Hợp đồng tín dụng vừa có lãi quá hạn vừa phạt vi phạm có hợp pháp?

Hợp đồng tín dụng vừa có lãi quá hạn vừa phạt vi phạm là dạng điều khoản phổ biến trong hợp đồng vay tại các tổ chức tín dụng, nhưng không phải trường hợp nào việc áp dụng đồng thời hai chế tài này cũng đúng quy định pháp luật. Luật Long Phan PMT nhận thấy đây là một trong những nội dung dễ gây tranh cãi nhất khi giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến hợp đồng vay vốn ngân hàng, bởi khách hàng vay thường không biết mình có quyền yêu cầu loại bỏ phần chế tài bị tính trùng. Bài viết dưới đây phân tích căn cứ pháp lý, nguyên tắc xử lý của Tòa án và hướng giải quyết cụ thể cho khách hàng vay khi rơi vào tình huống này.

Hợp đồng tín dụng vừa có lãi quá hạn vừa phạt vi phạm và nguyên tắc xử lý hợp pháp.
Hợp đồng có thể ghi nhận cả hai điều khoản nhưng không được áp dụng cộng dồn cho cùng một hành vi chậm trả.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Pháp luật không cấm hợp đồng tín dụng ghi nhận đồng thời lãi quá hạn và phạt vi phạm, nhưng hai chế tài này không được áp dụng cộng dồn cho cùng một hành vi không trả nợ đúng hạn.
  • Theo Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, hợp đồng tín dụng vừa có lãi trong hạn, lãi quá hạn, vừa có phạt vi phạm áp dụng cho hành vi không trả nợ khi đến hạn thì thỏa thuận phạt vi phạm là không phù hợp với quy định pháp luật.
  • Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án chỉ xử lý theo một chế tài duy nhất đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn, không chấp nhận yêu cầu cộng dồn cả lãi quá hạn lẫn phạt vi phạm.
  • Khách hàng vay có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng điều chỉnh hoặc yêu cầu Tòa án loại bỏ phần chế tài trùng lặp khi bị tính vượt quá nguyên tắc nêu trên.

Nội Dung Bài Viết

Hợp đồng tín dụng có được thỏa thuận đồng thời lãi quá hạn và phạt vi phạm không?

Về mặt hình thức, pháp luật không cấm việc hợp đồng tín dụng ghi nhận cả hai loại điều khoản, vì lãi quá hạn và phạt vi phạm đều có căn cứ pháp lý riêng biệt theo pháp luật ngân hàng và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, việc tồn tại đồng thời hai điều khoản trong văn bản hợp đồng khác hoàn toàn với việc được áp dụng cộng dồn cả hai khi xử lý cùng một hành vi vi phạm là không trả nợ đúng hạn. Đây là điểm mấu chốt mà khách hàng vay và cả tổ chức tín dụng thường nhầm lẫn khi soạn thảo hoặc thực hiện hợp đồng.

>>> Xem thêm: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Căn cứ pháp luật cho phép thỏa thuận lãi quá hạn khi khách hàng chậm trả nợ

Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động cho vay theo pháp luật chuyên ngành về tổ chức tín dụng, không áp dụng giới hạn lãi suất tại Bộ luật Dân sự cho hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh; tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.

Ngoài ra, theo Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thống nhất: khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết, không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự. Trên cơ sở đó, lãi quá hạn trên nợ gốc chưa trả trong hợp đồng tín dụng được xác định theo thỏa thuận của các bên, với điều kiện phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng.

Căn cứ pháp luật cho phép thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng cho vay

Song song với lãi suất, tổ chức tín dụng và khách hàng còn được quyền thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại khi một bên không thực hiện đúng nội dung đã cam kết trong thỏa thuận cho vay. Theo khoản 1 Điều 25 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023), tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về việc phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật đối với trường hợp tổ chức tín dụng hoặc khách hàng không thực hiện đúng nội dung trong thỏa thuận cho vay, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 13 của Thông tư này. Điều khoản loại trừ này chính là căn cứ trực tiếp cho nguyên tắc “chỉ xử lý một lần” được phân tích ở phần tiếp theo, vì khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định riêng về cách tính lãi khi khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc, lãi vay đúng hạn.

