Tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại là việc người có thẩm quyền tạm dừng xử lý vụ việc khi có sự kiện bất khả kháng hoặc phải chờ kết quả một thủ tục khác liên quan trực tiếp, theo Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, áp dụng từ 01/7/2026. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều người khiếu nại nhầm lẫn giữa tạm đình chỉ và đình chỉ hẳn vụ việc, dẫn đến bỏ lỡ thời điểm yêu cầu tiếp tục giải quyết. Bài viết phân tích các trường hợp áp dụng, thủ tục ra quyết định và hướng xử lý thực tế cho vụ việc khiếu nại tố cáo đang bị tạm dừng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Từ ngày 01/7/2026, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chỉ được tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại khi thuộc một trong 02 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 (bổ sung 2025).
- Việc đình chỉ hẳn vụ việc chỉ được thực hiện khi thuộc một trong 04 trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, khác biệt hoàn toàn về hệ quả pháp lý so với tạm đình chỉ.
- Người khiếu nại có quyền nhận quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại theo điểm h khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung 2025).
- Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại, và khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, người giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định tiếp tục giải quyết trong thời hạn 03 ngày làm việc theo khoản 4 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 và Điều 28b Nghị định 155/2026/NĐ-CP.
Các trường hợp tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại từ 1/7/2026
Có 02 nhóm căn cứ để người có thẩm quyền tạm đình chỉ vụ việc, đều xuất phát từ trở ngại khách quan chứ không do lỗi của người khiếu nại. Đây là điểm mới được bổ sung vào Luật Khiếu nại 2011, giải quyết tình trạng trước đây pháp luật chưa quy định rõ cách xử lý khi vụ việc buộc phải tạm dừng vì lý do ngoài ý muốn của các bên. Quy định này áp dụng thống nhất cho mọi cấp giải quyết khiếu nại, từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đến các Bộ, ngành.
Theo khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 sửa đổi bổ sung năm 2025, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tạm đình chỉ vụ việc trong 02 trường hợp: (i) do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác khiến người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết; (ii) cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại. Cả hai căn cứ này đều mang tính tạm thời, không làm chấm dứt quyền khiếu nại của người khiếu nại.
Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia
Điểm a khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 sửa đổi bổ sung 2025 được cụ thể hóa tại Điều 28a Nghị định 155/2026/NĐ-CP (bổ sung Mục 2a Chương IV Nghị định 124/2020/NĐ-CP), liệt kê 03 nhóm sự kiện không giới hạn gồm:
- Thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, địch họa;
- Tai nạn, ốm đau, đi công tác hoặc học tập ở nơi xa;
- Hồ sơ, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ việc khiếu nại đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong.
Vì danh sách trên chỉ mang tính liệt kê minh họa, không phải danh sách đóng, người có thẩm quyền vẫn có thể xác định thêm trở ngại khách quan khác phù hợp thực tế vụ việc. Với những tình huống ngoại lệ này, người khiếu nại nên chủ động gửi tài liệu chứng minh sự kiện bất khả kháng (giấy nhập viện, quyết định tạm giữ tài liệu, giấy công tác…) ngay khi phát sinh, để cơ quan giải quyết có căn cứ đầy đủ khi ban hành quyết định tạm đình chỉ, tránh bị hiểu nhầm là chậm trễ tham gia vụ việc mà không có lý do chính đáng.
Phải chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề liên quan trực tiếp
Điểm b khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 áp dụng khi nội dung khiếu nại phụ thuộc vào kết quả của một thủ tục hành chính, tố tụng hoặc chuyên môn khác đang được xử lý song song tại cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền. Ví dụ điển hình là trường hợp khiếu nại quyết định thu hồi đất nhưng kết quả xác định nguồn gốc đất, ranh giới thửa đất còn đang chờ kết luận của cơ quan đo đạc, địa chính có thẩm quyền.
