Xác định các khoản yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng là một vấn đề pháp lý quan trọng trong hoạt động thương mại và logistics. Đây là cơ sở để bên bị vi phạm (thường là chủ hàng hoặc người nhận hàng) đòi lại những thiệt hại thực tế phát sinh do lỗi của bên vận chuyển. Việc làm rõ các khoản bồi thường này giúp đảm bảo sự công bằng và tuân thủ nghĩa vụ hợp đồng của các bên.

Các khoản yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm theo khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại 2005. Ngoài ra, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Sau đây là các khoản yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng:
Tổn thất về tài sản
Tổn thất về tài sản bị hư hại do vận chuyển được bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển hoặc theo quy định pháp luật.
Việc đền bù thiệt hại của bên vận chuyển tuân theo mức trách nhiệm bồi thường mà các bên đã ghi nhận trong điều khoản hợp đồng. Nếu hợp đồng vận chuyển hàng hóa có thỏa thuận bằng điều khoản xác định mức trách nhiệm bồi thường thì bên vận chuyển phải bồi thường theo mức quy định trong điều khoản đó. Trường hợp các bên không thỏa thuận với nhau về mức bồi thường cho tổn thất tài sản bị hư hại thì về nguyên tắc, các tổn thất về tài sản do vận chuyển phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời cho bên thuê vận chuyển, trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng theo Điều 294 Luật Thương mại 2005.
Thông thường giá trị tổn thất tài sản được xác định như sau:
- Nếu tài sản, hàng hóa được thuê vận chuyển bị hủy hoại đến mức không có khả năng phục hồi thì giá trị bồi thường là khoản tiền cần thiết để mua lại hàng hóa và tài sản đó;
- Nếu tài sản và hàng hóa vẫn có thể sửa chữa được thì giá trị bồi thường là khoản tiền dùng để sửa chữa hàng hóa, tài sản đã bị hỏng.
Tóm lại, tổn thất về tài sản trong quá trình vận chuyển được bồi thường chủ yếu dựa trên các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng không quy định, bên vận chuyển phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế, căn cứ vào chi phí sửa chữa hoặc giá trị thay thế tài sản, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bên thuê vận chuyển theo quy định của pháp luật.
Chi phí hợp lý để ngăn chặn thiệt hại
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại được xem xét dựa trên tình trạng hiện tại của tài sản, giá trị thị trường của tài sản ở thời điểm xảy ra thiệt hại. Thông thường chi phí này được tính dựa vào mức thỏa thuận giữa các bên.
Bên thuê vận chuyển phải chứng minh các chi phí này là cần thiết và trực tiếp phục vụ cho việc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại gia tăng. Chi phí hợp lý bao gồm chi phí bảo quản hàng hóa, chi phí thuê kho lưu trữ tạm thời, chi phí xử lý hàng hóa bị hư hỏng một phần, chi phí thuê phương tiện vận chuyển thay thế khẩn cấp, chi phí thuê chuyên gia giám định tổn thất,…
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 294 Luật thương mại, bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Do đó, bên vận chuyển có thể từ chối bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại phát sinh thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm. Tòa án sẽ căn cứ vào tính hợp lý, cần thiết và mức độ trực tiếp của chi phí với việc ngăn chặn thiệt hại để quyết định mức bồi thường cho bên thuê vận chuyển theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015.
Lợi ích đáng lẽ được hưởng từ hợp đồng
Khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại 2005 quy định giá trị bồi thường bao gồm khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Ngoài ra, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại.
Do đó, trong trường hợp hàng hóa được bên thuê vận chuyển dùng để thực hiện hoạt động kinh doanh, sinh lợi khác thì bên vận chuyển phải bồi thường khoản lợi ích, lợi nhuận đáng lẽ bên thuê vận chuyển sẽ nhận được nếu bên vận chuyển thực hiện đúng theo giao kết hợp đồng. Khoản lợi trực tiếp được bồi thường phải là nguồn lợi trực tiếp phát sinh từ hàng hóa, tài sản đã bị thiệt hại. Tòa án sẽ xem xét tính trực tiếp, khả năng dự đoán được của lợi nhuận và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm của bên vận chuyển với việc mất lợi nhuận.
