Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất giữa cá nhân và doanh nghiệp có thể thuộc về Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân các cấp. Việc phân cấp tùy vào tính chất pháp lý của vụ việc. Việc xác định sai cơ quan có thẩm quyền sẽ khiến hồ sơ bị trả lại và gây lãng phí thời gian của các bên. Nhằm hỗ trợ Quý khách xác định đúng lộ trình pháp lý, Luật Long Phan PMT xin chia sẻ hướng dẫn chi tiết ngay sau đây.

Xác định loại tranh chấp để cân nhắc việc tiến hành hòa giải tranh chấp hay không?
Việc xác định đúng loại tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để quyết định thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã có phải là bước bắt buộc hay không. Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, chỉ những tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất mới bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải tại cơ sở trước khi khởi kiện tại Tòa án. Đối với các tranh chấp về giao dịch, hợp đồng hoặc di sản thừa kế liên quan đến đất đai, hòa giải không phải là tiền kiện bắt buộc. Tuy nhiên, việc chủ động thực hiện hòa giải vẫn mang lại giá trị chiến lược trong việc củng cố hồ sơ chứng cứ và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
Tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất
Đây là loại tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng đất, thường phát sinh khi các bên không thống nhất được ranh giới hoặc nguồn gốc sử dụng đất.
Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Thủ tục này là điều kiện thụ lý vụ án tại Tòa án; nếu chưa qua hòa giải mà khởi kiện, Tòa án sẽ trả lại đơn kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Loại tranh chấp này bao gồm tranh chấp về ranh giới thửa đất giữa cá nhân và dự án của doanh nghiệp, tranh chấp do lấn chiếm đất hoặc tranh chấp về quyền sử dụng đất dựa trên các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024. Việc hòa giải tại UBND cấp xã giúp xác định hiện trạng sử dụng đất và thu thập ý kiến từ cơ quan quản lý đất đai địa phương.
Kết quả hòa giải (thành hoặc không thành) được ghi nhận bằng biên bản theo khoản 5 Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP. Đây là tài liệu quan trọng trong hồ sơ khởi kiện, giúp Tòa án xác định được yêu cầu của các bên và các nỗ lực tự thỏa thuận trước khi khởi kiện tại Toà án.
Tranh chấp giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất
Loại tranh chấp này tập trung vào tính hiệu lực và việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng, thay vì tranh giành quyền sử dụng đất thuần túy.
Căn cứ khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai 2024, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc hòa giải thông qua hòa giải viên ở cơ sở. Đối với tranh chấp phát sinh từ các giao dịch như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, các bên có thể trực tiếp nộp đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền mà không nhất thiết phải thông qua bước hòa giải tại UBND cấp xã.
Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, tranh chấp về hợp đồng dân sự là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong mối quan hệ giữa cá nhân và doanh nghiệp, nếu nội dung tranh chấp xoay quanh việc doanh nghiệp vi phạm tiến độ bàn giao đất hoặc cá nhân không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng chuyển nhượng, đây là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, không phải tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất.
Dù không bắt buộc, việc tiến hành hòa giải vẫn là khuyến nghị hàng đầu. Quá trình này giúp các bên hiểu rõ quan điểm của đối phương, từ đó có cơ hội chấm dứt tranh chấp sớm mà không cần qua các cấp xét xử tốn kém.
>>> Xem thêm: Các phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai

Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp?
Tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp thường tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý phức tạp, đặc biệt là khi các bên lúng túng trong việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền thụ lý để tránh việc bị trả lại đơn khởi kiện.
Trường hợp đất tranh chấp có giấy chứng nhận chủ quyền hoặc giấy tờ tương đương
Đối với tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp mà đối tượng tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024, thẩm quyền giải quyết duy nhất thuộc về Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Tòa án nơi có đất
Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, toà án nhân dân khu vực nơi có đất có thẩm quyền giải quyết. Thẩm quyền này căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Việc giải quyết tranh chấp đất đai đòi hỏi các hoạt động tố tụng đặc thù như xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc hiện trạng và định giá tài sản theo Điều 101 và Điều 104 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Việc Tòa án địa phương nơi có đất thụ lý sẽ giúp quá trình phối hợp với các cơ quan chuyên môn như Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được diễn ra nhanh chóng, đảm bảo hồ sơ địa chính được đối chiếu sát thực tế nhất.
Tòa án nơi người bị kiện cư trú
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu là cơ quan, tổ chức) thường có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất.
Nếu bản chất tranh chấp không phải là xác định quyền sở hữu/sử dụng đất mà là tranh chấp về hợp đồng (ví dụ: đòi lại tiền đặt cọc, phạt vi phạm hợp đồng chuyển nhượng), thì lúc này thẩm quyền thuộc Tòa án nơi doanh nghiệp có trụ sở theo sự lựa chọn của nguyên đơn hoặc theo thỏa thuận của các bên. Việc nhầm lẫn giữa tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng liên quan đến đất sẽ dẫn đến việc đơn khởi kiện bị trả lại hoặc chuyển giao thẩm quyền gây lãng phí thời gian.
