Các trường hợp không tiến hành định giá tài sản đúng luật trong tố tụng hình sự ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tội danh và khung hình phạt. Kết quả định giá là cơ sở để cơ quan chức năng quyết định mức án cũng như trách nhiệm bồi thường dân sự. Nếu quy trình này bị thiếu sót, Tòa án sẽ không đủ căn cứ để ra phán quyết chính xác. Điều này dẫn đến nguy cơ oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng. Nhằm giúp Quý khách hiểu rõ quy định này, Luật Long Phan PMT xin phân tích cụ thể trong bài viết sau.

Tổng quan về định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Kết luận định giá tài sản được xem là nguồn chứng cứ vật chất quan trọng để cơ quan chức năng xác định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hoạt động được thực hiện bởi hệ thống các chủ thể có thẩm quyền để đảm bảo tính độc lập và minh bạch trong quá trình tố tụng. Việc tìm hiểu tổng quan về chế định này sẽ được làm rõ thông qua hai khía cạnh pháp lý trọng yếu gồm:
Vai trò của định giá tài sản
Thứ nhất, xác định cấu thành tội phạm (định tội). Đối với các tội xâm phạm sở hữu có cấu thành vật chất như Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tham ô tài sản…, giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc bị thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Kết luận định giá trong trường hợp này là cơ sở để xác định hành vi có vượt qua ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.
Thứ hai, xác định khung hình phạt (định khung). Trong nhiều tội danh, giá trị tài sản không chỉ dùng để định tội mà còn là tình tiết định khung hình phạt, ảnh hưởng trực tiếp đến mức án, loại hình phạt và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Thứ ba, giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi xét xử vụ án hình sự, Tòa án đồng thời xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có yêu cầu. Trong trường hợp này, kết luận định giá tài sản là căn cứ pháp lý trực tiếp để xác định mức thiệt hại thực tế, làm cơ sở buộc bị cáo bồi thường cho bị hại theo quy định của pháp luật dân sự.
Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu, trưng cầu và thực hiện định giá tài sản
Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền trưng cầu định giá tài sản. Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mới có thẩm quyền ban hành văn bản trưng cầu (yêu cầu) định giá tài sản.
Thứ hai, chủ thể có quyền yêu cầu định giá hoặc định giá lại. Những người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, bị hại, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không có quyền tự mình thuê tổ chức hoặc cá nhân thực hiện định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, theo Điều 216 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, họ có quyền đề nghị bằng văn bản để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trưng cầu định giá hoặc định giá lại, khi có căn cứ cho rằng kết luận định giá trước đó không chính xác, không khách quan hoặc có vi phạm thủ tục.
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc định giá tài sản. Khác với tố tụng dân sự, trong tố tụng hình sự, việc định giá tài sản không do doanh nghiệp thẩm định giá tư nhân thực hiện, mà thuộc thẩm quyền riêng biệt của Hội đồng định giá tài sản. Hội đồng này được thành lập theo từng vụ việc và hoạt động theo quy định của Chính phủ về định giá tài sản trong tố tụng hình sự (hiện hành là nghị định điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này), với sự tham gia của các cơ quan chuyên môn, thường do cơ quan tài chính làm đầu mối theo Điều 7 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
>>> Xem thêm:
Trường hợp không cần xác định giá trị tài sản để giải quyết vụ án hình sự
Trong thực tiễn xét xử, không phải mọi tài sản liên quan đến vụ án đều cần quy đổi ra giá trị bằng tiền. Các tình huống ngoại lệ cho phép không cần tiến hành định giá tài sản bao gồm:
Giá trị tài sản không phải là dấu hiệu cấu thành tội phạm
Đối với các tội xâm phạm sở hữu có yếu tố chiếm đoạt, pháp luật hình sự hiện hành phân biệt rõ:
Thứ nhất, tội phạm có cấu thành vật chất.