Lưu ý: Bên vận chuyển có thể không phải bồi thường lợi nhuận nếu chứng minh được lợi nhuận đó không thể dự đoán được tại thời điểm giao kết hợp đồng vận chuyển hoặc việc mất lợi nhuận do lỗi của bên thuê vận chuyển theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015.
Chi phí phát sinh khi không hoàn thành nghĩa vụ với bên thứ ba
Khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người có quyền có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
Khi bên thuê vận chuyển giao kết hợp đồng với bên thứ ba có đối tượng là hàng hóa và tài sản đã bị thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng của bên vận chuyển thì chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ phải được bên vận chuyển bồi thường. Việc đánh giá yếu tố “thực tế” và “trực tiếp” đối với chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ với bên thứ ba do các bên tự thỏa thuận dựa trên tình hình thực tế hoặc được quyết định bởi Tòa án Việt Nam tùy từng trường hợp cụ thể.
Chi phí này có thể bao gồm tiền phạt vi phạm hợp đồng mà bên thuê vận chuyển phải trả cho bên thứ ba, chi phí hủy đơn hàng, chi phí bồi thường cho khách hàng cuối, chi phí thuê vận chuyển khẩn cấp để giao hàng cho bên thứ ba.
Chi phí kho bãi, lưu kho, thuê đơn vị khác
Bên cạnh tổn thất về tài sản, việc bên vận chuyển vi phạm hợp đồng còn có thể dẫn đến các chi phí phát sinh thực tế khác, điển hình là chi phí kho bãi, lưu kho và chi phí thuê đơn vị vận chuyển thay thế.
- Chi phí kho bãi, lưu kho phát sinh khi bên vận chuyển giao hàng chậm hoặc không giao hàng đúng địa điểm, dẫn đến bên thuê vận chuyển phải thuê kho bãi để lưu trữ hàng hóa;
- Chi phí thuê đơn vị khác phát sinh khi bên thuê vận chuyển phải thuê đơn vị vận chuyển khác để vận chuyển hàng hóa thay thế do bên vận chuyển không thực hiện nghĩa vụ.
Các chi phí này được xem là tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên thuê vận chuyển phải chịu do bên vận chuyển vi phạm hợp đồng vận chuyển. Cho nên, bên thuê vận chuyển có quyền yêu cầu bên vận chuyển bồi thường toàn bộ chi phí này nếu chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và chi phí phát sinh.
Theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 294 Luật Thương mại 2005, bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Do đó, tương tư như các thiệt hại trên thì bên vận chuyển có thể từ chối bồi thường nếu chứng minh được chi phí kho bãi, lưu kho phát sinh do lỗi của bên thuê vận chuyển như không nhận hàng đúng thời hạn, không cung cấp địa điểm giao hàng rõ ràng.
Thiệt hại về uy tín của bên bị vi phạm
Thiệt hại về uy tín phát sinh khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng dẫn đến bên thuê vận chuyển không thể hoàn thành nghĩa vụ với khách hàng, gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của bên thuê vận chuyển trên thị trường. Thiệt hại về uy tín có thể bao gồm mất khách hàng, mất cơ hội kinh doanh, giảm giá trị thương hiệu, ảnh hưởng đến quan hệ kinh doanh lâu dài với đối tác. Tuy nhiên, thiệt hại về uy tín thuộc loại thiệt hại phi vật chất, khó xác định cụ thể về mặt giá trị trực tiếp thực tế, do đó việc bồi thường thiệt hại về uy tín phụ thuộc vào chứng cứ chứng minh và quyết định của Tòa án.
Theo khoản 3 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án chỉ buộc bồi thường thiệt hại về tinh thần theo yêu cầu của người có quyền và mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc. Khi yêu cầu, bên bị vi phạm cần chứng minh hành vi vi phạm của bên vận chuyển đã gây thiệt hại về uy tín, thương hiệu thông qua các chứng cứ như thư khiếu nại của khách hàng, thông báo hủy hợp đồng từ đối tác, báo cáo đánh giá uy tín doanh nghiệp, bài viết trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội phản ánh tiêu cực về doanh nghiệp.
