27

Vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn?

Vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn phụ thuộc vào nguồn gốc hình thành. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cùng Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ tiêu chí phân loại tài sản khi ly hôn. Tính chất pháp lý của vàng cưới được xác định qua hợp đồng tặng cho, thời điểm có được tài sản và thoả thuận giữa vợ chồng. Bài viết này của Luật Long Phan PMT phân tích các trường hợp vàng cưới là tài sản chung hay riêng dựa trên quy định pháp luật hiện hành.

Tiêu chí xác định vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn
Tiêu chí xác định vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn

Nội Dung Bài Viết

Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể:

  1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; 
  2. Nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định.
  3. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
    • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
    • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
    • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
    • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
  4. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
  5. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
  6. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

🡺 Xem thêm: Thủ tục khởi kiện ly hôn chia tài sản chung năm 2025

🡺 Xem thêm: Chia tài sản chung là cổ phần khi ly hôn như thế nào? 

Cách xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Cách xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng

Trường hợp vàng cưới được xem là tài sản chung của vợ, chồng

Trường hợp vàng cưới được xem là tài sản chung của vợ chồng, việc phân chia sẽ thực hiện theo nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn, cụ thể là được chia đôi về mặt giá trị. Tuy nhiên, khi phân chia trên thực tế, Tòa án sẽ xem xét các yếu tố như hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên, công sức đóng góp vào việc tạo lập và duy trì tài sản, nhu cầu của mỗi bên để đưa ra tỷ lệ phân chia hợp lý, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho cả vợ và chồng. Cụ thể theo khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, được thoả thuận là tài sản chung

Tài sản được coi là tài sản chung của vợ chồng nếu chúng được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất để xác định quyền sở hữu chung. Ngoài ra, ngay cả những tài sản không được tạo ra trong thời kỳ này, nếu vợ và chồng có thỏa thuận rõ ràng, chúng vẫn được xác định là tài sản chung. Quy định về việc xác lập tài sản chung này được nêu cụ thể tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Vì vậy, một tài sản sẽ được xem là tài sản chung khi đáp ứng một trong hai căn cứ pháp lý: được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hoặc được hai bên thỏa thuận là tài sản chung.

Trường hợp vàng cưới được xem là tài sản chung khi vàng đó được cho chung cả 2 người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn

Vàng cưới được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng cần căn cứ vào mục đích và đối tượng được tặng cho. Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Cụ thể, nếu trong lễ cưới, người tặng vàng có ý định rõ ràng là tặng cho riêng cô dâu hoặc chú rể, thì số vàng đó là tài sản riêng của người nhận. Ngược lại, nếu số vàng cưới được tặng cho chung cả hai vợ chồng, với tính chất là một sự hỗ trợ nhằm tạo dựng số vốn ban đầu để vợ chồng làm ăn, xây dựng cuộc sống chung, thì số vàng đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Việc xem xét ý chí của người tặng cho đóng vai trò then chốt trong việc phân loại tài sản này.

🡺 Xem thêm: XỬ LÝ NỢ CHUNG VỢ CHỒNG KHI LY HÔN NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG LUẬT?

Trường hợp vàng cưới được xem là tài sản riêng khi ly hôn

Vàng cưới được xem là tài sản riêng của vợ hoặc chồng được quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể như sau:

Có được trước khi kết hôn, không nhập vào tài sản chung

Theo quy định của pháp luật, tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn về nguyên tắc là tài sản riêng của người đó. Căn cứ khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có được trước thời kỳ hôn nhân. Điều này đồng nghĩa với việc những tài sản này không tự động nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, vợ và chồng hoàn toàn có quyền thỏa thuận gộp tài sản riêng đó vào tài sản chung. Nếu không có thỏa thuận gộp, tài sản có được trước khi kết hôn sẽ tiếp tục được xem là tài sản riêng, độc lập với tài sản chung của vợ chồng.

Hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng; hoa lợi lợi tức từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định rõ ràng về việc phân định tài sản hình thành từ tài sản riêng và hoa lợi, lợi tức phát sinh. Theo nguyên tắc chung, căn cứ vào khoản 2 Điều 43, tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng về cơ bản vẫn được xác định là tài sản riêng của người đó. Tuy nhiên, việc xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân lại phức tạp hơn và được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này. Theo các điều khoản này, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thường được coi là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Do đó, cần phân biệt rõ giữa tài sản hình thành bằng cách chuyển hóa tài sản riêng và lợi ích sinh ra từ tài sản riêng để xác định đúng bản chất tài sản.

🡺 Xem thêm: XỬ LÝ NỢ RIÊNG CỦA VỢ/CHỒNG KHI LY HÔN NHƯ THẾ NÀO?

Dựa vào ý chí của người tặng cho để xác định tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn

Việc xác định vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng phụ thuộc chủ yếu vào ý chí của người tặng cho, căn cứ theo các quy định về giao dịch tặng cho trong Điều 457 và Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015. Ý chí này cần được xem xét thông qua toàn bộ hành vi, lời nói, văn bản, hoặc các phương tiện ghi âm, ghi hình. Một điểm cần lưu ý là hành vi đeo vàng cho riêng cô dâu hoặc chú rể tại tiệc cưới không đương nhiên có nghĩa là tặng riêng, nếu người tặng cho đã nêu rõ mục đích là “Cho hai vợ chồng”. Ngược lại, nếu người tặng cho vàng với mục đích hỗ trợ vợ chồng có số vốn làm ăn, vàng cưới sẽ được xem là tài sản chung, trừ khi có chứng cứ chứng minh ngược lại. Do đó, việc thu thập ý kiến của người tặng là rất cần thiết để làm rõ mục đích tặng cho là riêng hay chung, từ đó có cơ sở pháp lý để phân loại tài sản.

Xác định vàng cưới là tài sản chung hay riêng phụ thuộc ý chí người tặng cho tài sản
Xác định vàng cưới là tài sản chung hay riêng phụ thuộc ý chí người tặng cho tài sản

Dịch vụ luật sư tư vấn phân chia tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn

Tranh chấp về vàng cưới khi ly hôn đòi hỏi sự phân tích chuyên sâu về nguồn gốc tài sản, ý chí người tặng cho và áp dụng đúng quy định pháp luật. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp về chia tài sản ly hôn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Quý khách hàng. Đội ngũ luật sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình sẽ đồng hành cùng Quý khách hàng trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp. Hạng mục dịch vụ của Chúng tôi bao gồm:

  • Luật sư nghiên cứu chứng từ, giấy tờ liên quan đến vàng cưới, xác định nguồn gốc hình thành, thời điểm có được tài sản, ý chí người tặng cho để đưa ra kết luận về tính chất tài sản chung hay tài sản riêng.
  • Hướng dẫn Quý khách hàng thu thập, bảo quản chứng cứ chứng minh nguồn gốc vàng cưới, bao gồm biên nhận mua vàng, hợp đồng tặng cho, video ghi hình đám cưới, sổ mừng, lời khai người tặng cho và người chứng kiến.
  • Soạn thảo đơn khởi kiện với nội dung rõ ràng, đầy đủ về yêu cầu chia vàng cưới, căn cứ pháp lý, chứng cứ kèm theo phù hợp với quy định tố tụng dân sự.
  • Tham gia phiên tòa với tư cách người bảo vệ quyền lợi hợp pháp, trình bày quan điểm, phản bác lập luận của bên kia, đưa ra chứng cứ chứng minh yêu cầu của Quý khách hàng.

Các câu hỏi thường gặp (FAQ) về việc xác định vàng cưới là tài sản chung hay tài sản riêng khi ly hôn

Các câu hỏi thường gặp (FAQ) xoay quanh việc xác định ý chí của người tặng cho vàng cưới và mục đích tặng cho (tạo vốn chung hay tặng riêng), cũng như các vấn đề về chứng cứ chứng minh nguồn gốc tài sản này là riêng hay chung khi ly hôn.

Nghĩa vụ chứng minh vàng cưới là tài sản riêng thuộc về ai khi có tranh chấp? 

