Thủ tục khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thường phát sinh trong các tranh chấp liên quan đến chuyển nhượng tài sản, che giấu nghĩa vụ hoặc trốn tránh trách nhiệm. Việc nắm rõ quy trình này giúp đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đồng thời hạn chế rủi ro bị bác yêu cầu do thiếu căn cứ hoặc sai thủ tục. Bài viết dưới đây cung cấp thông tin chi tiết về các bước tiến hành khởi kiện cũng như những điểm pháp lý cần lưu ý để đảm bảo hồ sơ được Tòa án thụ lý đúng quy định.

Căn cứ pháp lý khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Trong các tranh chấp dân sự, việc một giao dịch được xác lập chỉ nhằm mục đích che đậy giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ (gọi là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo) đang ngày càng phổ biến. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, người khởi kiện phải chứng minh được một trong hai căn cứ sau đây để khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
- Căn cứ thứ nhất là giao dịch được xác lập nhằm che giấu giao dịch dân sự khác. Thực chất các bên tạo ra giao dịch giả tạo chỉ nhằm che đậy một giao dịch khác hoặc tạo vỏ bọc pháp lý cho mục đích không chính đáng. Ví dụ điển hình là hợp đồng mua bán bất động sản giả tạo nhằm che giấu giao dịch thế chấp hoặc vay tài sản, hoặc hợp đồng chuyển nhượng tài sản giả tạo nhằm trốn tránh thi hành án dân sự;
- Căn cứ thứ hai là giao dịch được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba như nghĩa vụ đối với chủ nợ, người được thi hành án.
Để chứng minh giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, Quý khách hàng cần tập trung vào căn cứ chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, chứng minh giao dịch được lập không phản ánh ý chí thật của các bên thông qua các tài liệu như tin nhắn, email, ghi âm thể hiện thỏa thuận thật sự giữa các bên;
- Thứ hai, chứng minh có giao dịch hoặc nghĩa vụ thật phía sau giao dịch giả tạo, chẳng hạn như thỏa thuận vay nợ, thế chấp tài sản được che giấu bằng hợp đồng mua bán;
- Thứ ba, chứng minh việc lập giao dịch giả tạo làm thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại đến quyền của người thứ ba như chủ nợ, người được thi hành án;
- Thứ tư, chứng minh các bên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng. Cụ thể, các bên chưa giao nhận đất chuyển nhượng trên thực tế, đất vẫn do bên chuyển nhượng quản lý và sử dụng. Bên nhận chuyển nhượng không thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015.
Tóm lại, để khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, người khởi kiện cần tập trung chứng minh rõ ràng một trong hai căn cứ pháp lý cơ bản: giao dịch che giấu giao dịch khác hoặc giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
>>> Xem thêm: Căn cứ xác định yếu tố giả tạo và thủ tục tuyên giao dịch giả tạo vô hiệu

Thời hiệu khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015) là không bị hạn chế, tức là không áp dụng thời hiệu trong trường hợp này.
Tuy nhiên, trong quá trình tư vấn, Luật Long Phan PMT khuyến nghị Quý khách nên khởi kiện sớm ngay khi phát hiện dấu hiệu giao dịch giả tạo. Việc chần chừ có thể dẫn đến khó khăn trong việc thu thập chứng cứ khi thời gian trôi qua, các bên liên quan có thể tẩu tán tài sản hoặc tạo ra các giao dịch mới phức tạp hóa tình huống pháp lý.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thuộc về Tòa án nhân dân hoặc Trọng tài thương mại tùy theo tính chất tranh chấp và thỏa thuận của các bên.
Nếu các bên lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài và tranh chấp này phải thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại tại Điều 2, 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 thì Trọng tài thương mại sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Cụ thể các điều kiện để tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài như sau:
- Điều kiện tiên quyết là phải có thỏa thuận trọng tài giữa các bên hoặc điều khoản trọng tài trong hợp đồng;
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
Nếu các bên lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, nơi thực hiện giao dịch hoặc theo thỏa thuận của các bên nếu pháp luật cho phép sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo Điều 26, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
Như vậy, Quý khách hàng cần xác định chính xác thẩm quyền giải quyết ngay từ đầu để tránh trường hợp đơn khởi kiện bị trả lại hoặc phải chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền, gây mất thời gian và chi phí. Nếu tranh chấp có tính chất thương mại và các bên đã có thỏa thuận trọng tài, việc giải quyết tại Trọng tài thương mại có ưu điểm là nhanh chóng, bảo mật thông tin và linh hoạt trong thủ tục. Tuy nhiên, nếu không có thỏa thuận trọng tài hoặc tranh chấp không mang tính thương mại, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất.