Đây là những tội danh mà giá trị tài sản là dấu hiệu bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự, đồng thời là căn cứ định tội hoặc định khung hình phạt. Điển hình là Tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), trong đó hành vi chiếm đoạt chỉ bị coi là tội phạm khi giá trị tài sản đạt từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc thuộc các trường hợp đặc biệt khác theo luật định. Do đó, trong các tội danh này, việc định giá tài sản là điều kiện bắt buộc để giải quyết vụ án.
Thứ hai, tội phạm có cấu thành hình thức.
Đây là nhóm tội danh mà chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm đã hoàn thành, không phụ thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt. Tiêu biểu là Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015. Theo quy định này, hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không đặt ra điều kiện về giá trị tài sản.
Tương tự, đối với một số tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội hoặc an ninh quốc gia, tài sản (nếu có) chỉ là yếu tố phụ hoặc hệ quả của hành vi phạm tội, không phải là đối tượng chính cần bảo vệ. Trong các trường hợp này, việc định giá tài sản không có ý nghĩa pháp lý đối với việc xác định tội danh, khung hình phạt hay trách nhiệm hình sự, nên không phải là yêu cầu bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án.
Tài sản chỉ là công cụ, phương tiện phạm tội, không cần xác định giá trị
Theo Điều 89 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, vật chứng là “vật, tiền, giấy tờ được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm; vật là đối tượng của tội phạm…”. Đồng thời, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định việc xử lý vật chứng theo hướng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy đối với công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng hoặc gây nguy hiểm cho xã hội.
Từ các quy định này có thể thấy, giá trị bằng tiền của công cụ, phương tiện phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc phải làm rõ trong mọi trường hợp, nếu việc xác định giá trị đó không có ý nghĩa đối với việc định tội, định khung hình phạt hoặc giải quyết trách nhiệm dân sự.
Lý do không cần định giá trong nhiều trường hợp:
- Thứ nhất, đối với việc định tội danh, yếu tố quyết định không nằm ở giá trị của công cụ, phương tiện phạm tội mà ở hậu quả, mức độ nguy hiểm của hành vi. Chẳng hạn, trong vụ án Cố ý gây thương tích, căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự chủ yếu là tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại, tình tiết sử dụng hung khí nguy hiểm, chứ không phụ thuộc vào giá trị của con dao, gậy gỗ hay vật dụng được sử dụng.
- Thứ hai, đối với việc xử lý vật chứng, các công cụ, phương tiện phạm tội như dao, gậy, vật sắc nhọn thường được Tòa án xác định là hung khí nguy hiểm và tuyên tịch thu, tiêu hủy theo khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Trong trường hợp này, việc thành lập Hội đồng định giá để xác định giá trị cụ thể của vật chứng không làm thay đổi cách thức xử lý vật chứng, cũng không ảnh hưởng đến bản chất vụ án, nên không đặt ra yêu cầu phải định giá.

Trường hợp không thể định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Tính chính xác của kết luận định giá phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tiếp cận và kiểm tra thực tế đối với tang vật hoặc hồ sơ mô tả chi tiết về tài sản. Khi các dữ liệu này không tồn tại, cơ quan chuyên môn sẽ không có đủ cơ sở khoa học để xác định giá trị, gây khó khăn lớn cho quá trình chứng minh hành vi phạm tội. Căn cứ quy định pháp luật, các trường hợp bất khả kháng khiến hoạt động định giá không thể thực hiện bao gồm:
Tài sản không còn tồn tại tại thời điểm định giá
Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến việc không thể thực hiện hoạt động định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Theo nguyên tắc chung, trong trường hợp tài sản không còn hiện hữu do đã bị tiêu thụ, tiêu hủy, thất lạc hoặc không thể thu hồi, Hội đồng định giá vẫn có thể tiến hành định giá thông qua hồ sơ, tài liệu nếu các thông tin về tài sản còn đầy đủ và đáng tin cậy theo điểm d khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc định giá không thể thực hiện khi tài sản vừa không còn tồn tại, vừa không có hồ sơ, chứng từ hoặc dữ liệu cần thiết để xác định đặc tính cơ bản.