Trường hợp này khác với căn cứ bất khả kháng ở chỗ nguyên nhân tạm dừng không xuất phát từ bản thân người khiếu nại mà từ tiến độ xử lý của một quy trình khác. Người khiếu nại cần chủ động theo dõi tiến độ của thủ tục đang chờ kết quả, vì thời điểm thủ tục đó hoàn tất chính là căn cứ để yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại tiếp tục xử lý vụ việc đúng thời hạn.

Các trường hợp đình chỉ hẳn việc giải quyết khiếu nại
Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại làm chấm dứt hẳn việc xử lý vụ việc, gồm 04 nhóm căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011. Đây là hệ quả pháp lý nghiêm trọng hơn nhiều so với tạm đình chỉ, vì sau khi có quyết định đình chỉ, vụ việc khiếu nại đó về nguyên tắc không được xem xét lại theo đúng nội dung đã đình chỉ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Để người đọc dễ phân biệt hai chế định dễ nhầm lẫn này, bảng dưới đây tổng hợp các điểm khác biệt cơ bản giữa tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết khiếu nại:
| Tiêu chí | Tạm đình chỉ | Đình chỉ |
| Bản chất | Tạm dừng, có thể tiếp tục giải quyết | Chấm dứt hẳn việc giải quyết |
| Số nhóm căn cứ | 02 nhóm (khoản 1 Điều 11a) | 04 nhóm (khoản 2 Điều 11a) |
| Thời hạn giải quyết | Không tính thời gian tạm đình chỉ vào thời hạn giải quyết | Không còn thời hạn giải quyết vì vụ việc đã kết thúc |
| Khả năng tiếp tục | Tiếp tục giải quyết khi căn cứ không còn (khoản 4 Điều 11a) | Không tiếp tục, trừ trường hợp pháp luật cho phép xem xét lại (ví dụ rút khiếu nại do bị ép buộc, đe dọa) |
| Căn cứ pháp lý | Khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 | Khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 |
Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại
Theo điểm a khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, việc người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại là căn cứ đầu tiên dẫn đến đình chỉ giải quyết. Quy định này dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 10 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung 2025): nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa.
Với trường hợp ngoại lệ nêu trên, người khiếu nại cần lưu giữ ngay các bằng chứng thể hiện việc bị ép buộc hoặc đe dọa khi rút đơn (tin nhắn, ghi âm, người làm chứng) để có căn cứ đề nghị xem xét lại vụ việc, vì nếu không chứng minh được yếu tố ép buộc, việc rút khiếu nại gần như không thể đảo ngược.
>>> Xem thêm: Người khiếu nại rút lại đơn có được khiếu nại lại không?
Người khiếu nại chết hoặc tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ không được kế thừa
Điểm b khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 quy định đình chỉ khi cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế, hoặc cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản, kết thúc hoạt động mà quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được kế thừa. Ngược lại, nếu quyền, lợi ích đó vẫn được thừa kế hoặc kế thừa hợp pháp, người thừa kế hoặc tổ chức kế thừa vẫn có thể tiếp tục vụ việc thay vì để bị đình chỉ.
Vụ việc không còn đối tượng, nội dung để giải quyết hoặc đã được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng bản án, quyết định
Điểm c và điểm d khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 quy định hai căn cứ còn lại: vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết (ví dụ quyết định hành chính bị khiếu nại đã được cơ quan ban hành tự hủy bỏ); hoặc vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án.
Đây là trường hợp ngoại lệ dễ gây nhầm lẫn nhất trên thực tế, khi người khiếu nại vừa nộp đơn khiếu nại vừa khởi kiện vụ án hành chính về cùng một quyết định hoặc hành vi hành chính. Với tình huống này, người khiếu nại nên lựa chọn dứt điểm một con đường xử lý duy nhất — hoặc khiếu nại, hoặc khởi kiện — ngay từ đầu, vì một khi Tòa án đã thụ lý vụ án, việc giải quyết khiếu nại song song sẽ bị đình chỉ theo đúng quy định, khiến toàn bộ thời gian theo đuổi thủ tục khiếu nại trước đó không còn giá trị.