Đơn khởi kiện và thành phần hồ sơ chứng cứ cần chuẩn bị
Trong lĩnh vực pháp lý, tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (hay còn gọi là hợp đồng giả cách) đang ngày càng phổ biến. Đây là những giao dịch được xác lập với mục đích che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba. Để thành công trong việc yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại tuyên bố giao dịch này vô hiệu, việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện là cần thiết.
Thứ nhất, đơn khởi kiện yêu cầu tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo phải được lập theo mẫu 23-DS kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP. Đơn khởi kiện phải ghi rõ tên Tòa án thụ lý, thông tin đầy đủ về người khởi kiện và bị đơn, yêu cầu cụ thể là tuyên giao dịch nào vô hiệu, căn cứ pháp lý và sự việc chứng minh tính giả tạo (Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Nếu lựa chọn giải quyết tại Trọng tài thương mại, đơn khởi kiện phải tuân thủ Điều 30 Luật Trọng tài thương mại 2010 và mẫu đơn của Trung tâm Trọng tài cụ thể mà các bên lựa chọn.
Thứ hai, hồ sơ chứng cứ khuyến nghị cần chuẩn bị bao gồm ba nhóm tài liệu chính:
- Nhóm thứ nhất là bản chính hoặc bản sao có chứng thực giao dịch cần tuyên vô hiệu như hợp đồng mua bán, tặng cho, thế chấp, bản hợp đồng công chứng hoặc giấy tay, biên nhận tiền.
- Nhóm chứng cứ thứ hai là tài liệu thể hiện tính giả tạo của giao dịch như tin nhắn, email, ghi âm thể hiện thỏa thuận thật sự giữa các bên về thế chấp, vay nợ hoặc trốn tránh nghĩa vụ; giấy tay, thỏa thuận nội bộ ghi nhận các câu như “hợp đồng chỉ ký cho có”, “đứng tên giùm”; chứng cứ về việc không giao nhận tiền thật như sao kê ngân hàng, lời khai người làm chứng giúp chứng minh không có giao dịch tài chính thực tế giữa các bên; chứng cứ cho thấy sau khi ký giao dịch, tài sản vẫn do bên chuyển nhượng quản lý, sử dụng, nộp thuế, cho thuê như hóa đơn điện nước, hợp đồng cho thuê, biên lai nộp thuế sử dụng đất ghi tên bên chuyển nhượng sau thời điểm chuyển nhượng; đối với trường hợp giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, cần bổ sung quyết định thi hành án, bản án, hợp đồng hoặc nghĩa vụ với người thứ ba đang bị trốn tránh.
- Nhóm chứng cứ thứ ba là giấy tờ nhân thân và pháp lý như CCCD, sổ hộ khẩu hoặc giấy xác nhận cư trú của người khởi kiện. Nếu người khởi kiện là pháp nhân, cần có giấy đăng ký kinh doanh và điều lệ công ty; Giấy tờ về tài sản như sổ đỏ, giấy chứng nhận quyền sở hữu cũng cần được chuẩn bị đầy đủ.
Tóm lại, để yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, nguyên tắc hàng đầu là phải đảm bảo tính hệ thống của hồ sơ. Các chứng cứ kèm đơn khởi kiện không chỉ là tài liệu đi kèm mà là bằng chứng sống thể hiện sự khác biệt giữa “hình thức” và “bản chất thật” của hợp đồng.
Quá trình giải quyết tranh chấp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo tại Tòa án
Giải quyết một vụ án dân sự tại Tòa án là một hành trình có nhiều bước, từ lúc nộp đơn cho đến khi có bản án cuối cùng. Để đảm bảo vụ kiện của bạn diễn ra suôn sẻ, điều quan trọng là phải hiểu rõ từng giai đoạn: Thủ tục thụ lý vụ án; thủ tục xét xử sơ thẩm và Thủ tục xét xử phúc thẩm.
Thủ tục thụ lý vụ án
Thủ tục thụ lý vụ án là bước khởi đầu quan trọng, đánh dấu việc Tòa án chính thức tiếp nhận và bắt đầu giải quyết tranh chấp dân sự. Để đảm bảo hồ sơ khởi kiện của Quý khách được xử lý nhanh chóng và đúng quy trình, việc nắm rõ các bước từ nộp đơn, xét đơn của Thẩm phán, đến đóng tạm ứng án phí là điều cần thiết.