>>> Xem thêm: Lưu ý về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại khi soạn thảo hợp đồng 

Nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn

Đây là nguyên tắc trung tâm trả lời trực tiếp câu hỏi hợp đồng tín dụng vừa có lãi quá hạn vừa có phạt vi phạm có hợp pháp không. Theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn. Khoản 2 Điều 12 Nghị quyết này quy định cụ thể hơn: hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản hướng dẫn áp dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý theo đúng nguyên tắc chỉ xử lý một lần nêu trên.

Nội dung này đã được Tòa án nhân dân tối cao khẳng định lại tại Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Cụ thể, mục 40 của Công văn nêu rõ: đối với hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm trong trường hợp bên vay không trả nợ khi đến hạn, căn cứ Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Điều 7 và Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, khoản 1 Điều 25 và khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN) thì thỏa thuận phạt vi phạm trong trường hợp này là không phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, hợp đồng tín dụng không đương nhiên vô hiệu toàn bộ khi ghi nhận cả hai loại điều khoản, nhưng riêng phần phạt vi phạm áp dụng cho chính hành vi không trả nợ khi đến hạn — cùng hành vi đã bị tính lãi quá hạn — không có giá trị áp dụng.

Trường hợp nào thỏa thuận vừa lãi quá hạn vừa phạt vi phạm bị coi là không phù hợp?

Nguyên tắc chỉ xử lý một lần nêu trên cần được cụ thể hóa thành các tình huống thực tế thường gặp trong hợp đồng tín dụng mẫu do tổ chức tín dụng soạn sẵn. Việc này giúp khách hàng vay tự đối chiếu hợp đồng đang ký hoặc đang tranh chấp với đúng căn cứ pháp lý, tránh nhầm lẫn giữa việc điều khoản “tồn tại” và điều khoản “được áp dụng”.

Hợp đồng áp dụng cả lãi quá hạn và phạt vi phạm cho cùng một hành vi chậm trả nợ gốc, lãi

Tình huống điển hình nhất là hợp đồng tín dụng quy định: khi khách hàng chậm trả nợ gốc hoặc lãi đến hạn, tổ chức tín dụng vừa tự động tính lãi trên nợ gốc quá hạn theo thỏa thuận, vừa tính thêm một khoản phạt vi phạm cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền chậm trả, cho cùng một sự kiện vi phạm duy nhất là “không trả nợ đúng hạn”. Đây chính là trường hợp bị loại trừ tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN (dẫn chiếu ngược lại khoản 4 Điều 13 Thông tư này) và bị Công văn 250/TANDTC-PC mục 40 xác định là không phù hợp quy định pháp luật. Khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận thì khách hàng phải trả lãi theo các mức: lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; lãi chậm trả trên số lãi tiền vay chưa trả; và lãi trên dư nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn.

Hậu quả pháp lý đối với phần thỏa thuận bị coi là không phù hợp

Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án không tuyên vô hiệu toàn bộ hợp đồng tín dụng chỉ vì hợp đồng ghi nhận cả hai loại điều khoản. Theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Tòa án chỉ xử lý theo một chế tài phù hợp nhất cho hành vi không trả nợ đúng hạn — trên thực tế là lãi trên nợ gốc quá hạn theo khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN — còn phần chế tài trùng lặp là phạt vi phạm áp dụng cho cùng hành vi đó không được chấp nhận.

Tổng hợp những  căn cứ pháp lý theo từng tình huống thường gặp:

Tình huống trong hợp đồng tín dụng Chế tài được Tòa án chấp nhận Căn cứ pháp lý
Chỉ có thỏa thuận lãi quá hạn, không có phạt vi phạm Lãi trên nợ gốc quá hạn theo thỏa thuận Khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN
Chỉ có thỏa thuận phạt vi phạm, không có lãi quá hạn cho cùng hành vi Phạt vi phạm theo thỏa thuận Khoản 1 Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN
Có cả lãi quá hạn và phạt vi phạm cho cùng hành vi không trả nợ đúng hạn Chỉ áp dụng lãi quá hạn; phạt vi phạm không phù hợp Khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP; mục 40 Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026
Lãi quá hạn và phạt vi phạm bị coi là không phù hợp khi áp dụng cho cùng hành vi chậm trả.
Nếu cùng một hành vi không trả nợ đúng hạn bị áp dụng cả lãi quá hạn và phạt vi phạm thì phần phạt không được chấp nhận.

