Các phương án bào chữa trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán dựa trên việc phân tích sâu sắc các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015. Đội ngũ Luật sư tại Luật Long Phan PMT luôn chú trọng xây dựng hệ thống luận cứ vững chắc để xem xét hành vi khách quan, đánh giá mục đích chủ quan đến việc phản biện phương pháp xác định thiệt hại tài chính. Nội dung bài viết này sẽ trình bày một cách toàn diện và chi tiết những hướng tiếp cận bào chữa tối ưu nhất dành cho người đang bị buộc tội liên quan đến các giao dịch thao túng trên thị trường.

Tổng quan về tội Thao túng thị trường chứng khoán
Tội thao túng thị trường chứng khoán là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm trực tiếp đến tính minh bạch của thị trường vốn và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định các chế tài vô cùng khắt khe đối với tội phạm này. Việc nắm vững cấu thành pháp lý của tội danh này là cơ sở để các cá nhân, tổ chức nhận diện rủi ro và tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao dịch.
Thế nào là hành vi thao túng thị trường chứng khoán?
Hành vi thao túng thị trường chứng khoán được định nghĩa cụ thể trong khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán 2019 sửa đổi bổ sung 2025. Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015 quy định chi tiết các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Các phương án bào chữa trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán phải dựa trên việc phân tích kỹ lưỡng các yếu tố pháp lý này.
Theo quy định pháp luật, thao túng thị trường chứng khoán bao gồm các hành vi như:
- Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;
- Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;
- Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;
- Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;
- Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;
- Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.
Người nào thực hiện hành vi trên mà việc thực hiện các hành vi trên mà thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu không đủ cấu thành để truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy tính chất, mức độ của hành vi mà người thực hiện các hành vi trên sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 156/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Khung hình phạt và các rủi ro pháp lý đi kèm tội thao túng thị trường chứng khoán
Khung hình phạt cho tội thao túng thị trường chứng khoán được quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015 với các khung tương ứng mức độ nghiêm trọng.
Khung 1: phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi:
- Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; hoặc
- Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.
Khung 2: phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi:
Có tổ chức;
- Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên;
- Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;
- Tái phạm nguy hiểm.
Ngoài các hình phạt trên, Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì căn cứ theo khoản 4 Bộ luật Hình sự 2015, tương ứng với cấu thành của cá nhân thì mức phạt của pháp nhân thương mại tương ứng là:
- Khung 1. bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng
- Khung 2. bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;
- Hình thức bổ sung:
- Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng,
- Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc
- Cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm,
- Trường hợp rơi vào điều kiện bị đình chỉ vĩnh viễn theo Điều 79 Bộ luật Hình sự 2015 thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
>>> Xem thêm: Cho mượn tài khoản chứng khoán có vi phạm không, xử lý như thế nào?
Nhóm phương án bào chữa Hướng không phạm tội (Bào chữa vô tội)
Chiến lược bào chữa theo hướng không phạm tội lấy nguyên tắc suy đoán vô tội làm nền tảng để bác bỏ hoàn toàn các cáo buộc từ cơ quan tiến hành tố tụng. Việc triển khai phương án này đòi hỏi sự phân tích nhằm chỉ ra những mâu thuẫn trong hồ sơ, của căn cứ buộc tội hoặc những vi phạm nghiêm trọng thủ tục điều tra, từ đó khẳng định thân chủ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Chứng minh không có “Hành vi khách quan”
Chiến lược bào chữa vô tội đầu tiên tập trung vào việc phủ nhận hành vi khách quan cấu thành tội phạm. Phương án phải chứng minh các giao dịch chứng khoán là hoạt động đầu tư bình thường.
Việc phân tích dữ liệu giao dịch phải chứng minh không có sự thông đồng giữa các bên, không tạo cung cầu ảo. Các lệnh đặt mua bán được thực hiện theo quy luật thị trường, phản ánh đúng ý chí đầu tư thực sự. Bằng chứng về mục đích kinh doanh chính đáng như tái cơ cấu danh mục đầu tư, cân đối dòng tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ củng cố lập luận này.
Để lựa chọn phương án bào chữa theo hướng này, cần thu thập chứng cứ về bối cảnh thị trường tại thời điểm giao dịch, xu hướng biến động giá chung của ngành, các yếu tố vĩ mô tác động. Việc so sánh với hành vi giao dịch của các nhà đầu tư khác trong cùng thời điểm giúp chứng minh tính phổ biến, hợp lý của các quyết định đầu tư. Phân tích kỹ thuật chứng khoán, báo cáo tài chính doanh nghiệp niêm yết cũng là luận cứ quan trọng để bào chữa.