Trên cơ sở này thì Tòa án sẽ xem xét mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, hậu quả thực tế đối với uy tín của bên thuê vận chuyển, khả năng tài chính của bên vận chuyển để quyết định mức bồi thường hợp lý theo quy định tại khoản 3 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015.
Chi phí xử lý hàng hư hỏng
Chi phí xử lý hàng hư hỏng bao gồm chi phí loại bỏ, tiêu hủy, bán thanh lý, làm sạch, tái bao gói, khử trùng, phân loại lại hàng hóa bị hư hỏng do vận chuyển. Các chi phí này phát sinh khi hàng hóa bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ do bên vận chuyển không bảo quản đúng cách, vận chuyển không đúng điều kiện kỹ thuật, xếp dỡ không đúng quy cách.
Chi phí này được xem là tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên thuê vận chuyển phải chịu do bên vận chuyển vi phạm hợp đồng vận chuyển theo khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại 2005.
Chi phí logistics phát sinh
Chi phí logistics phát sinh bao gồm chi phí lưu container (demurrage/detention), lưu bãi, phí bốc dỡ lại, phí đặt chỗ mới, phí đổi chứng từ, vận chuyển hồi lưu do bên vận chuyển vi phạm hợp đồng vận chuyển.
- Chi phí demurrage phát sinh khi container không được trả về kho chứa của hãng tàu trong thời hạn miễn phí do bên vận chuyển giao hàng chậm;
- Chi phí detention phát sinh khi container không được trả về trong thời hạn cho phép sau khi lấy hàng khỏi cảng;
- Chi phí lưu bãi phát sinh khi hàng hóa phải lưu tại bãi container, cảng do bên vận chuyển không giao hàng đúng thời hạn;
- Chi phí bốc dỡ lại phát sinh khi hàng hóa phải bốc xuống và xếp lại do bên vận chuyển vận chuyển sai tuyến hoặc không đúng điểm giao hàng.
Tóm lại, các chi phí logistics phát sinh như phí lưu container (demurrage/detention), lưu bãi, hay bốc dỡ lại đều được coi là thiệt hại trực tiếp và thực tế. Khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng dẫn đến các khoản phí này, bên thuê vận chuyển hoàn toàn có cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường toàn bộ nhằm khắc phục hậu quả.
Lãi do chậm thanh toán (nếu bên vận chuyển phải hoàn trả/đền bù nhưng chậm trả)
Lãi do chậm thanh toán được bồi thường theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 306 Luật Thương mại 2005. Theo đó bên có nghĩa vụ chậm thanh toán thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi chậm trả. Cụ thể tính như sau:
- Cách tính theo Bộ luật Dân sự: Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Cách tính theo Luật Thương mại 2005: Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng thương mại (Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019).
Khi bên vận chuyển chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền bồi thường, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu thêm khoản lãi do chậm thanh toán. Theo quy định, mức lãi suất sẽ được ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận của các bên, hoặc nếu không có thỏa thuận, sẽ được xác định theo lãi suất luật định hoặc lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.
>>> Xem thêm: Cách tính mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Chứng cứ cần chuẩn bị khi yêu cầu bồi thường bên vận chuyển vi phạm hợp đồng
Chứng cứ về hợp đồng vận chuyển và các điều khoản liên quan phải được chuẩn bị đầy đủ khi yêu cầu bồi thường. Chẳng hạn bao gồm các tài liệu sau:
- Hợp đồng vận chuyển, vận đơn, phụ lục hợp đồng. Trong đó sẽ ghi nhận điều khoản giao nhận, điều khoản bồi thường, điều khoản phạt vi phạm, điều khoản giới hạn trách nhiệm trong hợp đồng là căn cứ để xác định nghĩa vụ của bên vận chuyển và phạm vi bồi thường;
- Chứng cứ về quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hóa như biên bản giao nhận hàng hóa, nhật ký hành trình, dữ liệu điện tử EDI/track & trace, hình ảnh, video về tình trạng hàng hóa, báo cáo niêm phong (seal report), biên bản cân đếm, bảng kê khai hàng hóa (manifest);
- Chứng cứ về hư hỏng, mất mát hàng hóa phải được lập ngay khi phát hiện thiệt hại bao gồm nhưng không giới hạn: biên bản hiện trường về tình trạng hàng, báo cáo giám định tổn thất do tổ chức giám định độc lập hoặc cơ quan có thẩm quyền thực, hóa đơn sửa chữa, thay thế hàng hóa, báo giá thị trường;
- Chứng cứ giao chậm bao gồm mốc thời gian ETD (dự kiến khởi hành), ETA (dự kiến đến), ATA (thực tế đến), lịch tàu/xe, email xác nhận chậm từ bên vận chuyển, biên bản đối chiếu thời gian giao nhận so với cam kết trong hợp đồng (SLA).