Thủ tục giải quyết tranh chấp đất giữa cá nhân và doanh nghiệp tại tòa án
Sau khi xác định đúng Tòa án có thẩm quyền, vụ việc sẽ được giải quyết qua các giai đoạn tố tụng nghiêm ngặt.
- Cấp sơ thẩm: Căn cứ Điều 190 đến Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, quy trình bắt đầu từ việc nộp đơn, thụ lý, hòa giải tại Tòa án và chuẩn bị xét xử.
- Thụ lý vụ án và đóng tạm ứng án phí: Theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án phải kiểm tra hồ sơ. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền, Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí. Vụ án chỉ chính thức được thụ lý sau khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Đây là bước then chốt để xác lập thời điểm bắt đầu quá trình giải quyết tranh chấp.
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử và hòa giải: Căn cứ Điều 203 và Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tranh chấp đất đai thường kéo dài từ 04 đến 06 tháng. Trong giai đoạn này, Tòa án bắt buộc phải tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đối với tranh chấp đất đai, các hoạt động như xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 101) và định giá tài sản (Điều 104) là bắt buộc để xác định chính xác hiện trạng và giá trị phần đất tranh chấp giữa cá nhân và doanh nghiệp.
- Phiên tòa sơ thẩm và tuyên án: Nếu hòa giải không thành, Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử công khai. Hội đồng xét xử sẽ xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bên để ban hành bản án sơ thẩm. Theo Điều 273, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thời hạn 15 ngày để các đương sự thực hiện quyền kháng cáo nếu thấy quyền lợi chưa được bảo đảm thỏa đáng.
- Cấp phúc thẩm: Căn cứ Điều 270 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, nếu một trong các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử lại vụ án nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo và thời hạn thực hiện: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, các đương sự, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp hoặc cá nhân có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm (thường là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) sẽ thụ lý và thông báo cho các bên. Trong giai đoạn này, Tòa án phúc thẩm không thu thập lại toàn bộ chứng cứ mà chủ yếu tập trung xem xét các nội dung bị kháng cáo, đồng thời có thể tiếp nhận thêm các chứng cứ mới mà cấp sơ thẩm chưa kịp thu thập hoặc bị bỏ qua nhằm làm sáng tỏ bản chất vụ việc.
- Phán quyết phúc thẩm và tính hiệu lực: Căn cứ Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền: giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Điểm khác biệt cốt lõi là bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án. Kể từ thời điểm này, các bên bắt buộc phải thi hành án; mọi tranh chấp về nội dung vụ án chính thức khép lại về mặt tố tụng thông thường.
Trường hợp đất tranh chấp không có giấy chứng nhận chủ quyền hoặc giấy tờ tương đương
Khi đất tranh chấp không có Giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 Luật Đất đai 2024, đương sự có quyền lựa chọn một trong hai phương thức giải quyết: (1) Yêu cầu Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc (2) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024, đây là cơ chế mở cho phép các bên linh hoạt lựa chọn cơ quan tài phán phù hợp với tính chất của hồ sơ.
Quyền lựa chọn của người yêu cầu giải quyết tranh chấp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024, trường hợp đất không có giấy tờ, các bên có thể lựa chọn nộp đơn tại UBND hoặc Tòa án. Quyền lựa chọn này thuộc về bên yêu cầu giải quyết. Một khi đã chọn một trong hai cơ quan và cơ quan đó đã thụ lý, bên yêu cầu không được đồng thời yêu cầu cơ quan còn lại giải quyết, trừ trường hợp rút đơn hoặc có quyết định đình chỉ theo quy định.
Giải quyết tại UBND thường mang tính hành chính, tập trung vào hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương, trong khi Tòa án sẽ xem xét dựa trên hệ thống chứng cứ, lời khai và các nguyên tắc tố tụng dân sự chặt chẽ. Đối với tranh chấp giữa cá nhân và doanh nghiệp (thường liên quan đến các dự án chưa hoàn thiện pháp lý) việc lựa chọn Tòa án thường mang lại tính chung thẩm và khả năng cưỡng chế thi hành cao hơn qua hệ thống cơ quan thi hành án dân sự.
Thẩm quyền giải quyết của UBND
Trong trường hợp các bên lựa chọn giải quyết bằng con đường hành chính, thẩm quyền được phân định rõ ràng dựa trên đối tượng tham gia tranh chấp.
