Làm di chúc giả để hưởng tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị xử lý cả về dân sự lẫn hình sự chứ không đơn thuần là mất quyền thừa kế. Luật Long Phan PMT ghi nhận nhiều vụ việc thực tế trong đó một người thân tự soạn di chúc, giả chữ ký của cha mẹ đã mất hoặc không còn minh mẫn để chiếm phần di sản lớn hơn phần được chia theo pháp luật, dẫn đến tranh chấp kéo dài và có thể phát sinh trách nhiệm hình sự. Bài viết phân tích căn cứ xác định di chúc giả, hiệu lực pháp lý của di chúc giả và các hướng xử lý tương ứng cho người thừa kế bị xâm phạm quyền lợi.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Di chúc bị coi là giả khi có dấu hiệu giả về nội dung hoặc giả về hình thức, và chỉ được khẳng định chính thức khi có kết luận giám định cùng kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng.
- Di chúc giả không phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập, dù đã được sử dụng để định đoạt tài sản trên thực tế.
- Người làm giả di chúc có thể bị xử lý đồng thời nhiều tội danh nếu các hành vi làm giả tài liệu và chiếm đoạt tài sản độc lập với nhau về mặt cấu thành tội phạm.
- Người làm giả di chúc có thể bị xử lý đồng thời nhiều tội danh nếu các hành vi làm giả tài liệu và chiếm đoạt tài sản độc lập với nhau về mặt cấu thành tội phạm.
Căn cứ xác định di chúc là giả
Di chúc được xác định là giả khi có dấu hiệu giả về nội dung hoặc giả về hình thức so với ý chí thật của người để lại di sản, và việc xác định này chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc khi được khẳng định bằng kết luận giám định cùng kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất trước khi bàn đến hậu quả pháp lý hay trách nhiệm hình sự của người làm giả.
Giả về nội dung của di chúc
Giả về nội dung là việc tạo ra thông tin sai sự thật về ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản, không phản ánh đúng nguyện vọng thật của họ. Trong thực tiễn tư vấn, Luật Long Phan PMT từng tiếp nhận tình huống một người con tự soạn toàn bộ nội dung di chúc, tự ấn định người thừa kế và tỷ lệ phân chia tài sản theo ý mình, trong khi người để lại di sản chưa từng thể hiện ý chí như vậy. Cũng thuộc nhóm này là hành vi sửa nội dung một di chúc thật đã lập, thêm hoặc bớt người thừa kế, thay đổi tỷ lệ phân chia so với bản gốc.
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Khi nội dung di chúc không xuất phát từ chính ý chí của người để lại di sản, di chúc đó không còn thỏa mãn định nghĩa này và không đáp ứng điều kiện hợp pháp tại điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 về việc người lập di chúc không bị lừa dối, cưỡng ép.
Giả về hình thức của di chúc
Giả về hình thức là việc làm giả các yếu tố xác thực của di chúc như chữ ký, điểm chỉ của người để lại di sản, hoặc con dấu, chữ ký chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Các hình thức phổ biến gồm giả chữ ký của người để lại di sản trên bản di chúc tự lập, và làm giả con dấu, chữ ký công chứng viên hoặc xác nhận của UBND cấp xã để tạo vỏ bọc hợp pháp cho di chúc giả dưới dạng “đã công chứng, chứng thực”.
Điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê các hành vi xâm phạm ý chí của người để lại di sản, bao gồm giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc và che giấu di chúc, làm căn cứ xác định người thực hiện các hành vi này không được quyền hưởng di sản.
>>> Xem thêm: Di chúc viết tay không công chứng: Khi nào hợp lệ & hướng xử lý
Kết luận giám định và xác nhận của cơ quan tiến hành tố tụng
Việc một bên cho rằng di chúc là giả chỉ là cáo buộc ban đầu; di chúc chỉ chính thức được coi là giả khi có kết luận giám định về chữ ký, tài liệu và kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Trong giai đoạn giải quyết tố giác hoặc điều tra hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có quyền trưng cầu giám định chữ ký, tài liệu khi xét thấy cần thiết theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hoặc theo yêu cầu giám định của bị hại theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Trong tố tụng dân sự, theo khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định nếu Tòa án từ chối yêu cầu trưng cầu giám định của mình. Kết luận cuối cùng có giá trị ràng buộc thuộc về Tòa án có thẩm quyền: Tòa hình sự khi xét xử tội phạm liên quan đến hành vi làm giả di chúc, và Tòa dân sự khi giải quyết yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu hoặc tranh chấp thừa kế có liên quan.