Tòa án xử lý tranh chấp hợp đồng tín dụng có cả lãi quá hạn và phạt vi phạm như thế nào?

Khách hàng đang có tranh chấp cần biết Tòa án căn cứ vào đâu, tại thời điểm nào để xác định số tiền lãi, phạt phải trả trong bản án. Bên cạnh nguyên tắc chỉ xử lý một lần đã phân tích ở trên, Tòa án còn phải xác định đúng văn bản pháp luật áp dụng theo từng giai đoạn của quá trình vay và tố tụng.

Căn cứ pháp luật áp dụng theo thời điểm xác lập hợp đồng và thời điểm tính lãi

Theo khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, khi xử lý hợp đồng vay tài sản vừa có phạt vi phạm vừa có lãi trên nợ gốc quá hạn, Tòa án phải căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất — không áp dụng máy móc quy định đang có hiệu lực tại thời điểm xét xử nếu quy định đó đã có thay đổi so với thời điểm ký hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01/01/2017, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả và lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng.

Cách xác định lãi, lãi suất tại thời điểm xét xử sơ thẩm và sau khi bản án có hiệu lực

Số tiền lãi phải trả được xác định theo hai giai đoạn tách biệt.

  • Giai đoạn thứ nhất tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm: khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc được tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  • Giai đoạn thứ hai, từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến khi thi hành án xong, được xác định theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP: đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, Tòa án quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Ví dụ minh họa cách tính lại số tiền phải trả khi hợp đồng có cả hai điều khoản

Ví dụ minh họa sau đây do bài viết tự xây dựng mang tính chất tham khảo nhằm giúp người đọc hình dung cách áp dụng nguyên tắc chỉ xử lý một lần, không phải số liệu trích từ một bản án cụ thể nào. Giả sử khách hàng có dư nợ gốc quá hạn 500.000.000 đồng, hợp đồng thỏa thuận lãi quá hạn 15%/năm và phạt vi phạm 2% trên số tiền chậm trả cho mỗi lần vi phạm, thời gian chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 90 ngày.

  • Nếu tổ chức tín dụng tính cộng dồn cả hai chế tài: lãi quá hạn khoảng 500.000.000 × 15% × 90/365 ≈ 18.493.000 đồng, cộng thêm phạt vi phạm 500.000.000 × 2% = 10.000.000 đồng, tổng cộng khách hàng bị yêu cầu trả thêm 28.493.000 đồng ngoài nợ gốc.
  • Áp dụng đúng nguyên tắc chỉ xử lý một lần theo khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP và mục 40 Công văn 250/TANDTC-PC: Tòa án chỉ chấp nhận phần lãi quá hạn 18.493.000 đồng, loại bỏ toàn bộ phần phạt vi phạm 10.000.000 đồng vì áp dụng cho cùng hành vi không trả nợ đúng hạn đã được tính lãi quá hạn.

Số liệu trên chỉ mang tính minh họa nguyên tắc; số tiền thực tế của từng vụ việc phụ thuộc vào lãi suất cụ thể, thời gian chậm trả và nội dung thỏa thuận trong từng hợp đồng.

Rủi ro pháp lý cho khách hàng vay khi hợp đồng tín dụng có điều khoản vừa lãi quá hạn vừa phạt vi phạm

Ngoài việc hiểu đúng nguyên tắc pháp lý, khách hàng vay cần nhận diện rủi ro thực tế có thể gặp phải trước khi tranh chấp xảy ra hoặc trong quá trình tổ chức tín dụng thu hồi nợ.

Rủi ro bị tính trùng nghĩa vụ tài chính nếu không phát hiện và phản đối kịp thời

Nếu khách hàng không rà soát hợp đồng và không chủ động khiếu nại hoặc phản tố, tổ chức tín dụng có thể thu đủ cả lãi quá hạn lẫn phạt vi phạm trước khi có phán quyết của Tòa án, khiến khách hàng phải tự chứng minh và yêu cầu hoàn trả phần thu vượt sau đó. Nguyên tắc tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP chính là cơ sở để khách hàng yêu cầu tổ chức tín dụng điều chỉnh lại cách tính hoặc yêu cầu Tòa án loại bỏ phần chế tài trùng lặp khi khởi kiện, phản tố.