Loại trừ yếu tố “Mục đích thao túng”
Các phương án bào chữa trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán phải tập trung chứng minh thân chủ không có ý định thao túng giá. Việc này thể hiện bằng chứng về kế hoạch đầu tư dài hạn, chiến lược tài chính của thân chủ. Các tài liệu như biên bản họp hội đồng quản trị, nghị quyết đại hội cổ đông về định hướng đầu tư chứng minh mục đích kinh doanh chính đáng; lịch sử giao dịch trước đó, mô hình đầu tư nhất quán.
Sai lệch trong phương pháp xác định thiệt hại
Thông tư 117/2020/TT-BTC quy định phương pháp tính khoản thu trái pháp luật, số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Việc đánh giá số liệu khi xác định thiệt hại phải căn cứ theo các quy định rõ ràng. Việc định giá không có cơ sở, mơ hồ cũng là căn cứ để xây dựng phương án bào chữa theo hướng không phạm tội.

Nhóm phương án bào chữa hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho tội thao túng thị trường chứng khoán
Phương án bào chữa theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là chiến lược tập trung khai thác tối đa các tình tiết có lợi nhằm giảm khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn.
Chuyển đổi khung hình phạt
Chiến lược chuyển đổi khung hình phạt trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán xoay quanh việc phản biện các yếu tố định lượng tài chính. Phương án bào chữa phải bóc tách triệt để các chi phí giao dịch hợp lý khỏi số tiền thu lợi bất chính và chứng minh sự gián đoạn trong mối quan hệ nhân quả đối với thiệt hại của nhà đầu tư.
Đấu tranh và loại trừ yếu tố cấu thành thu lợi bất chính:
- Căn cứ pháp lý về mốc định lượng thu lợi: Theo điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội sẽ bị truy cứu theo khung hình phạt tăng nặng nếu thu lợi bất chính từ 1.500.000.000 đồng trở lên. Nếu cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh con số thực tế mà bị cáo thu được thấp hơn mốc 1,5 tỷ đồng này, có thể chuyển vụ án về xét xử theo khoản 1 Điều 211 (thu lợi từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng).
- Phản biện phương pháp tính toán và loại trừ chi phí hợp lý: bóc tách rõ và khấu trừ các khoản phí hợp lý phát sinh trong quá trình giao dịch như: thuế thu nhập cá nhân, phí giao dịch trả cho công ty chứng khoán, phí ứng trước tiền bán, lãi vay giao dịch ký quỹ.
- Tách bạch dòng tiền và các giao dịch hợp pháp độc lập: Không phải toàn bộ giao dịch trên tài khoản trong khoảng thời gian bị điều tra đều phục vụ mục đích thao túng. Cần chứng minh và tách biệt các giao dịch mua bán mang tính chất đầu tư giá trị thông thường, dựa trên phân tích cơ bản về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, ra khỏi các giao dịch có dấu hiệu tạo cung cầu giả tạo.
Phản biện cơ sở xác định mức độ thiệt hại vật chất đối với nhà đầu tư:
- Căn cứ pháp lý về mốc định lượng thiệt hại: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), hành vi thao túng gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 3.000.000.000 đồng trở lên sẽ bị áp dụng khung hình phạt nặng. Phương án bào chữa hướng đến việc chứng minh thiệt hại thực tế chưa tới mốc 3 tỷ đồng, nhằm chuyển đổi xuống khung cơ bản tại khoản 1 Điều 211 (thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng).
- Yêu cầu giám định lại thiệt hại tài chính: Nếu phát hiện phương pháp thống kê thiệt hại có sai sót, cào bằng hoặc tính toán dựa trên các nhà đầu tư không trực tiếp giao dịch đối ứng với nhóm tài khoản thao túng, người bào chữa có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định lại, nhằm ra được một con số thiệt hại chính xác cho bị cáo.
Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định
Căn cứ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chiến lược bào chữa tập trung làm rõ 03 nhóm yếu tố trọng tâm: (i) Tự nguyện khắc phục hậu quả thông qua việc nộp lại số tiền thu lợi bất chính; (ii) Thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; và (iii) Tính chất hạn chế trong vai trò đồng phạm đối với những người làm thuê, thực hiện hành vi theo chỉ đạo. Các biện pháp khắc phục thiệt hại được đặc biệt chú trọng trong trường hợp này là:
Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả:
- Hành vi này được ghi nhận tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP quy định về việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
- Việc bị cáo chủ động nộp lại toàn bộ hoặc một phần đáng kể số tiền thu lợi bất chính vào tài khoản tạm giữ của cơ quan điều tra chính là biểu hiện rõ nét nhất của việc khắc phục hậu quả.