Có thể minh họa bằng tình huống thực tiễn sau: trong một vụ án trộm cắp tài sản, tang vật là một chiếc nhẫn vàng không rõ nguồn gốc. Người phạm tội khai đã bán chiếc nhẫn này cho tiệm vàng và tang vật đã bị nung chảy, không còn hiện vật để thu giữ. Bị hại khai mua chiếc nhẫn từ nhiều năm trước tại chợ tự do, không có hóa đơn, không xác định được trọng lượng, hàm lượng vàng, kiểu dáng hoặc chủng loại. Như vậy, cả hiện vật lẫn hồ sơ chứng minh đặc tính của tài sản đều không còn.
Theo điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản phải căn cứ vào giá thị trường của tài sản tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm, trong đó việc xác định giá trị được thực hiện thông qua so sánh với tài sản cùng loại hoặc tài sản tương tự. Để có thể áp dụng phương pháp này, tối thiểu phải xác định được các đặc tính cơ bản của tài sản như chất liệu, chủng loại, trọng lượng, hàm lượng, nhãn hiệu hoặc các thông số kỹ thuật tương đương. Trường hợp không thể xác định được những đặc điểm này, không tồn tại căn cứ pháp lý và thực tiễn để lựa chọn tài sản tương tự làm đối tượng so sánh.
Tài sản không xác định được đặc tính, tình trạng
Đối với hàng hóa trôi nổi, không nhãn mác, tự chế, như máy móc tự lắp ráp, phương tiện độ chế, nông cụ tự chế hoặc hàng hóa nhập lậu không có nhãn hiệu, model, thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng,… thì không có cơ sở để xác định giá trị.
Đối với tài sản ảo hoặc các đối tượng chưa được pháp luật công nhận là tài sản, như tiền mã hóa (Bitcoin, các loại tiền ảo khác), vật phẩm trong trò chơi điện tử, tài sản số chưa có khung pháp lý điều chỉnh, thì không đáp ứng khái niệm “tài sản” theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015. Mặc dù các đối tượng này có thể được mua bán, trao đổi trên các nền tảng không chính thống hoặc thị trường ngầm, nhưng không tồn tại thị trường hợp pháp được Nhà nước thừa nhận, không có cơ chế quản lý giá, không có giá niêm yết hoặc giá tham chiếu hợp pháp.

Trường hợp pháp luật không thừa nhận tài sản là đối tượng định giá
Để được tiến hành định giá, tài sản bắt buộc phải thỏa mãn các tiêu chí về tính hợp pháp trong giao dịch dân sự và khả năng xác định giá trị thực tế trên thị trường. Pháp luật hiện hành quy định rõ các trường hợp ngoại lệ mà tại đó, việc định giá là không cần thiết hoặc không thể thực hiện do bản chất của vật chứng trái pháp luật hoặc vô giá trị. Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn thi hành, các trường hợp không được thừa nhận là đối tượng định giá bao gồm:
Vật, tiền bị pháp luật cấm lưu hành
Đây là nhóm đối tượng đặc thù mà trong thực tiễn tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra không thực hiện việc trưng cầu định giá, mặc dù các vật này là tang vật của vụ án.
Về bản chất pháp lý, theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản được coi là đối tượng của quan hệ dân sự phải là tài sản được phép lưu thông. Đối với các loại vật, tiền thuộc diện pháp luật cấm lưu hành như: chất ma túy, vũ khí quân dụng, chất phóng xạ, vật liệu nổ và các hàng hóa cấm khác, pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng. Do đó, các đối tượng này không đáp ứng điều kiện pháp lý để được coi là tài sản lưu thông trên thị trường.
Theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải dựa trên “giá thị trường của tài sản tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm”. Tuy nhiên, đối với vật, tiền bị pháp luật cấm lưu hành, không tồn tại thị trường hợp pháp để xác định giá. Việc sử dụng giá giao dịch bất hợp pháp (thị trường ngầm, chợ đen) làm căn cứ định giá không chỉ trái với tinh thần của Điều 20, mà còn dẫn đến hệ quả pháp lý nghiêm trọng là gián tiếp thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của thị trường bất hợp pháp, điều mà pháp luật không cho phép.