- Giải quyết lần đầu (Cấp tỉnh): Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức (doanh nghiệp), người có thẩm quyền giải quyết lần đầu là Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- UBND cấp xã hoàn toàn không có thẩm quyền giải quyết (ban hành quyết định giải quyết) tranh chấp đất đai. Vai trò của UBND cấp xã chỉ dừng lại ở việc tổ chức hòa giải cơ sở theo quy định tại Điều 235. Do đó, Chủ tịch UBND cấp xã không được quyền thụ lý và giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu cho doanh nghiệp hay cá nhân.
- Giải quyết lần hai: Theo khoản 3 Điều 236, nếu các bên không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, họ có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Thẩm quyền giải quyết của tòa án
Như đã phân tích tại phần trên, thẩm quyền của Tòa án đối với đất không có giấy tờ vẫn tuân thủ quy tắc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nơi có bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Quá trình giải quyết: Tòa án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ thông qua việc xác minh nguồn gốc đất tại UBND các cấp, lấy lời khai của những người sử dụng đất liền kề và thực hiện đo đạc thực tế. Việc không có giấy chứng nhận không ngăn cản Tòa án ban hành bản án xác định quyền sử dụng đất dựa trên quá trình sử dụng ổn định và các bằng chứng thực tế khác.
>> Xem thêm: Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Khuyến nghị của Luật sư để tránh những sai lầm khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Việc xác định sai thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp thường dẫn đến hậu quả đơn khởi kiện bị trả lại hoặc vụ án bị đình chỉ, gây lãng phí thời gian và chi phí tố tụng. Do đó, Luật sư của Long Phan PMT đưa ra các khuyến nghị thực tiễn sau:
Xác định sai loại tranh chấp dẫn đến đơn yêu cầu (đơn kiện) bị trả vì chưa hòa giải
Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, Nhà nước bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã đối với tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất. Nếu cá nhân kiện doanh nghiệp về việc lấn chiếm ranh giới mà chưa qua bước hòa giải này, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 do chưa đủ điều kiện thụ lý.
Ngược lại, đối với các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự như hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cá nhân và doanh nghiệp, căn cứ khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai 2024, khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hòa giải không phải là điều kiện bắt buộc. Việc cố gắng thực hiện hòa giải tại xã cho các loại tranh chấp này đôi khi làm kéo dài thời gian vô ích, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tẩu tán tài sản hoặc thay đổi pháp nhân. Khuyến nghị ở đây là cần soi chiếu vào đối tượng tranh chấp.
Xác định sai thẩm quyền về lãnh thổ
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đối với tranh chấp về bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, nhiều cá nhân vẫn nộp đơn tại Tòa án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở thay vì nơi có thửa đất tranh chấp, dẫn đến việc Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án theo Điều 41 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, gây kéo dài quá trình giải quyết.
Lưu ý đặc biệt khi đất không có giấy tờ: Trong trường hợp đất tranh chấp không có giấy tờ và đương sự chọn phương thức giải quyết tại UBND, cần lưu ý căn cứ điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024. Do có một bên là tổ chức (doanh nghiệp), thẩm quyền giải quyết lần đầu thuộc về Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Việc nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Chủ tịch UBND cấp xã là sai thẩm quyền về cấp, dẫn đến quyết định giải quyết có thể bị hủy bỏ do vi phạm trình tự, thủ tục pháp luật.
>> Xem thêm: Hướng dẫn bảo vệ quyền lợi khi bị kiện tranh chấp đất đai
Câu hỏi liên quan (FAQs) về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất giữa cá nhân và doanh nghiệp
Tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp thường mang tính chất phức tạp do sự chênh lệch về nguồn lực pháp lý và quy mô sử dụng đất của các dự án. Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn đảm bảo các phán quyết được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế. Dưới đây là các câu hỏi thường gặp giúp Quý khách xác định lộ trình pháp lý chính xác:
Tranh chấp ranh giới giữa hộ gia đình và công ty dự án có bắt buộc phải hòa giải tại xã không?
Có, đối với tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất, thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất là điều kiện tiền tố tụng bắt buộc trước khi khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, Nhà nước quy định tranh chấp đất đai mà các bên không tự hòa giải được thì phải gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để hòa giải. Trường hợp Quý khách tranh chấp về ranh giới thửa đất hoặc lấn chiếm với doanh nghiệp, đây được coi là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Nếu chưa qua bước này mà nộp đơn thẳng lên Tòa án, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Biên bản hòa giải không thành là tài liệu không thể thiếu trong hồ sơ khởi kiện để Tòa án thụ lý vụ án.
Tôi kiện doanh nghiệp vì chậm bàn giao nền đất trong hợp đồng thì có cần hòa giải tại xã không?
Không, các tranh chấp phát sinh từ giao dịch, hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất không bắt buộc phải thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Dựa trên hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP và khoản 1 Điều 235 Luật Đất đai 2024, những tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng hoặc cho thuê đất được xác định là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự. Do đó, cá nhân có quyền nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 mà không cần qua bước trung gian tại UBND cấp xã, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết và ngăn chặn doanh nghiệp tẩu tán tài sản.