- Việc khắc phục sẽ thể hiện được tính tự nguyện và kịp thời của hành động này, chứng minh bị cáo đã dùng tài sản hợp pháp của cá nhân hoặc gia đình để nộp phạt ngay cả khi vụ án chưa có bản án có hiệu lực pháp luật, từ đó giảm thiểu tối đa tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải:
- Tình tiết này được quy định cụ thể tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đổi bởi Điểm a Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) và được hướng dẫn bởi Khoản 17 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP.
- “Thành khẩn khai báo” không chỉ đơn thuần là thừa nhận hành vi phạm tội mà còn là sự chủ động cung cấp thông tin, tài liệu giúp cơ quan điều tra làm rõ bản chất vụ án (như cung cấp sao kê ngân hàng, thiết bị điện tử chứa tin nhắn chỉ đạo, phương thức mượn tài khoản).
- “Ăn năn hối cải” được thể hiện qua thái độ nhận thức rõ sai lầm, chấp hành nghiêm túc các quy định trong quá trình tại ngoại hoặc tạm giam.
Phân hóa vai trò đồng phạm đối với người làm thuê, cấp dưới:
- Việc đánh giá vai trò đồng phạm dựa trên Điều 12, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, kết hợp với các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 (người phạm tội có vai trò không đáng kể).
- Nhóm bị cáo này (thường là nhân viên cấp dưới) chỉ thực hiện hành vi đặt lệnh, chuyển tiền hoặc mở tài khoản một cách máy móc theo sự chỉ đạo của cấp trên mà không nhận thức được toàn bộ kế hoạch thao túng.
- Yếu tố then chốt để giảm nhẹ trách nhiệm là làm công ăn lương, thực hiện nhiệm vụ do bị lệ thuộc về mặt hành chính, hoàn toàn không được chia lợi ích từ số tiền thu lợi bất chính.
Vận dụng chính sách pháp luật hình sự đặc thù
Vận dụng chính sách pháp luật hình sự đặc thù là phương án bào chữa khai thác triệt để các yếu tố về nhân thân, thành tích đóng góp cho xã hội và đường lối xử lý tội phạm kinh tế mới nhất để thuyết phục Hội đồng xét xử áp dụng chính sách khoan hồng. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, việc tập hợp đầy đủ các tình tiết này tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 hoặc chuyển đổi hình phạt tù giam sang hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ, cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.
Khai thác toàn diện các tình tiết về nhân thân và thành tích đóng góp cho xã hội:
- Căn cứ điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác được xem là một tình tiết giảm nhẹ.
- Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, Tòa án có quyền coi các tình tiết khác như việc tích cực tham gia hoạt động từ thiện, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội là tình tiết giảm nhẹ và phải ghi rõ lý do trong bản án.
Vận dụng bản án tương tự và đường lối xử lý nhân đạo đối với tội phạm kinh tế:
- Nguyên tắc xử lý tội phạm tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rõ việc khoan hồng đối với người tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
- Việc viện dẫn các bản án tương tự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Nhóm phương án bào chữa theo hướng miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt
Trọng tâm của hướng bào chữa miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt là chứng minh hành vi vi phạm và bản thân người phạm tội không còn yêu cầu thiết yếu phải áp dụng các biện pháp trừng trị cách ly.
Điều kiện áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong tội danh kinh tế
Miễn trách nhiệm hình sự trong các vụ án kinh tế được áp dụng khi hành vi phạm tội không còn tính nguy hiểm cho xã hội do sự thay đổi của chính sách pháp luật, hoặc khi người phạm tội đáp ứng các điều kiện đặc biệt về việc tự thú, khắc phục triệt để hậu quả và lập công chuộc tội. Căn cứ tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), cơ chế này được phân tách thành hai nhóm chính: miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên và miễn trách nhiệm hình sự tùy nghi.
Các căn cứ đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự:
- Sự thay đổi của chính sách pháp luật hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử mà có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội được miễn trách nhiệm khi có quyết định đại xá của Quốc hội.
Các căn cứ xem xét miễn trách nhiệm hình sự tùy nghi:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, đối với các tội danh kinh tế, nếu trước khi hành vi bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự thật, tự nguyện sửa chữa, bồi thường toàn bộ thiệt hại và có những đóng góp lớn (lập công chuộc tội) có thể được miễn trách nhiệm.