Thủ tục ra quyết định và khôi phục giải quyết khiếu nại
Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết khiếu nại phải được lập bằng văn bản, nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật, đồng thời người khiếu nại có quyền nhận quyết định này để chủ động theo dõi vụ việc. Đây là điểm mới quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch của quá trình giải quyết khiếu nại, tránh tình trạng vụ việc bị tạm dừng mà người khiếu nại không được thông báo hoặc không biết căn cứ pháp lý cụ thể.
Căn cứ pháp lý cho toàn bộ nội dung này gồm Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 và điểm h khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung 2025) — quy định quyền của người khiếu nại được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý, quyết định giải quyết, quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại (nếu có).
Thẩm quyền ban hành và nội dung bắt buộc của quyết định
Theo khoản 3 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật và gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại cùng cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 28a, Điều 28b Nghị định 155/2026/NĐ-CP (bổ sung Mục 2a Chương IV Nghị định 124/2020/NĐ-CP) hướng dẫn chi tiết trình tự ban hành, gửi các quyết định này và thông báo tiếp tục giải quyết khiếu nại.
Thẩm quyền ban hành quyết định thuộc về chính người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với vụ việc đó — không phải một cấp riêng biệt — nên người khiếu nại cần liên hệ đúng cơ quan đang thụ lý vụ việc để yêu cầu cung cấp quyết định tạm đình chỉ nếu chưa nhận được.
>>> Xem thêm: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo
Quy trình khôi phục, tiếp tục giải quyết khi căn cứ tạm đình chỉ không còn
Theo khoản 4 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 và Điều 28b Nghị định 155/2026/NĐ-CP, quy trình khôi phục việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo các bước sau:
- Người khiếu nại hoặc cơ quan, tổ chức liên quan cung cấp tài liệu chứng minh căn cứ tạm đình chỉ không còn.
- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xác minh căn cứ tạm đình chỉ đã chấm dứt.
- Ban hành quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại theo Mẫu số 14b, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày xác định căn cứ tạm đình chỉ không còn.
- Thông báo quyết định tiếp tục giải quyết cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và các bên có liên quan; thời hạn giải quyết khiếu nại được tính lại từ ngày ban hành quyết định này.
Thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không được tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định chung, nên việc chủ động thông báo cho cơ quan có thẩm quyền ngay khi căn cứ tạm đình chỉ chấm dứt có ý nghĩa quyết định đến tiến độ xử lý toàn bộ vụ việc.
>>> Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết các bước thủ tục khiếu nại quyết định khởi tố vụ án

Áp dụng quy định mới với vụ việc khiếu nại đã thụ lý trước 1/7/2026
Điều khoản chuyển tiếp của Nghị định 155/2026/NĐ-CP quy định rõ vụ việc khiếu nại cũ có bị xử lý theo quy định mới về tạm đình chỉ hay không, tùy vào việc đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại hay chưa tại thời điểm 01/7/2026. Đây là nội dung nhiều khách hàng đang có vụ việc dở dang cần nắm rõ để xác định đúng quy định áp dụng cho vụ việc của mình.
Vụ việc đã thông báo thụ lý nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết
Theo Điều khoản chuyển tiếp tại Điều 22 Nghị định 155/2026/NĐ-CP, việc rút khiếu nại, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại và đối thoại đối với vụ việc đã có thông báo thụ lý trước ngày 01/7/2026 nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết được thực hiện ngay theo quy định mới tại Nghị định 155/2026/NĐ-CP.
Đây là trường hợp ngoại lệ khách hàng đang có vụ việc dở dang cần đặc biệt lưu ý: nếu vụ việc rơi vào một trong 02 nhóm căn cứ tạm đình chỉ mới, người khiếu nại nên chủ động rà soát hồ sơ và trao đổi với cơ quan đang thụ lý để xác định quy định mới có làm thay đổi tiến độ giải quyết khiếu nại của mình hay không, tránh bị động khi nhận được quyết định tạm đình chỉ theo căn cứ trước đây chưa từng được quy định.