- Chứng cứ để yêu cầu bồi thường chi phí logistics phát sinh bao gồm hóa đơn demurrage/detention từ hãng tàu, hóa đơn lưu bãi từ cảng, hóa đơn phí bốc dỡ, hợp đồng vận chuyển hồi lưu, biên bản đối chiếu thời gian giao nhận hàng, email trao đổi về việc giao hàng chậm.
- Chứng cứ về các chi phí phát sinh do vi phạm hợp đồng vận chuyển phải chẳng hạn như: hóa đơn chi phí lưu bãi, demurrage/detention, kho lạnh, bốc dỡ, vận chuyển thay thế;
- Tài liệu chứng minh lợi nhuận trực tiếp bị mất bao gồm hợp đồng bán hàng bị hủy với bên thứ ba, đơn đặt hàng (PO), dự báo doanh thu (forecast), sổ sách kế toán, biên bản phạt của khách hàng do giao hàng chậm.
- Chứng từ bảo hiểm (nếu có) và số tiền bồi thường đã nhận từ bảo hiểm phải được khấu trừ khỏi giá trị yêu cầu bồi thường theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015;
- Chứng cứ về nỗ lực hạn chế thiệt hại như thư yêu cầu đổi tuyến vận chuyển, hợp đồng thuê xe bổ sung, biên bản về biện pháp bảo quản hàng hóa chứng minh bên thuê vận chuyển đã thực hiện nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại.
Lưu ý: Thư khiếu nại về vi phạm hợp đồng vận chuyển phải được gửi đúng thời hạn quy định. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 170 Luật Hàng không dân dụng 2006, thời hạn thực hiện khiếu nại bằng văn bản đến bên vận chuyển dao động từ 07 ngày đến 21 ngày tùy vào từng trường hợp Luật định.
>>> Xem thêm: Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dịch vụ logistic
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng
Theo quy định Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại 2005. Cụ thể, thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được xác định là thời điểm bên thuê vận chuyển phát hiện hoặc đáng lẽ phải phát hiện thiệt hại do bên vận chuyển vi phạm hợp đồng gây ra.
Đối với hợp đồng vận chuyển chuyên ngành như hàng hải, hàng không, thời hiệu khởi kiện có thể ngắn hơn 02 năm theo quy định của luật chuyên ngành. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường đối với hàng hóa bị hư hỏng, mất mát là 01 năm kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng.
Như vậy, nếu thời hiệu khởi kiện đã hết mà bên thuê vận chuyển không khởi kiện thì Tòa án sẽ không chấp nhận giải quyết vụ việc, trừ trường hợp có lý do chính đáng để khôi phục thời hiệu theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng
Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng hỗ trợ Quý khách hàng xác định chính xác các khoản thiệt hại và phạm vi bồi thường. Luật sư phân tích hợp đồng vận chuyển, vận đơn, các điều khoản về giao nhận, bồi thường, phạt vi phạm, giới hạn trách nhiệm để xác định nghĩa vụ của bên vận. Dịch vụ của chúng tôi bao gồm:
- Tư vấn xác định các khoản yêu cầu bồi thường;
- Hướng dẫn thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại và trách nhiệm của bên vận chuyển;
- Tư vấn về thời hạn thông báo khiếu nại theo hợp đồng vận chuyển hoặc luật chuyên ngành để đảm bảo Quý khách hàng không mất quyền yêu cầu bồi thường do thông báo chậm;
- Soạn thảo văn bản thông báo, đơn khởi kiện và các đơn từ khác trong suốt quá trình giải quyết;
- Đại diện theo ủy quyền nộp đơn, theo dõi quá trình xử lý, tham gia các buổi làm việc tại cơ quan có thẩm quyền;
- Tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Quý khách tại các cơ quan tài phán và các cơ quan có thẩm quyền liên quan
Câu hỏi thường gặp về xác định yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng
Để giúp Quý khách hiểu rõ hơn về các khoản yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng, chúng tôi đã tổng hợp một số câu hỏi liên quan sau:
Có thể yêu cầu cả phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại cùng lúc không?