Mặt khác, việc định giá các vật, tiền thuộc diện cấm lưu hành không có ý nghĩa trong việc định tội danh hoặc định khung hình phạt. Đối với các tội phạm liên quan đến hàng cấm, điển hình như tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), yếu tố quyết định trách nhiệm hình sự là khối lượng, thể tích, hàm lượng của chất cấm, chứ không phải giá trị bằng tiền. Theo đó, trường hợp này không phải là trưng cầu định giá tài sản, mà là trưng cầu giám định tư pháp. Việc giám định nhằm xác định chính xác tên gọi, chủng loại, hàm lượng, trọng lượng hoặc thể tích của vật cấm, làm căn cứ trực tiếp để xác định tội danh, khung hình phạt và trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với yêu cầu chứng minh trong tố tụng hình sự và tinh thần của Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.
Tài sản không có giá trị sử dụng hoặc giá trị trao đổi
Trong thực tiễn tố tụng hình sự, có nhiều trường hợp vật chứng không còn giá trị để định giá, thường gặp đối với phế phẩm, rác thải hoặc đồ vật đã bị hư hỏng hoàn toàn, không thể khôi phục công năng ban đầu.
- Đối với tài sản bị hư hỏng hoàn toàn, chẳng hạn như phương tiện giao thông bị cháy rụi, chỉ còn lại khung kim loại biến dạng và không thể sửa chữa, phục hồi công năng, thì tài sản này không còn được định giá theo công dụng ban đầu. Trường hợp còn khả năng thu hồi vật liệu, việc xem xét giá trị chỉ có thể đặt ra dưới góc độ phế liệu. Tuy nhiên, nếu giá trị phế liệu thu hồi thấp hơn chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý, thì vật đó không còn giá trị kinh tế, được coi là rác thải và không phải đối tượng của hoạt động định giá.
- Đối với các vật mang tính tâm linh, mê tín, như bùa chú, ngải, đồ vật thờ cúng tự tạo hoặc các vật chỉ mang giá trị tinh thần riêng biệt đối với cá nhân sở hữu nhưng không có giá trị trao đổi trên thị trường hợp pháp, thì không thể quy đổi thành giá trị tiền tệ. Do không đáp ứng tiêu chí về giá trị sử dụng hoặc giá trị trao đổi, các vật này không thuộc đối tượng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Về hệ quả tố tụng, khi vật chứng được xác định là không có giá trị hoặc có giá trị bằng 0 đồng, việc trưng cầu định giá là không cần thiết và không có ý nghĩa chứng minh. Trong các trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, theo đó vật chứng không còn giá trị sử dụng hoặc không thể lưu hành hợp pháp sẽ bị tịch thu và tiêu hủy theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
>>> Xem thêm:
- Các trường hợp định giá lại tài sản trong tố tụng hình sự
- Thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Trường hợp đã có căn cứ khác thay thế việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Việc định giá có thể không cần thực hiện khi hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ chứng cứ về giá trị tài sản. Việc sử dụng các căn cứ thay thế hợp pháp này thường được xem xét chấp thuận trong các trường hợp sau sau:
Giá trị tài sản đã được xác định rõ, không có tranh chấp
Trường hợp này phát sinh khi tài sản trong vụ án có nguồn gốc hợp pháp, rõ ràng và giá trị của tài sản được thể hiện minh bạch, nhất quán thông qua hệ thống chứng từ kế toán – tài chính, không có sự mâu thuẫn giữa các bên liên quan.
Về cơ sở pháp lý, theo Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, chứng cứ được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó bao gồm vật chứng, dữ liệu điện tử, tài liệu, đồ vật và các nguồn hợp pháp khác. Do đó, các chứng từ kế toán, tài chính hợp lệ, được thu thập đúng trình tự, thủ tục, có thể được sử dụng làm căn cứ xác định giá trị tài sản trong quá trình giải quyết vụ án.