Hiệu lực của di chúc giả
Di chúc giả không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm được lập ra, kể cả khi đã được dùng để định đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản trên thực tế. Đây là hậu quả pháp lý trực tiếp và cơ bản nhất, áp dụng bất kể di chúc giả đã được các đồng thừa kế thực hiện đến giai đoạn nào.
Do di chúc giả không phải là ý chí thật của người để lại di sản nên không đáp ứng điều kiện hợp pháp tại Điều 630, Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên tắc này áp dụng đầy đủ cho di chúc giả.
Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp.
Đối với các đồng thừa kế, việc di chúc giả không phát sinh hiệu lực có nghĩa là các đồng thừa kế không bị ràng buộc bởi nội dung phân chia trong di chúc giả, dù trước đó đã ký nhận hoặc thực hiện theo nội dung này. Đối với việc định đoạt di sản, phần tài sản đã được định đoạt theo di chúc giả, kể cả trường hợp đã sang tên, chuyển nhượng cho bên thứ ba, đều không có căn cứ pháp lý hợp pháp và có thể bị yêu cầu khôi phục lại tình trạng ban đầu theo thủ tục tố tụng dân sự.
>>> Xem thêm: Toàn tập quy trình các bước giải quyết tranh chấp thừa kế bè cá
Các trường hợp làm di chúc giả bị xử lý hình sự
Làm di chúc giả để hưởng tài sản có thể cấu thành đồng thời hai nhóm hành vi bị xử lý hình sự riêng biệt: hành vi làm giả tài liệu, chữ ký, con dấu và hành vi chiếm đoạt tài sản thông qua thủ đoạn gian dối. Việc xác định đúng hành vi nào cấu thành tội danh nào có ý nghĩa quyết định đến mức hình phạt mà người vi phạm phải gánh chịu.
Hành vi làm giả tài liệu, chữ ký, con dấu
Hành vi làm giả con dấu, chữ ký công chứng viên hoặc xác nhận của UBND cấp xã để tạo hình thức hợp pháp cho di chúc giả có thể cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), tội danh này có 03 khung hình phạt chính:
| Khung | Trường hợp áp dụng | Mức hình phạt |
| Khoản 1 | Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức, hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật | Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm |
| Khoản 2 | Phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu, giấy tờ; sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng | Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm |
| Khoản 3 | Làm 06 con dấu, tài liệu, giấy tờ trở lên; sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên | Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
Ngoài hình phạt chính, theo khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Hành vi chiếm đoạt tài sản
Hành vi dùng di chúc giả khiến đồng thừa kế, cơ quan công chứng hoặc Tòa án tin là thật để giao, công nhận tài sản cho mình thể hiện dấu hiệu “thủ đoạn gian dối” của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017; nội dung Điều 174 không thay đổi bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025), tội này có 04 khung hình phạt theo giá trị tài sản chiếm đoạt:
| Khung | Giá trị tài sản chiếm đoạt | Mức hình phạt |
| Khoản 1 | Từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (hoặc dưới 2.000.000 đồng nếu thuộc trường hợp đặc biệt) | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
| Khoản 2 | Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
| Khoản 3 | Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng | Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm |
| Khoản 4 | Từ 500.000.000 đồng trở lên | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân |
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trường hợp một người vừa làm giả con dấu, tài liệu vừa dùng di chúc giả để chiếm đoạt tài sản, hai hành vi này có thể bị xử lý về hai tội danh độc lập nếu mỗi hành vi đều thỏa mãn đầy đủ cấu thành tội phạm riêng, không loại trừ lẫn nhau. Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội danh, sau đó tổng hợp thành một hình phạt chung theo nguyên tắc do Bộ luật Hình sự quy định. Đây là điểm người thừa kế và người bị nghi làm giả di chúc cần lưu ý, vì mức hình phạt thực tế có thể cao hơn nhiều so với việc chỉ bị xử lý một tội danh.

Các trường hợp làm giả di chúc bị xử lý hành chính
Không phải mọi trường hợp làm giả di chúc đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự. Khi đó, hành vi vi phạm này có thể bị xử lý hành chính.
Theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác trong trường hợp này bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Mức xử phạt hành chính này áp dụng riêng cho hành vi chiếm đoạt tài sản; nếu hành vi giả mạo con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này dù hành vi chiếm đoạt tài sản chỉ bị xử phạt hành chính.