Có thể. Theo khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005, trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm, bên bị vi phạm (bên thuê vận chuyển) có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh do hành vi vi phạm của bên vận chuyển, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
“Giới hạn trách nhiệm bồi thường” trong hợp đồng vận chuyển nghĩa là gì?
Đây là mức bồi thường tối đa mà bên vận chuyển phải trả, ngay cả khi thiệt hại thực tế cao hơn, được quy định trong hợp đồng hoặc theo luật chuyên ngành. Ví dụ, Điều 152 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 giới hạn trách nhiệm ở mức 666.67 SDR (Quyền rút vốn đặc biệt) cho mỗi kiện hoặc 2 SDR cho mỗi kilôgam trọng lượng cả bì của hàng hóa; Điều 166 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (sửa đổi 2014) giới hạn ở mức 19 SDR/kg đối với hàng hóa. Giới hạn này không áp dụng nếu bên vận chuyển có lỗi cố ý hoặc nếu bên thuê vận chuyển đã kê khai giá trị hàng hóa (declaration of value) và trả thêm cước phí.
Trường hợp nào được xem là sự kiện bất khả kháng (force majeure) trong vận chuyển?
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (ví dụ: thiên tai nghiêm trọng, chiến tranh, dịch bệnh).
Bên vận chuyển có thể từ chối bồi thường nếu lỗi thuộc về bên thuê vận chuyển không?
Có. Theo khoản 1(c) Điều 294 Luật Thương mại 2005, bên vận chuyển (bên có nghĩa vụ) được miễn trách nhiệm bồi thường nếu chứng minh được hành vi vi phạm hợp đồng (gây thiệt hại) là hoàn toàn do lỗi của bên thuê vận chuyển (bên có quyền), ví dụ: đóng gói hàng hóa sai quy cách, khai báo sai chủng loại hoặc thông tin hàng hóa.
Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển trong việc “hạn chế thiệt hại” là gì?
Theo Điều 305 Luật Thương mại 2005, bên bị vi phạm (bên thuê vận chuyển) phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, bao gồm cả khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng, do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vận chuyển gây ra. Nếu bên thuê vận chuyển không thực hiện nghĩa vụ này, bên vận chuyển có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.
Trên đây là các câu trả lời cho các thắc mắc của Quý khách xoay quanh vấn đề này. Việc xác định chính xác các khoản được yêu cầu bồi thường sẽ giúp Quý khách có được khoản bồi thường nhằm khắc phục được phần nào những tổn thất và lấy lại uy tín của mình với khách hàng và đối tác.
Kết luận
Xác định các khoản yêu cầu bồi thường khi bên vận chuyển vi phạm hợp đồng vận chuyển yêu cầu Quý khách hàng nắm vững quy định tại khoản 2 Điều 302 Luật Thương mại 2005, Điều 351, 360, 419 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 294, 319 Luật Thương mại 2005. Quý khách hàng cần chuẩn bị đầy đủ chứng cứ, gửi thông báo vi phạm và thực hiện quyền khởi kiện trong thời hiệu 02 năm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Nếu Quý khách có bất kỳ thắc mắc về vấn đề này, hãy liên hệ hotline 1900636387 để được Luật Long Phan PMT tư vấn chi tiết và hỗ trợ bảo vệ quyền lợi trong hợp đồng vận chuyển.
Tags: Bồi thường thiệt hại hợp đồng vận chuyển, Bồi thường vi phạm hợp đồng, Chi phí ngăn chặn hạn chế thiệt hại, Lợi ích đáng lẽ được hưởng, Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng, thời hiệu khởi kiện hợp đồng, Thủ tục khởi kiện tranh chấp hợp đồng vận chuyển, Tổn thất tài sản, Vi phạm hợp đồng vận chuyển

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.