Theo điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là hàng hóa mới, vừa được giao dịch và có đầy đủ hồ sơ pháp lý chứng minh giá trị, cơ quan tiến hành tố tụng có thể căn cứ trực tiếp vào các tài liệu này để xác định giá trị tài sản, nếu không phát sinh tranh chấp và không có dấu hiệu bất thường, mà không nhất thiết phải trưng cầu Hội đồng định giá. Các tài liệu thường được sử dụng bao gồm: hóa đơn giá trị gia tăng thể hiện giá trị giao dịch đã được kê khai, nộp thuế theo quy định; hợp đồng mua bán thể hiện sự thỏa thuận về giá giữa các bên; và chứng từ thanh toán hợp pháp như ủy nhiệm chi, sao kê ngân hàng, thể hiện số tiền thực tế đã được thanh toán.
Tuy nhiên, việc sử dụng các chứng từ này để xác định trực tiếp giá trị tài sản chỉ được chấp nhận khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện áp dụng sau:
- Tài sản chưa qua sử dụng hoặc thời gian sử dụng không đáng kể, chưa phát sinh yếu tố khấu hao;
- Không có sự chênh lệch bất thường giữa giá ghi nhận trên chứng từ và giá thị trường tại thời điểm giao dịch, loại trừ dấu hiệu chuyển giá, gửi giá hoặc hợp thức hóa chứng từ;
- Các bên liên quan trong vụ án (bị hại, bị can, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đều thống nhất với giá trị tài sản, không có khiếu nại hoặc yêu cầu định giá lại.
Trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nêu trên, nguyên tắc đánh giá chứng cứ theo hướng coi trọng chứng cứ trực tiếp, rõ ràng, hợp pháp được áp dụng; các hóa đơn, hợp đồng và chứng từ thanh toán trở thành căn cứ xác định giá trị tài sản, phục vụ cho việc định tội danh, xác định thiệt hại và giải quyết trách nhiệm hình sự, dân sự trong vụ án.
Vụ án không cần xác định thiệt hại về tài sản
Trong một số vụ án hình sự, giá trị tài sản không phải là yếu tố bắt buộc để xác định tội danh hoặc khung hình phạt, do đó không phải mọi trường hợp đều cần tiến hành định giá tài sản trong quá trình giải quyết vụ án.
Về cơ sở pháp lý, căn cứ khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc trưng cầu định giá tài sản chỉ được đặt ra khi cần xác định giá trị tài sản để phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp giá trị tài sản không liên quan trực tiếp đến việc định tội, định khung hình phạt hoặc giải quyết trách nhiệm dân sự, thì thủ tục định giá không mang tính bắt buộc, mà chỉ được thực hiện khi thật sự cần thiết.
- Thứ nhất, đối với các tội phạm có cấu thành hình thức, hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không phụ thuộc vào giá trị tài sản bị xâm phạm. Điển hình như tội Cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chỉ cần chứng minh hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản là đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong những trường hợp này, giá trị tài sản chiếm đoạt không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, do đó, nếu việc định giá gặp khó khăn hoặc tài sản không còn thu hồi được, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể khởi tố, truy tố và xét xử trên cơ sở hành vi phạm tội đã được chứng minh.
- Thứ hai, trong trường hợp không phát sinh hoặc không còn tranh chấp về trách nhiệm dân sự. Cụ thể, nếu bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản hoặc tự nguyện từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và không có khiếu nại nào liên quan đến giá trị tài sản, thì mục đích định giá để giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự theo khoản 4 Điều 215 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 không còn đặt ra.
Lưu ý của luật sư về việc địn giá tài sản trong vụ án hình sự
Căn cứ Điều 215 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, việc định giá chỉ trở thành điều kiện tiên quyết (bắt buộc) khi giá trị tài sản đóng vai trò định đoạt trong việc xác định tội danh, khung hình phạt hoặc trách nhiệm bồi thường. Ngược lại, nếu tài sản chỉ là vật chứng thông thường (công cụ phạm tội) không ảnh hưởng đến định lượng tội phạm hoặc thuộc các trường hợp ngoại lệ có căn cứ rõ ràng, việc không định giá là hoàn toàn hợp pháp.