Thứ nhất, sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ khởi kiện, Quý khách hàng tiến hành nộp đơn thông qua các phương thức được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015:
- Nếu nộp trực tiếp tại Tòa án, Tòa án cấp ngay giấy xác nhận đơn cho người khởi kiện;
- Trường hợp nộp theo đường dịch vụ bưu chính, Tòa án gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn.
Thứ hai, sau khi nhận đơn, Thẩm phán sẽ xem xét đơn khởi kiện và ra một trong các quyết định: yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; tiến hành thủ tục thụ lý vụ án; chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền; hoặc trả lại đơn khởi kiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công theo khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Thứ ba, căn cứ Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, khi xét thấy hồ sơ khởi kiện đầy đủ và vụ án thuộc thẩm quyền, Thẩm phán sẽ ra thông báo đóng tiền tạm ứng án phí cho người khởi kiện thực hiện thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận giấy báo, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án để Tòa tiến hành thụ lý giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Sau khi thụ lý, trong thời hạn ba ngày làm việc, Thẩm phán sẽ gửi thông báo thụ lý cho các bên trong đó có tên Thẩm phán thụ lý, vấn đề cụ thể của người khởi kiện, yêu cầu người khởi kiện nộp kèm tài liệu chứng cứ bổ sung nếu có.
Giai đoạn thụ lý vụ án là bước quan trọng đánh dấu việc Tòa án chính thức tiếp nhận và giải quyết tranh chấp. Do đó, Quý khách hàng cần theo dõi sát thông báo của Tòa án để thực hiện đúng các nghĩa vụ tố tụng và không bỏ lỡ các thời hạn quan trọng.
Thủ tục xét xử sơ thẩm
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, Hội đồng xét xử ra bản án sơ thẩm. Trường hợp các bên đương sự không đồng ý với bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung bản án. Thời hạn các bên kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, trường hợp đương sự vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời gian 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được tuyên công khai (Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Thủ tục xét xử phúc thẩm
Sau khi nhận được đơn kháng cáo hợp lệ theo mẫu số 54-DS ban hành kèm Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án theo trình tự, thủ tục quy định tại Phần ba Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Các bên có quyền cung cấp chứng cứ mới để bổ sung cho hồ sơ vụ án và làm rõ các tình tiết chưa được làm sáng tỏ ở cấp sơ thẩm theo quy định tại Điều 287 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Sau khi các bên kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử sẽ nghị án, ban hành bản án phúc thẩm và tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự. Theo Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền ban hành bản án phúc thẩm thuộc một trong các trường hợp sau: giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm; hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án tùy theo tình tiết cụ thể của vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và được gửi cho các đương sự trong vòng 15 ngày kể từ ngày Tòa án ban hành bản án (khoản 1 Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi 2025).
Trong trường hợp phát hiện bản án phúc thẩm có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, các bên có quyền làm đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Thông thường, theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, khi Tòa án tuyên giao dịch giả tạo vô hiệu, giao dịch giả tạo đó không có hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm xác lập. Giao dịch bị che giấu, nếu hợp pháp và không vi phạm các quy định của pháp luật, thì vẫn có hiệu lực pháp lý.
Ví dụ: Hợp đồng mua bán giả tạo che giấu giao dịch thế chấp sẽ bị tuyên vô hiệu, nhưng giao dịch thế chấp vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Còn đối với trường hợp giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, Tòa án thường tuyên vô hiệu giao dịch và khôi phục lại tình trạng ban đầu. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo giao dịch giả tạo đó, nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Nếu tài sản đã chuyển nhượng theo giao dịch giả tạo, bên nhận chuyển nhượng phải trả lại tài sản cho bên chuyển nhượng, và tài sản này sẽ thuộc về khối tài sản để thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba.
Ngoài ra, theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại, nếu các bên đều có lỗi thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm tương ứng với lỗi của mình. Trong một số trường hợp, bên tham gia giao dịch giả tạo còn có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi có dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc các tội danh khác theo Bộ luật Hình sự.
>>> Xem thêm: Hợp đồng mua bán đất bị Tòa tuyên vô hiệu xử lý như thế nào?
Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo trọn gói
Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư tư vấn và đại diện toàn diện trong các vụ kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Chúng tôi hỗ trợ Quý khách từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ, soạn thảo đơn khởi kiện, đến đại diện tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Dịch vụ của Luật Long Phan PMT bao gồm:
- Tư vấn về căn cứ xác định giao dịch vô hiệu, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, lựa chọn giữa Tòa án và Trọng tài thương mại phù hợp với tình huống cụ thể và toàn diện các vấn đề pháp lý khác có liên quan;
- Hướng dẫn Quý khách thu thập chứng cứ cần thu thập, hồ sơ cần chuẩn bị;
- Soạn thảo đơn khởi kiện, đơn đề nghị, đơn kiến nghị, đơn khiếu nại và các đơn từ khác trong suốt quá trình khởi kiện;
- Đại diện theo ủy quyền của Quý khách nộp đơn, theo dõi quá trình xử lý và tham gia các phiên họp hòa giải, chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm;
- Tư vấn thủ tục thi hành án.
Với phương châm đặt quyền lợi của Quý khách hàng lên hàng đầu, Luật Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chất lượng cao, minh bạch về chi phí và tiến độ xử lý công việc. Đội ngũ luật sư của chúng tôi có chuyên môn sâu về luật dân sự, luật tố tụng dân sự và kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong các vụ kiện tranh chấp giao dịch dân sự. Chúng tôi luôn sẵn sàng đồng hành cùng Quý khách trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp, từ tư vấn ban đầu đến khi đạt được kết quả cuối cùng.
Câu hỏi thường gặp về thủ tục khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Để giúp Quý khách hiểu rõ hơn về quy trình khởi kiện tuyên giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, chung tôi đã tổng hợp một số câu hỏi phổ biến sau:
Làm thế nào để chứng minh ý chí thật sự “che giấu” của các bên khi không có tin nhắn hay ghi âm?
Cần tập trung vào các chứng cứ gián tiếp và hành vi thực tế sau giao dịch. Chứng cứ có thể là lời khai của người làm chứng, sao kê ngân hàng chứng minh việc không có giao dịch tài chính thực tế, hoặc chứng cứ về việc bên chuyển nhượng vẫn quản lý, sử dụng tài sản sau giao dịch (hóa đơn điện nước, biên lai nộp thuế) theo Điều 93, Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Người khởi kiện cần nộp bao nhiêu tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho vụ án giao dịch vô hiệu do giả tạo?
Mức tiền tạm ứng án phí được quy định tại Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (hiện hành là Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14):
- Nếu là tranh chấp không có giá ngạch (chỉ yêu cầu tuyên vô hiệu), mức tạm ứng là 300.000 VNĐ (tiểu mục 1.1 mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).
- Nếu là tranh chấp có giá ngạch (vừa tuyên vô hiệu vừa yêu cầu đòi tài sản, bồi thường), mức tạm ứng án phí sẽ tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản tranh chấp (tiểu mục 1.3 mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự về giao dịch vô hiệu do giả tạo là bao lâu?
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015). Đối với vụ án phức tạp hoặc có tính chất đặc biệt, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không quá 02 tháng (điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).
Nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu do giả tạo, giao dịch bị che giấu có tự động có hiệu lực không?
Không tự động. Giao dịch bị che giấu chỉ có hiệu lực pháp lý nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015).
Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án tuyên giao dịch vô hiệu do giả tạo không?
Có thể. Khi có yêu cầu của đương sự Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp (Điều 121 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015) để đảm bảo việc giải quyết vụ án và bảo đảm việc thi hành án.
Trên đây là các câu trả lời cho các thắc mắc của Quý khách về vấn đề này. Chúng tôi mong rằng với câu trả lời trên Quý khách đã nắm được các căn cứ khởi kiện cũng như quy trình giải quyết để nhanh chóng thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình.
Kết luận
Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo đòi hỏi quy trình tố tụng chặt chẽ từ thu thập chứng cứ đến xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Quý khách hàng cần hiểu rõ căn cứ pháp lý theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Nếu Quý khách có bất kỳ thắc mắc về thủ tục và dịch vụ của Luật Long Phan PMT, hãy liên hệ hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết và xây dựng phương án tố tụng hiệu quả nhất cho vụ việc của Quý khách.
Tags: Án phí tuyên hợp đồng vô hiệu, Chứng minh giao dịch giả tạo, Dịch vụ luật sư tranh chấp hợp đồng, Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, Hợp đồng giả cách, Hợp đồng giả tạo, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự, Thời hiệu khởi kiện vô hiệu giao dịch

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.