Quy định pháp luật về phân chia di sản thừa kế khi di chúc bị xác định là giả
Khi di chúc bị xác định là giả, phần di sản định đoạt trong di chúc đó không được công nhận theo nội dung giả mạo và phải được xử lý theo một trong hai hướng: chia theo di chúc thật nếu có hiệu lực pháp luật, hoặc chia theo pháp luật nếu không còn di chúc thật nào khác. Việc xác định đúng hướng xử lý phụ thuộc vào việc người để lại di sản có từng lập một di chúc hợp pháp khác hay không.
Trường hợp còn một di chúc thật khác được xác định là hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, phần di sản liên quan sẽ được chia theo nội dung di chúc thật này, không phụ thuộc vào nội dung di chúc giả đã bị vô hiệu. Trường hợp không còn di chúc thật nào khác, hoặc người để lại di sản chưa từng lập di chúc hợp pháp, phần di sản này được chia theo pháp luật theo Điều 643, Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015
Theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp di chúc không hợp pháp. Di chúc giả không đáp ứng điều kiện hợp pháp nên rơi vào trường hợp này, và di sản sẽ được chia theo hàng thừa kế theo quy định pháp luật, với những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Dịch vụ luật sư tư vấn, xử lý hành vi làm di chúc giả để hưởng tài sản
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc nghi ngờ di chúc bị làm giả để chiếm đoạt tài sản thừa kế với các công việc sau:
- Rà soát di chúc và tài liệu liên quan để đánh giá dấu hiệu giả về nội dung hoặc giả về hình thức.
- Hỗ trợ liên hệ tổ chức giám định chữ ký, giám định tài liệu và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu trưng cầu giám định.
- Đánh giá dấu hiệu cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, kể cả khả năng bị xử lý đồng thời nhiều tội danh.
- Soạn đơn tố giác tội phạm hoặc đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu và xác định phương án chia di sản theo pháp luật.
- Đại diện khách hàng làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về làm di chúc giả để hưởng tài sản
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi nghi ngờ di chúc bị làm giả nhằm hưởng tài sản thừa kế. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và các văn bản hướng dẫn liên quan.
1. Dựa vào đâu để xác định một di chúc là giả?
Di chúc bị coi là giả khi có dấu hiệu giả về nội dung, tức thông tin không phản ánh đúng ý chí thật của người để lại di sản, hoặc giả về hình thức, tức giả chữ ký, con dấu chứng thực. Việc xác định chính thức cần có kết luận giám định chữ ký, tài liệu theo Điều 205, Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hoặc Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cùng kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền.
2. Làm giả di chúc để hưởng tài sản có bị đi tù không?
Có thể nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi này bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, với mức phạt tù có thể lên đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy giá trị tài sản chiếm đoạt. Nếu còn giả cả con dấu, chữ ký công chứng, người vi phạm có thể bị xử lý thêm về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.
3. Một người có thể bị xử lý cùng lúc hai tội danh vì làm giả di chúc không?
Có thể. Nếu hành vi làm giả con dấu, tài liệu và hành vi chiếm đoạt tài sản đều độc lập thỏa mãn đầy đủ cấu thành tội phạm riêng, người vi phạm có thể bị xét xử về cả hai tội danh. Theo Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015, Tòa án quyết định hình phạt cho từng tội rồi tổng hợp thành hình phạt chung.
4. Nếu giá trị tài sản trong di chúc giả nhỏ thì có bị xử lý hình sự không?
Không đương nhiên. Nếu giá trị tài sản định đoạt trong di chúc giả dưới 2.000.000 đồng và người vi phạm chưa từng bị xử phạt hành chính hoặc kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 252/2025/NĐ-CP.
5. Khi di chúc bị xác định là giả thì di sản được chia như thế nào?
Nếu người để lại di sản còn một di chúc thật khác được xác định hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di sản được chia theo di chúc thật đó. Nếu không còn di chúc thật nào khác, theo điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, di sản được chia theo pháp luật, tức theo hàng thừa kế với phần di sản bằng nhau giữa những người thừa kế cùng hàng.
Kết luận
Làm di chúc giả để hưởng tài sản là hành vi vừa làm mất hiệu lực pháp lý của chính di chúc đó, vừa có thể khiến người vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thậm chí đồng thời cả tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nếu các hành vi độc lập với nhau. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá dấu hiệu tội phạm và đại diện làm việc với các cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình giải quyết. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
- Nghị định 252/2025/NĐ-CP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Chia di sản thừa kế, di chúc giả để hưởng tài sản, Di chúc vô hiệu, Điều kiện di chúc hợp pháp, giả mạo di chúc, giám định chữ ký di chúc, làm giả chữ ký di chúc, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thừa kế theo pháp luật, Tội làm giả tài liệu, tuyên bố di chúc vô hiệu

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.