Theo nguyên tắc pháp lý tại Điều 33, Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung. Do đó, nếu một bên (vợ hoặc chồng) khẳng định số vàng đó là tài sản riêng của mình, bên đó có nghĩa vụ phải đưa ra chứng cứ chứng minh (ví dụ: lời tuyên bố tặng cho riêng của người tặng tại thời điểm trao, văn bản tặng cho riêng). Nếu không chứng minh được, số vàng đó được quy định là tài sản chung.

Nếu cha mẹ tặng vàng trong ngày cưới mà không nói rõ là “cho con trai” hay “cho con dâu” thì tính sao? 

Trong trường hợp cha mẹ hoặc khách mời trao quà tặng, vàng cưới ngay trong hôn lễ mà không có tuyên bố cụ thể là “tặng riêng” cho con trai hay con dâu, thì việc xác định tính chất tài sản sẽ căn cứ vào thực tiễn xét xử. Mục đích của việc tặng cho này thường được hiểu là để vun đắp cuộc sống hôn nhân và hỗ trợ đôi vợ chồng xây dựng gia đình. Do đó, số vàng cưới này sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trang sức vàng chỉ do cô dâu đeo trong ngày cưới có mặc nhiên được xem là tài sản riêng không? 

Trang sức vàng chỉ do cô dâu đeo trong ngày cưới không mặc nhiên được xem là tài sản riêng của cô dâu. Việc cô dâu trực tiếp đeo trang sức không phải là yếu tố quyết định, mà yếu tố then chốt cần xem xét là ý chí của người tặng cho. Nếu người tặng (ví dụ mẹ chồng) tuyên bố rõ ràng tặng cho con dâu làm kỷ vật riêng, thì đó là tài sản riêng. Tuy nhiên, nếu việc trao vàng diễn ra công khai trong lễ cưới với ý nghĩa chúc phúc chung cho cả hai vợ chồng, thì dù cô dâu là người đeo, số vàng đó vẫn có thể bị xác định là tài sản chung, căn cứ theo Điều 457 và Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch tặng cho và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chồng/vợ tự ý bán vàng cưới mà không hỏi ý kiến người kia thì xử lý ra sao? 

Nếu vàng cưới là tài sản chung, việc định đoạt (bán, tặng cho người khác) phải có sự đồng thuận của cả hai (đối với tài sản có giá trị lớn) theo nguyên tắc định đoạt tài sản chung theo Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nếu một bên tự ý tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ chia tài sản, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án xác định lại giá trị tài sản đó và yêu cầu người đã bán phải hoàn lại phần giá trị tương ứng cho mình.

Vàng cưới được mẹ chồng “giữ giùm” nhưng sau đó không trả lại thì làm thế nào? 

Trường hợp mẹ chồng “giữ giùm” vàng cưới nhưng sau đó từ chối hoàn trả được xem là một tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Để khởi kiện thành công, vợ chồng cần phải chứng minh được việc đã giao vàng cho mẹ chồng giữ, thông qua các bằng chứng xác thực như giấy biên nhận, ghi âm, hoặc tin nhắn có sự thừa nhận việc giữ tài sản. Khi đã chứng minh được cả quyền sở hữu đối với số vàng cưới (là quà tặng chung) và quan hệ gửi giữ tài sản, vợ chồng hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu mẹ chồng hoàn trả lại số vàng đó. 

Kết luận

Tóm lại, việc xác định rằng vàng cười là tài sản chung hay riêng cần xem xét nhiều yếu tố, từ phong tục tập quán ở địa phương đến nguồn gốc hình thành đến các quy định của pháp luật về dân sự và hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, ý chí của người cho cũng quyết định phần lớn tài sản đó là tài sản riêng hay chung của hai vợ chồng. Quý khách hàng cần tư vấn pháp lý chuyên nghiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong tranh chấp chia tài sản ly hôn. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ tư vấn, đại diện tại Tòa án về chia tài sản ly hôn với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí và nhận hỗ trợ pháp lý kịp thời.

 

Tags: , , , ,

Huỳnh Nhi

Huỳnh Nhi - Chuyên Viên Pháp Lý tại Công ty Luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn về lĩnh vực hành chính và đất đai. Nhiệt huyết với khách hàng, luôn tận tâm để giải quyết các vấn đề mà khách hàng gặp phải. Đại diện, thay mặt làm việc với các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của thân chủ.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87