Đất đã có Sổ đỏ đứng tên cá nhân bị doanh nghiệp lấn chiếm thì cơ quan nào giải quyết?
Tòa án nhân dân nơi có đất là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai khi đối tượng tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024, tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Thẩm quyền cụ thể theo lãnh thổ được xác định là Tòa án nhân dân khu vực nơi có đất theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Việc Tòa án nơi có đất thụ lý là bắt buộc để thực hiện các nghiệp vụ tố tụng quan trọng như xem xét, thẩm định tại chỗ theo Điều 101 và định giá tài sản theo Điều 104 nhằm xác định chính xác phần diện tích bị lấn chiếm trên thực địa.
Nếu đất tranh chấp chưa có giấy tờ thì tôi có được quyền kiện ra Tòa án không?
Có, đối với đất không có giấy tờ, cá nhân có quyền lựa chọn giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện trực tiếp tại Tòa án nhân dân. Đây là quyền lựa chọn của đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024. Trong mối quan hệ với doanh nghiệp, nếu đất chưa có Sổ đỏ, việc lựa chọn Tòa án thường mang lại tính đảm bảo cao hơn về mặt cưỡng chế thi hành án. Tòa án sẽ tiến hành thu thập chứng cứ bằng cách xác minh nguồn gốc đất tại địa phương và lấy lời khai nhân chứng để ban hành bản án. Tuy nhiên, cần lưu ý là một khi đã chọn một cơ quan và cơ quan đó đã thụ lý giải quyết, Quý khách không thể đồng thời yêu cầu cơ quan còn lại can thiệp trừ khi vụ việc bị đình chỉ hoặc rút đơn.
Thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong giải quyết tranh chấp với doanh nghiệp được quy định thế nào?
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết lần đầu đối với tranh chấp đất đai mà một bên là tổ chức (doanh nghiệp) và đất đó không có giấy tờ hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, nếu cá nhân chọn con đường hành chính để giải quyết tranh chấp đất không giấy tờ với một doanh nghiệp, đơn yêu cầu phải được gửi đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Cần đặc biệt lưu ý rằng UBND cấp xã hoàn toàn không có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp mà chỉ có chức năng hòa giải cơ sở theo Điều 235. Nếu các bên không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, họ có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
Luật sư tư vấn, tham gia giải quyết tranh chấp đất giữa cá nhân và doanh nghiệp
Giải quyết tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp là một quá trình tố tụng phức tạp. Để bảo vệ tối đa quyền tài sản và tránh lãng phí thời gian do xác định sai lộ trình pháp lý, Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư chuyên sâu với các hạng mục công việc cụ thể sau:
- Phân tích bản chất vụ việc để xác định loại tranh chấp.
- Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ và tham gia buổi hòa giải tại địa phương để đảm bảo biên bản hòa giải ghi nhận đầy đủ hiện trạng sử dụng đất và quan điểm các bên.
- Tư vấn xác định đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với từng loại tranh chấp.
- Soạn thảo đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp.
- Đại diện thân chủ làm việc với Tòa án trong giai đoạn thụ lý, nộp tạm ứng án phí và phối hợp trong các hoạt động xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản.
- Xây dựng phương án tranh tụng cho phiên tòa sơ thẩm để bảo vệ ranh giới thửa đất hoặc đòi quyền lợi trong các hợp đồng chuyển nhượng, thuê đất với doanh nghiệp.
- Thực hiện thủ tục kháng cáo và tham gia tranh tụng tại cấp phúc thẩm để yêu cầu xem xét lại các phán quyết chưa thỏa đáng, đảm bảo tính hiệu lực cuối cùng của bản án.
- Soạn thảo hồ sơ khiếu nại và đại diện làm việc với Chủ tịch UBND cấp tỉnh để giải quyết tranh chấp lần đầu theo đúng thẩm quyền.
- Tư vấn và thực hiện thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính nếu không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu.

Kết luận
Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền là bước then chốt để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong tranh chấp đất đai giữa cá nhân và doanh nghiệp. Tùy thuộc vào việc tranh chấp có hay không có Giấy chứng nhận mà thẩm quyền sẽ thuộc về Tòa án nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Đất đai. Để quy trình khởi kiện diễn ra thuận lợi, Quý khách có thể tham khảo Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp đất đai của chúng tôi. Nếu cần tư vấn pháp lý ngay lập tức, hãy liên hệ Hotline 1900636387 để được Luật Long Phan PMT hỗ trợ kịp thời.
Tags: Hòa giải tranh chấp đất đai, Khởi kiện doanh nghiệp tranh chấp đất đai, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai, Tranh chấp đất đai cá nhân và doanh nghiệp, Tranh chấp đất đai không có sổ đỏ

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.