Khi tiếp cận hồ sơ vụ án liên quan đến tài sản, cần thực hiện quy trình rà soát 3 bước:
- Bước 1: Xác định tội danh này có cấu thành vật chất (định lượng tiền) hay không? Nếu có: Bắt buộc phải có Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
- Bước 2: Nếu không có định giá thì hồ sơ vụ án phải có văn bản thể hiện lý do khách quan không cần định giá.
- Bước 3: Đối chiếu giá trị định giá với giá thị trường tại thời điểm phạm tội để xem xét về tính phù hợp.
Câu hỏi thường gặp (FAQs) về các trường hợp không tiến hành định giá tài sản đúng luật trong tố tụng hình sự
Dưới đây là những câu hỏi thường gặp nhất giúp nhận diện các sai phạm và bảo vệ quyền lợi của mình.
Nếu tôi không đồng ý với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá thì phải làm sao?
Quý khách có quyền gửi Đơn đề nghị định giá lại đến cơ quan đang thụ lý vụ án (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án), nêu rõ lý do và căn cứ cho rằng kết luận định giá lần đầu không chính xác. Theo Điều 216 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền đề nghị định giá lại nếu nghi ngờ kết quả định giá không khách quan hoặc vi phạm thủ tục. Nếu cơ quan điều tra từ chối yêu cầu, Quý khách có quyền khiếu nại quyết định từ chối đó đến Viện kiểm sát cùng cấp để được giải quyết.
Có bắt buộc phải định giá tài sản trong mọi vụ án trộm cắp, lừa đảo không?
Về nguyên tắc là bắt buộc, trừ một số trường hợp ngoại lệ mà pháp luật cho phép không cần định giá. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 215, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đối với các tội phạm có cấu thành vật chất như trộm cắp, lừa đảo, tham ô…, giá trị tài sản là căn cứ định tội (2 triệu đồng mới bị khởi tố) và định khung hình phạt (giá trị càng cao, án càng nặng). Do đó, bắt buộc phải có Kết luận định giá để làm chứng cứ vật chất. Tuy nhiên, nếu tài sản bị mất là tiền mặt hoặc tài sản có giá trị niêm yết rõ ràng, không có tranh chấp (như vàng SJC, ngoại tệ), cơ quan tố tụng có thể căn cứ vào tài liệu có sẵn mà không cần lập Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá tài sản gồm những ai? Có giống công ty thẩm định giá bên ngoài không?
Khác hoàn toàn. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là cơ quan chuyên môn do Nhà nước thành lập theo vụ việc, hoạt động theo quy định riêng, không phải là doanh nghiệp thẩm định giá tư nhân. Việc thành lập Hội đồng định giá tuân thủ quy định tại Điều 7 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Kết luận của Hội đồng này có giá trị pháp lý bắt buộc trong tố tụng hình sự, trong khi Chứng thư của công ty thẩm định giá tư nhân chỉ có giá trị tham khảo.
Định giá tài sản dựa trên giá thị trường hay giá lúc mua tài sản?
Nguyên tắc định giá là dựa trên giá thị trường tại thời điểm và địa điểm xảy ra tội phạm, chứ không phải giá gốc lúc mua tài sản (giá nguyên giá) theo khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP. Ví dụ: Quý khách mua chiếc xe máy 50 triệu cách đây 3 năm, nhưng lúc bị mất trộm, giá trị còn lại của xe trên thị trường chỉ khoảng 25 triệu. Hội đồng định giá sẽ xác định giá trị thiệt hại là 25 triệu đồng. Điều này đảm bảo tính khách quan, vì tài sản đã qua sử dụng sẽ bị khấu hao. Việc áp giá mua ban đầu để định tội là sai lầm nghiêm trọng làm tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị can.
Vật cấm như ma túy, vũ khí quân dụng có cần định giá không?