Trường hợp người phạm tội tự thú hoặc lập công chuộc tội lớn
Việc người phạm tội tự thú và lập công chuộc tội lớn là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng nhất để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 29 và Điều 59 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Để áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), điều kiện tiên quyết đầu tiên là hành vi tự thú. Đồng thời, việc tự thú phải song hành với nỗ lực khắc phục hậu quả và những cống hiến đặc biệt.
Người phạm tội phải thực hiện ngay lập tức các biện pháp nhằm cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm. Trong các vụ án kinh tế, điều này thường được cụ thể hóa bằng việc chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, tiền thu lợi bất chính hoặc bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại trước khi có yêu cầu từ cơ quan chức năng.
Hành vi lập công lớn thường được thể hiện thông qua việc cung cấp chứng cứ quan trọng giúp cơ quan điều tra triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức, hoặc tố giác những hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng khác mà cơ quan nhà nước chưa nắm bắt. Phương án bào chữa cần hệ thống hóa các biên bản ghi nhận thành tích hoặc văn bản xác nhận của cơ quan điều tra để chứng minh sự phối hợp này đạt đến mức độ xuất sắc, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Các câu hỏi thường gặp liên quan đến Bào chữa trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán
Thao túng thị trường chứng khoán là một trong những tội danh kinh tế phức tạp nhất hiện nay, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về cả kỹ thuật tài chính lẫn quy định tố tụng hình sự. Dưới đây là những câu hỏi thường gặp giúp người bị buộc tội định hình phương án bào chữa tối ưu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hành vi nào được xác định là thao túng thị trường chứng khoán theo luật mới nhất?
Hành vi thao túng bao gồm việc tạo cung cầu giả tạo thông qua thông đồng, liên tục đặt lệnh mua bán chéo hoặc đưa ra thông tin sai lệch để tác động bất hợp pháp lên giá chứng khoán. Căn cứ Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán 2019 (sửa đổi, bổ sung 2025), các hành vi điển hình gồm: sử dụng nhiều tài khoản để mua bán liên tục tạo thanh khoản ảo; thông đồng đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu; hoặc sử dụng khối lượng chi phối vào thời điểm mở/đóng cửa thị trường để tạo mức giá mới. Việc bào chữa cần tập trung phân tích xem các lệnh giao dịch có phản ánh ý chí đầu tư giá trị thực sự hay chỉ là công cụ tạo giá giả. Nếu chứng minh được giao dịch dựa trên phân tích kỹ thuật hoặc tin tức vĩ mô, bị cáo có thể loại bỏ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Ngưỡng thu lợi hoặc thiệt hại bao nhiêu thì bị khởi tố hình sự tội thao túng chứng khoán?
Một cá nhân chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi thao túng dẫn đến thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1 tỷ đồng trở lên. Theo khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, ngưỡng định lượng để khởi tố vụ án đối với cá nhân là thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng. Trường hợp chưa đạt mức này, người vi phạm sẽ bị xử lý hành chính theo Nghị định 156/2020/NĐ-CP. Trong quá trình bào chữa, việc phản biện phương pháp tính toán của cơ quan giám định là rất quan trọng. Nếu bóc tách được các giao dịch hợp pháp độc lập hoặc chứng minh sai lệch trong cách tính “số lợi bất hợp pháp”, bị cáo có thể được chuyển sang xử lý hành chính thay vì hình sự.
Làm thế nào để chứng minh vô tội trong vụ án thao túng thị trường chứng khoán?
Phương án bào chữa vô tội tập trung vào việc không chấp nhận “hành vi khách quan” và loại trừ “mục đích thao túng”, khẳng định các giao dịch là hoạt động đầu tư tài chính bình thường. Chiến lược này dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Người bào chữa cần cung cấp bằng chứng về kế hoạch đầu tư dài hạn, báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết hoặc các nghị quyết của Hội đồng quản trị chứng minh mục đích kinh doanh chính đáng (như tái cơ cấu danh mục). Nếu dữ liệu giao dịch cho thấy lệnh mua bán được thực hiện theo quy luật cung cầu thị trường và biến động giá cổ phiếu tương đồng với xu hướng chung của ngành tại thời điểm đó, bị cáo có cơ sở để khẳng định không có sự thông đồng hay tạo giá ảo theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015.
Vai trò của người làm thuê (nhân viên đặt lệnh) được xem xét giảm nhẹ như thế nào?