Vụ việc vi phạm pháp luật về khiếu nại được phát hiện trước 1/7/2026, đang được xem xét
Đối với hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại được phát hiện trước ngày Nghị định 155/2026/NĐ-CP có hiệu lực và đang được xem xét, giải quyết, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục áp dụng quy định tại Nghị định 124/2020/NĐ-CP đối với phần nội dung này; trường hợp hành vi vi phạm đang xem xét xử lý kỷ luật mà chưa có quyết định xử lý thì áp dụng quy định có lợi hơn cho cán bộ, công chức vi phạm.
Kinh nghiệm thực tế xử lý khiếu nại bị tạm đình chỉ, đình chỉ
Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, Luật Long Phan PMT nhận thấy phần lớn khách hàng chỉ phân biệt được tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết khiếu nại sau khi vụ việc đã rơi vào tình trạng bất lợi, thay vì nhận diện đúng ngay từ khi nhận được văn bản đầu tiên. Nhầm lẫn phổ biến nhất là cho rằng tạm đình chỉ cũng đồng nghĩa với việc vụ việc đã kết thúc, nên không tiếp tục theo dõi, dẫn đến bỏ lỡ thời điểm cần cung cấp tài liệu chứng minh căn cứ tạm đình chỉ đã chấm dứt.
Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, một sai lầm phổ biến khác là khách hàng không chủ động yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định tiếp tục giải quyết đúng thời hạn 03 ngày làm việc theo quy định, mà chỉ chờ đợi cơ quan tự thực hiện. Trên thực tế, nếu người khiếu nại không cung cấp tài liệu hoặc không có văn bản đề nghị, việc xác định thời điểm căn cứ tạm đình chỉ không còn thường bị kéo dài hơn nhiều so với thời hạn luật định, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người khiếu nại.
>>> Xem thêm: Cần khởi kiện hay làm gì khi khiếu nại hành chính không được giải quyết?
Rủi ro cần lưu ý khi khiếu nại bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
Rủi ro lớn nhất khi khiếu nại bị tạm đình chỉ không nằm ở bản thân quy định pháp luật, mà nằm ở việc người khiếu nại bỏ lỡ thời điểm cơ quan có thẩm quyền phải tiếp tục giải quyết vụ việc. Dưới đây là hai nhóm rủi ro doanh nghiệp và cá nhân cần đặc biệt lưu ý.
Rủi ro chậm phát hiện thời điểm căn cứ tạm đình chỉ đã chấm dứt
Theo Điều 28b Nghị định 155/2026/NĐ-CP, thời hạn 03 ngày làm việc để ban hành quyết định tiếp tục giải quyết chỉ được tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền xác định căn cứ tạm đình chỉ không còn. Nếu người khiếu nại không chủ động thông báo hoặc cung cấp tài liệu chứng minh (ví dụ giấy ra viện, kết quả giải quyết của cơ quan khác), thời điểm này có thể bị xác định muộn, kéo dài đáng kể thời gian giải quyết khiếu nại trên thực tế.
Rủi ro nhầm lẫn dẫn đến bị đình chỉ oan khi vừa khiếu nại vừa khởi kiện
Theo khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, việc vụ việc đã được Tòa án thụ lý là căn cứ trực tiếp dẫn đến đình chỉ giải quyết khiếu nại. Nhiều người khiếu nại vì lo ngại khiếu nại không hiệu quả nên nộp thêm đơn khởi kiện hành chính song song, dẫn đến toàn bộ thủ tục khiếu nại đang theo đuổi bị đình chỉ ngay khi Tòa án thụ lý, dù trước đó đã đầu tư nhiều thời gian, công sức cho việc khiếu nại.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Nếu vụ việc khiếu nại của Quý khách vừa nhận quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ mà chưa rõ căn cứ áp dụng có đúng quy định hay không, hoặc cần theo dõi đúng thời hạn 03 ngày làm việc để yêu cầu tiếp tục giải quyết, Luật Long Phan PMT sẵn sàng rà soát hồ sơ và tư vấn phương án xử lý phù hợp với tình trạng cụ thể của vụ việc.
Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư hành chính
📞 Hotline: 1900 636 387
✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn
💬 Zalo: 0939 846 973
📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.
Câu hỏi thường gặp về tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại: Các trường hợp mới từ 1/7/2026
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi vụ việc khiếu nại của mình bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Khiếu nại 2011 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 136/2025/QH15) và Nghị định 155/2026/NĐ-CP, áp dụng từ ngày 01/7/2026.
1. Tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại có bị tính lại thời hạn giải quyết không?
Không. Theo khoản 4 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011, thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, người có thẩm quyền tiếp tục giải quyết và thời hạn còn lại được tính tiếp từ thời điểm tạm dừng, không bị mất đi.
2. Người khiếu nại có được nhận quyết định tạm đình chỉ không?
Có. Theo điểm h khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 2 Luật số 136/2025/QH15), người khiếu nại có quyền nhận quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại nếu có. Nếu không nhận được, người khiếu nại có quyền yêu cầu cơ quan đang thụ lý cung cấp văn bản này.
3. Vụ việc khiếu nại đang thụ lý trước 01/7/2026 thì áp dụng quy định nào?
Theo Điều khoản chuyển tiếp tại Điều 22 Nghị định 155/2026/NĐ-CP, nếu vụ việc đã có thông báo thụ lý trước ngày 01/7/2026 nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết, việc rút khiếu nại, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại và đối thoại được áp dụng ngay theo quy định mới tại Nghị định 155/2026/NĐ-CP.
4. Khi nào việc khiếu nại bị đình chỉ hẳn thay vì chỉ tạm đình chỉ?
Việc đình chỉ hẳn áp dụng khi thuộc một trong 04 trường hợp tại khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011: người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại; người khiếu nại chết hoặc tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ không được kế thừa; vụ việc không còn đối tượng, nội dung để giải quyết; hoặc vụ việc đã được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án.
5. Sau khi bị đình chỉ, người khiếu nại có được khiếu nại lại về cùng nội dung không?
Về nguyên tắc là không. Theo khoản 3 Điều 10 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 2 Luật số 136/2025/QH15), nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa.
6. Thời hạn ban hành quyết định tiếp tục giải quyết sau khi hết tạm đình chỉ là bao lâu?
Theo khoản 4 Điều 11a Luật Khiếu nại 2011 và Điều 28b Nghị định 155/2026/NĐ-CP, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại theo Mẫu số 14b trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi xác định căn cứ tạm đình chỉ không còn.
Kết luận
Tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại và đình chỉ giải quyết khiếu nại là hai chế định mới, mang hệ quả pháp lý hoàn toàn khác nhau, đòi hỏi người khiếu nại phải xác định đúng căn cứ áp dụng và chủ động theo dõi thời hạn liên quan để không bỏ lỡ quyền lợi của mình. Việc nắm rõ 02 nhóm căn cứ tạm đình chỉ, 04 nhóm căn cứ đình chỉ và thời hạn 03 ngày làm việc để khôi phục giải quyết là yếu tố quyết định đến kết quả cuối cùng của vụ việc. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại và tư vấn phương án xử lý phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Khiếu nại 2011
- Nghị định 155/2026/NĐ-CP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Đình chỉ giải quyết khiếu nại, Khiếu nại hành chính, khiếu nại tố cáo, quy định khiếu nại 2026, quyền của người khiếu nại, quyết định đình chỉ khiếu nại, quyết định tạm đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại, Thời hạn giải quyết khiếu nại, thủ tục giải quyết khiếu nại, tiếp tục giải quyết khiếu nại, xử lý khiếu nại bị tạm đình chỉ

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.