Rủi ro khi ký hợp đồng mẫu có điều khoản soạn sẵn không phù hợp quy định

Hợp đồng tín dụng thường là hợp đồng theo mẫu do tổ chức tín dụng soạn sẵn, khách hàng ít khi đàm phán được từng điều khoản trước khi ký. Theo thực tiễn tư vấn của Luật Long Phan PMT, nhiều hợp đồng mẫu vẫn giữ đồng thời điều khoản lãi quá hạn và phạt vi phạm áp dụng cho cùng hành vi chậm trả nợ dù nội dung này không phù hợp với nguyên tắc chỉ xử lý một lần. Việc rà soát điều khoản trước khi ký, đặc biệt tại phần quy định về hậu quả của việc chậm trả nợ, là biện pháp phòng ngừa quan trọng nhất để tránh phát sinh tranh chấp sau này.

Giải pháp xử lý khi phát sinh tranh chấp về lãi quá hạn và phạt vi phạm

Khi phát hiện hợp đồng hoặc thông báo thu nợ của tổ chức tín dụng áp dụng đồng thời hai chế tài cho cùng một hành vi, khách hàng cần hành động theo trình tự cụ thể để bảo vệ quyền lợi.

Rà soát điều khoản hợp đồng tín dụng trước khi ký kết

Khách hàng cần đối chiếu điều khoản lãi quá hạn, phạt vi phạm trong dự thảo hợp đồng với nguyên tắc chỉ xử lý một lần, đặc biệt lưu ý điều khoản có áp dụng cộng dồn cho cùng một hành vi không trả nợ đúng hạn hay không trước khi ký kết. Việc phát hiện và yêu cầu điều chỉnh điều khoản ngay từ giai đoạn đàm phán giúp hạn chế tối đa rủi ro tranh chấp sau này.

Khiếu nại hoặc yêu cầu điều chỉnh khi bị tính trùng chế tài

Khi đã ký hợp đồng và bị tổ chức tín dụng tính cả lãi quá hạn lẫn phạt vi phạm cho cùng hành vi chậm trả, khách hàng nên gửi văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng điều chỉnh lại cách tính theo đúng nguyên tắc tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, trước khi tiến hành thủ tục tố tụng tại Tòa án.

Khởi kiện hoặc phản tố tại Tòa án khi tổ chức tín dụng áp dụng đồng thời hai chế tài trái nguyên tắc

Trường hợp tổ chức tín dụng không điều chỉnh, khách hàng có quyền khởi kiện hoặc phản tố tại Tòa án, viện dẫn đúng nguyên tắc chỉ xử lý một lần theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP và mục 40 Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 để yêu cầu Tòa án loại bỏ phần chế tài trùng lặp. Cần lưu ý tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay tiêu dùng cá nhân, không nhằm mục đích kinh doanh, được xác định là tranh chấp dân sự theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; trường hợp khách hàng vay nhằm mục đích kinh doanh, thương mại thì tranh chấp được xác định là tranh chấp kinh doanh, thương mại, làm căn cứ xác định đúng thủ tục tố tụng áp dụng.

Giải pháp xử lý tranh chấp hợp đồng tín dụng khi bị tính trùng lãi quá hạn và phạt vi phạm.
Khách hàng nên rà soát điều khoản, yêu cầu điều chỉnh và khởi kiện hoặc phản tố khi bị áp dụng trùng chế tài.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ khách hàng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng vay trong các vụ việc tranh chấp về lãi quá hạn, phạt vi phạm hợp đồng tín dụng với các công việc sau:

  • Rà soát điều khoản hợp đồng tín dụng và đối chiếu với nguyên tắc chỉ xử lý một lần theo quy định pháp luật hiện hành.
  • Tính toán lại số tiền lãi, phạt phải trả đúng nguyên tắc để xác định phần chênh lệch bị tính vượt.
  • Soạn thảo văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng điều chỉnh cách tính lãi, phạt trước khi khởi kiện.
  • Soạn đơn khởi kiện hoặc đơn phản tố khi tổ chức tín dụng áp dụng đồng thời hai chế tài trái nguyên tắc.
  • Đại diện khách hàng tham gia tố tụng, làm việc với Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về lãi quá hạn và phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng có hợp pháp?