Những người thực hiện hành vi do bị lệ thuộc về hành chính, làm công ăn lương và không được hưởng lợi từ số tiền thao túng thường được xem xét vai trò giúp sức hạn chế để giảm nhẹ án. Dựa trên Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 về trách nhiệm của đồng phạm, Tòa án sẽ phân hóa vai trò của từng người. Đối với nhân viên cấp dưới chỉ thực hiện việc mở tài khoản hoặc đặt lệnh theo chỉ đạo máy móc của cấp trên, họ không có mục đích chiếm đoạt hay thao túng trực tiếp. Đặc biệt, theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, nếu bị cáo thành khẩn khai báo và có vai trò không đáng kể, họ có cơ hội lớn để được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 hoặc được hưởng án treo theo Điều 65.
Việc chủ động nộp lại tiền thu lợi bất chính có giúp bị cáo được hưởng án treo không?
Có, tự nguyện khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt quan trọng để Tòa án cân nhắc áp dụng các hình phạt ngoài tù giam hoặc án treo. Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn tại Nghị định 04/2025/NQ-HĐTP, hành vi tự nguyện bồi thường thiệt hại thể hiện sự ăn năn hối cải và giảm bớt tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đối với tội thao túng chứng khoán, nếu bị cáo nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tố tụng, đây là căn cứ để luật sư đề nghị Tòa án áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, cho bị cáo hưởng án treo nếu đáp ứng các điều kiện khác.
Pháp nhân thương mại (công ty) phạm tội thao túng chứng khoán đối mặt rủi ro gì?
Pháp nhân có thể bị phạt tiền lên đến 10 tỷ đồng và đối mặt với án phạt bổ sung là cấm huy động vốn hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu vi phạm đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ khoản 4 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, nếu pháp nhân thương mại phạm tội thuộc khung tăng nặng, mức phạt tiền tối thiểu là 5 tỷ và tối đa là 10 tỷ đồng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn bị cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 đến 03 năm. Đặc biệt, theo Điều 79 Bộ luật Hình sự 2015, nếu pháp nhân được thành lập chỉ nhằm thực hiện hành vi thao túng hoặc gây thiệt hại đặc biệt lớn cho thị trường vốn, Tòa án có thể tuyên đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Khi nào bị cáo trong vụ án thao túng chứng khoán được miễn trách nhiệm hình sự?
Bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự nếu tự thú, lập công lớn trong việc triệt phá đường dây thao túng hoặc do thay đổi chính sách pháp luật làm hành vi không còn nguy hiểm. Căn cứ Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), một người có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu trước khi hành vi bị phát giác đã tự thú, khai rõ sự thật và tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra thu hồi tài sản bị thất thoát. Trong các vụ án thao túng chứng khoán có tổ chức, việc cung cấp bằng chứng giúp xác định “kẻ chủ mưu” được coi là lập công lớn. Ngoài ra, nếu có sự thay đổi về chính sách kinh tế khiến hành vi thao túng đó không còn bị coi là tội phạm tại thời điểm xét xử, bị cáo sẽ được áp dụng miễn trách nhiệm theo khoản 1 Điều 29.
Dịch vụ Luật sư bào chữa vụ án thao túng thị trường chứng khoán
Dịch vụ luật sư bào chữa của Luật Long Phan PMT thực hiện các công việc sau cho Quý khách hàng trong vụ án theo túng thị trường chứng khoán:
- Phân tích hồ sơ vụ án, đánh giá chứng cứ buộc tội trong kết luận điều tra, cáo trạng.
- Xây dựng chiến lược bào chữa phù hợp: vô tội, giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo hồ sơ vụ án khách quan.
- Hướng dẫn thu thập chứng cứ gỡ tội, tài liệu chứng minh các tình tiết giảm nhẹ.
- Tham gia đầy đủ các phiên làm việc với cơ quan điều tra, viện kiểm sát và bào chữa tại Tòa án.
- Tư vấn và thực hiện thủ tục xin tại ngoại, thay đổi biện pháp ngăn chặn.
>>> Xem thêm:Dịch vụ luật sư bào chữa cho tội phạm kinh tế
Kết luận
Lựa chọn chiến lược bào chữa phù hợp là giúp xác định chính xác trách nhiệm hình sự trong vụ án thao túng chứng khoán. Luật sư hỗ trợ làm rõ tính hợp pháp của các giao dịch để bác bỏ yếu tố buộc tội không có cơ sở. Đội ngũ chuyên gia tập trung thu thập chứng cứ giảm nhẹ để bảo vệ quyền lợi tối đa cho bị can. Luật Long Phan PMT cung cấp Dịch vụ luật sư hình sự. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được hỗ trợ tư vấn chuyên sâu.
Tags: Điều 211 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Khung hình phạt thao túng chứng khoán, Luật sư bào chữa hình sự, Luật sư tư vấn chứng khoán, Miễn trách nhiệm hình sự tội kinh tế, Tội thao túng thị trường chứng khoán

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.