Không. Đối với hàng cấm như ma túy, vũ khí, pháp luật không đặt ra vấn đề định giá bằng tiền để định tội danh theo Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, mà căn cứ vào trọng lượng, số lượng, chủng loại qua kết quả giám định tư pháp. Vì đây là những vật phẩm bị cấm lưu thông trên thị trường, không có “giá thị trường” hợp pháp để tham chiếu. Trách nhiệm hình sự được xác định dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hội (ví dụ: tàng trữ bao nhiêu gam heroin) chứ không phải giá trị bao nhiêu tiền.
Dịch vụ tư vấn, hướng dẫn về thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự
Kết quả định giá tài sản là chứng cứ quan trọng bậc nhất trong tố tụng hình sự, quyết định trực tiếp đến việc định tội danh, định khung hình phạt và trách nhiệm bồi thường dân sự. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu nhằm đảm bảo quy trình định giá diễn ra khách quan, chính xác và đúng pháp luật thông qua các hạng mục công việc sau:
- Tư vấn pháp lý và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu định giá:
- Tư vấn quy định pháp luật về phương pháp định giá, nguyên tắc xác định giá thị trường tại thời điểm và địa điểm xảy ra tội phạm để đánh giá tính hợp lý của giá trị tài sản trong kết luận điều tra.
- Hướng dẫn khách hàng thu thập, cung cấp các tài liệu chứng minh nguồn gốc, tình trạng kỹ thuật và giá trị thực của tài sản (hóa đơn, chứng từ, hợp đồng mua bán, báo giá so sánh).
- Tư vấn quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, bị hại trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu định giá tài sản lần đầu hoặc yêu cầu định giá bổ sung.
- Soạn thảo văn bản và giám sát quy trình định giá:
- Soạn thảo Đơn yêu cầu định giá lại tài sản hoặc Đơn khiếu nại về thành phần Hội đồng định giá nếu phát hiện có dấu hiệu không khách quan, thiếu năng lực chuyên môn.
- Tư vấn giám sát trình tự, thủ tục thực hiện của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, đảm bảo tuân thủ đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình pháp lý chuyên ngành.
- Phân tích chi tiết Kết luận định giá tài sản để chỉ ra các sai sót về mặt phương pháp, căn cứ tính giá hoặc việc bỏ qua các yếu tố làm giảm giá trị (như khấu hao, hư hỏng trước đó).
- Tham gia tranh tụng và bảo vệ quyền lợi tại phiên tòa:
- Sử dụng kết quả định giá (hoặc chứng minh các sai phạm trong định giá) làm luận cứ bào chữa quan trọng để minh oan, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc chuyển khung hình phạt xuống mức thấp hơn.
- Đại diện tranh tụng tại phiên tòa, trực tiếp đối đáp với Kiểm sát viên và yêu cầu triệu tập Hội đồng định giá để làm rõ các mâu thuẫn trong kết quả định giá (nếu có).
- Tư vấn và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong việc xác định mức bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án hình sự, đảm bảo mức bồi thường sát với giá trị thực tế.
Kết luận
Việc xác định các trường hợp định giá tài sản không đúng luật là cơ sở quan trọng để khiếu nại hoặc yêu cầu định giá lại trong tố tụng hình sự. Sai sót trong khâu này có thể dẫn đến việc định tội danh và khung hình phạt thiếu chính xác, gây oan sai. Bị can, bị cáo cần sự hỗ trợ pháp lý để phát hiện các vi phạm tố tụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp kịp thời. Luật sư sẽ giúp đánh giá lại tính khách quan của kết luận định giá và đưa ra kiến nghị phù hợp. Luật Long Phan PMT sẵn sàng đồng hành qua Dịch vụ luật sư hình sự và Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn.
Tags: bồi thường thiệt hại dân sự, Dịch vụ luật sư hình sự, Định giá tài sản trong tố tụng hình sự, hội đồng định giá tài sản, khiếu nại kết luận định giá, Khung hình phạt, vật chứng vụ án hình sự

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.