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng vay thường đặt ra khi hợp đồng tín dụng có cả điều khoản lãi quá hạn và phạt vi phạm. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Thông tư 39/2016/TT-NHNN và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ mới nhất của Tòa án nhân dân tối cao.

1. Hợp đồng tín dụng có được thỏa thuận cả lãi quá hạn và phạt vi phạm không?

Về hình thức, pháp luật không cấm hợp đồng tín dụng ghi nhận đồng thời hai loại điều khoản này theo Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP. Tuy nhiên, việc có tồn tại điều khoản không đồng nghĩa với việc được áp dụng cộng dồn cả hai khi khách hàng không trả nợ đúng hạn. Khi xử lý cùng một hành vi vi phạm, Tòa án chỉ chấp nhận một chế tài duy nhất theo nguyên tắc tại Điều 12 Nghị quyết này.

2. Khi hợp đồng có cả lãi quá hạn và phạt vi phạm, Tòa án áp dụng chế tài nào?

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP và mục 40 Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026, Tòa án chỉ áp dụng lãi trên nợ gốc quá hạn theo khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, không chấp nhận phần phạt vi phạm áp dụng cho cùng hành vi không trả nợ đúng hạn đó. Phần phạt vi phạm bị coi là không phù hợp với quy định pháp luật trong trường hợp này.

3. Thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng có bị vô hiệu toàn bộ không?

Không. Việc phạt vi phạm áp dụng cho hành vi không trả nợ đúng hạn không phù hợp quy định pháp luật không làm vô hiệu toàn bộ hợp đồng tín dụng, cũng không làm mất hiệu lực của các điều khoản phạt vi phạm áp dụng cho những hành vi vi phạm khác không trùng với hành vi đã bị tính lãi quá hạn. Căn cứ khoản 1 Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng và khách hàng vẫn được thỏa thuận phạt vi phạm cho các vi phạm khác nội dung thỏa thuận cho vay.

4. Khách hàng bị tính cả lãi quá hạn và phạt vi phạm cho cùng một khoản nợ phải làm gì?

Khách hàng nên rà soát lại thông báo thu nợ, đối chiếu với nguyên tắc chỉ xử lý một lần tại Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, sau đó gửi văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng điều chỉnh cách tính. Nếu tổ chức tín dụng không điều chỉnh, khách hàng có quyền khởi kiện hoặc phản tố tại Tòa án để yêu cầu loại bỏ phần chế tài trùng lặp.

5. Lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm được tính như thế nào?

Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

6. Tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc vụ án dân sự hay vụ án kinh doanh, thương mại?

Việc xác định phụ thuộc vào mục đích vay. Nếu hợp đồng tín dụng cấp vốn cho khách hàng vay tiêu dùng cá nhân, không nhằm hoạt động kinh doanh, tranh chấp được xác định là tranh chấp dân sự. Nếu khách hàng vay nhằm mục đích kinh doanh, thương mại, tranh chấp được xác định là tranh chấp kinh doanh, thương mại theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kết luận

Hợp đồng tín dụng vừa có lãi quá hạn vừa có phạt vi phạm không đương nhiên trái pháp luật, nhưng việc áp dụng cộng dồn cả hai chế tài cho cùng một hành vi không trả nợ đúng hạn là không phù hợp với quy định pháp luật, theo đúng nguyên tắc chỉ xử lý một lần tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP và hướng dẫn mới nhất tại Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao. Khách hàng vay cần chủ động rà soát hợp đồng, tính toán lại số tiền thực tế phải trả và kịp thời khiếu nại hoặc khởi kiện khi phát hiện bị tính trùng nghĩa vụ tài chính. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng rà soát hợp đồng và tư vấn phương án xử lý phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  • Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
  • Thông tư 39/2016/TT-NHNN
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP
  • Công văn 250/TANDTC-PC
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87