn bản cam kết hình thức.
  • Không tách bạch rõ phần thiệt hại phát sinh do yếu tố khách quan với phần thiệt hại có dấu hiệu liên quan đến hành vi tham nhũng, khiến hồ sơ bị kéo dài thời gian xác minh vì cơ quan tiến hành tố tụng phải chờ kết luận riêng theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16.
  • Hồ sơ thiếu tài liệu, chứng cứ chứng minh yếu tố “vì lợi ích chung” theo khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 37/2026/QH16, chỉ trình bày bằng lời mà không có văn bản, báo cáo, số liệu cụ thể chứng minh hoạt động phục vụ lợi ích của địa phương, ngành hoặc cộng đồng.

Một sai lầm phổ biến khác là nộp hồ sơ đề nghị đến sai cơ quan có thẩm quyền do không xác định đúng giai đoạn tố tụng vụ việc đang ở đâu tại thời điểm nộp, dẫn đến hồ sơ bị chuyển tiếp nhiều lần và mất thêm thời gian xử lý trong khi thời hạn tối đa 02 năm vẫn đang được tính từ thời điểm quyết định tạm đình chỉ được ban hành.

THÔNG TIN LIÊN HỆ


Nếu Quý khách đang cần đánh giá điều kiện tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định đúng cơ quan có thẩm quyền hoặc xây dựng phương án, cam kết khắc phục hậu quả theo Nghị quyết số 37/2026/QH16, Luật Long Phan PMT sẵn sàng rà soát hồ sơ, chứng cứ và tư vấn hướng xử lý phù hợp với từng giai đoạn tố tụng.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư hình sự

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

Câu hỏi thường gặp về điều kiện tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự NQ 37/2026

Dưới đây là một số câu hỏi thường được đặt ra liên quan đến chính sách tạm dừng thủ tục tố tụng theo Nghị quyết số 37/2026/QH16, kèm căn cứ pháp lý cụ thể.

1. Chính sách này áp dụng cho những vi phạm nào?

Cơ chế này áp dụng cho vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, theo Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết số 37/2026/QH16. Vi phạm liên quan đến đất đai được xử lý theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 riêng, không áp dụng Nghị quyết số 37/2026/QH16, theo khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

2. Thời hạn tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự tối đa là bao lâu?

Theo khoản 3 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16, các quyết định tạm đình chỉ được ban hành để thực hiện cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự có thời hạn tối đa 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Riêng trường hợp hoãn phiên tòa, thời hạn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với trường hợp hoãn chấp hành hình phạt tù khi đã có bản án, thời hạn cũng tối đa 02 năm theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

3. Nếu không khắc phục hết hậu quả thiệt hại trong thời hạn tạm hoãn thì xử lý thế nào?

Nếu hết thời hạn tạm đình chỉ mà hậu quả thiệt hại chưa được khắc phục toàn bộ, điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị quyết số 37/2026/QH16 quy định cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục thực hiện thủ tục theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi đó, căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại và hiệu quả kinh tế – xã hội đối với địa phương, đất nước để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.

4. Cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khác gì với miễn trách nhiệm hình sự?

Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng khi hoạt động chưa hoàn thành, hậu quả chưa được khắc phục đầy đủ nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và phương án khả thi để khắc phục. Trong khi đó, miễn trách nhiệm hình sự áp dụng khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 5 Nghị quyết 37/2026/QH16, trong đó hoạt động đã hoàn thành và nếu có thất thoát, lãng phí thì đã khắc phục toàn bộ hậu quả. (Điều 5, Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 37/2026/QH16).

5. Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ vụ việc?

Thẩm quyền phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng: Cơ quan điều tra trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo và điều tra; Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố; Tòa án trong giai đoạn xét xử hoặc khi đã có bản án, theo khoản 3 Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 37/2026/QH16.

6. Nghị quyết số 37/2026/QH16 có hiệu lực áp dụng đến khi nào?

Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026 và được thực hiện trong thời hạn 03 năm kể từ ngày có hiệu lực, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 37/2026/QH16. Các quyết định tạm đình chỉ ban hành trong thời hạn hiệu lực nhưng chưa hết thời hạn khi Nghị quyết hết hiệu lực vẫn tiếp tục được thực hiện đến khi kết thúc.

Kết luận

Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Nghị quyết số 37/2026/QH16 mở ra cơ hội để tổ chức, cá nhân vi phạm vì lợi ích chung có thời gian khắc phục hậu quả thiệt hại thay vì bị xử lý hình sự ngay, nhưng đòi hỏi hồ sơ chứng minh đủ 03 điều kiện, xác định đúng thẩm quyền theo giai đoạn tố tụng và tuân thủ nghiêm ngặt tiến độ cam kết trong suốt thời hạn tối đa 02 năm. Một sai sót trong hồ sơ hoặc chậm trễ trong khắc phục mà không có lý do chính đáng có thể khiến quyết định tạm đình chỉ bị hủy bỏ, dẫn đến việc tiếp tục bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ đánh giá điều kiện áp dụng và xây dựng phương án khắc phục hậu quả phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Nghị quyết số 37/2026/QH16
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2025)
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87