Bồi thường chi phí thuê luật sư trong vụ tranh chấp quyền tác giả

Bồi thường chi phí thuê luật sư là khoản chủ thể quyền có thể yêu cầu cùng bồi thường thiệt hại. Luật Long Phan PMT phân tích bản án phúc thẩm số 66/2023/KDTM-PT, nguồn của Dự thảo án lệ số 24/2026, về tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa tác giả bài thơ và người đăng ký phần lời bài hát. Bài viết làm rõ nghĩa vụ chứng minh và căn cứ chấp nhận thù lao 100.000.000 đồng.

Bồi thường chi phí thuê luật sư trong tranh chấp quyền tác giả: thù lao 100.000.000 đồng được chấp nhận
Tòa án chấp nhận thù lao luật sư 100.000.000 đồng trong bản án phúc thẩm 66/2023/KDTM-PT.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Người được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại, theo khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Luật số 50/2005/QH11), được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 và 2025.
  • Chủ thể quyền có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên xâm phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư, theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
  • Dự thảo án lệ số 24/2026 chưa phải án lệ, nên bản án nguồn chỉ có giá trị tham khảo về cách Tòa án đánh giá chứng cứ.
  • Kết quả của vụ việc gắn với dữ kiện và chứng cứ cụ thể, nên không bảo đảm các vụ việc tương tự có cùng kết quả.

Tóm tắt bối cảnh vụ án

Vụ án xoay quanh cùng một nội dung văn học xuất hiện ở hai nơi. Một nơi là bài thơ do nguyên đơn đăng tải năm 2014. Nơi còn lại là phần lời bài hát trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả năm 2019 của bị đơn.

Các bên và quan hệ tranh chấp

Nguyên đơn là tác giả của một bài thơ. Có hai bị đơn: một cá nhân đã đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có phần lời, và một công ty sản xuất phim dùng bản nhạc đó làm nhạc phim chính thức.

Bản án nguồn là bản án kinh doanh, thương mại về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ. Công ty cho biết mình sử dụng bản nhạc trên cơ sở hợp đồng dịch vụ với bị đơn là cá nhân.

Mốc sự kiện có ý nghĩa pháp lý

Các mốc dưới đây cho thấy thứ tự công bố, đăng ký và xét xử. Chúng cũng cho thấy chứng cứ của nguyên đơn có trước thời điểm đăng ký của bị đơn gần năm năm.

Thời gian Sự kiện
13/6/2014 Nguyên đơn đăng toàn bộ bài thơ lên một trang mạng xã hội
31/7/2014 Nguyên đơn đăng toàn bộ bài thơ lên trang cá nhân
04/3/2019 Công ty và bị đơn là cá nhân ký hợp đồng dịch vụ về việc bán tác quyền bản nhạc, giá trị 15.000.000 đồng
26/3/2019 Bị đơn là cá nhân lập tờ khai đăng ký quyền tác giả
24/4/2019 Bị đơn là cá nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả
11/11/2019 Nguyên đơn ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với một văn phòng luật sư
13/11/2019 Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc đăng tải bài thơ năm 2014
20/4/2021 Hội đồng giám định tập thể ra kết luận giám định
25/4/2022 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm
27/6/2023 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm

Yêu cầu và quan điểm của các bên

Nguyên đơn trình bày rằng mình sáng tác bài thơ năm 2014. Theo nguyên đơn, bị đơn là cá nhân dùng bài thơ làm phần lời bản nhạc mà không xin phép, không trả nhuận bút, rồi đăng ký quyền tác giả.

Nguyên đơn yêu cầu hai bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm, bảo đảm quyền nhân thân, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Đây là lập luận của nguyên đơn, chưa phải nhận định của Tòa án.

Bị đơn là cá nhân không chấp nhận yêu cầu. Người này cho rằng mình là tác giả, chủ sở hữu theo giấy chứng nhận đã được cấp, còn nguyên đơn không chứng minh được quyền đối với bài thơ.

Công ty sản xuất phim cho rằng mình sử dụng hợp pháp. Lý do là có hợp đồng với bị đơn là cá nhân và tại thời điểm đó người này đã có giấy chứng nhận.

Diễn biến xét xử

Tại bản án sơ thẩm số 506/2022/KDTM-ST ngày 25/4/2022, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Tòa xác định nguyên đơn là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của bài thơ và phần lời bản nhạc.

Sau sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn là cá nhân đều kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo về bồi thường thiệt hại vật chất, còn bị đơn là cá nhân giữ nguyên kháng cáo.

Bản án phúc thẩm số 66/2023/KDTM-PT ngày 27/6/2023 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là cá nhân và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hồ sơ không có cấp giám đốc thẩm.

Vấn đề pháp lý trong vụ án là gì?

Vụ án đặt ra hai câu hỏi có thể kiểm chứng. Câu hỏi thứ nhất là người có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có còn được miễn chứng minh khi bên kia xuất trình chứng cứ ngược lại hay không. Câu hỏi thứ hai là chi phí thuê luật sư có được buộc bên xâm phạm hoàn trả hay không.

Dự thảo án lệ số 24/2026 đã khái quát chính hai tình huống này.

Có giấy chứng nhận thì có còn được miễn chứng minh quyền tác giả?

Không, nếu bên kia có chứng cứ ngược lại. Trong bản án nguồn, nguyên đơn xuất trình chứng cứ đã đăng tải, công bố bài thơ trước thời điểm bị đơn đăng ký. Tòa án xác định bị đơn vẫn phải chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả đối với phần lời bài hát.

Chi phí thuê luật sư có được buộc bên xâm phạm hoàn trả?

Có, khi chủ thể quyền chứng minh được đó là chi phí thực tế, hợp lý. Trong bản án nguồn, nguyên đơn xuất trình hợp đồng dịch vụ pháp lý và phụ lục. Tòa án xác định thù lao 100.000.000 đồng là chi phí hợp lý và buộc bị đơn là cá nhân thanh toán.

Nhận định của Tòa án các cấp

Hồ sơ có hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm. Hai cấp thống nhất về kết quả. Cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm vì bị đơn là cá nhân không cung cấp thêm chứng cứ mới.

Các nhận định dưới đây tách theo từng cấp, theo nội dung được ghi trong bản án phúc thẩm và dự thảo án lệ.

Tòa án cấp sơ thẩm

Về quyền tác giả, Tòa án sơ thẩm đối chiếu giấy chứng nhận của bị đơn với chứng cứ của nguyên đơn. Vi bằng ghi nhận nguyên đơn đăng tải toàn bộ bài thơ năm 2014. Vì vậy bị đơn vẫn phải chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả của mình.

Tờ khai đăng ký của bị đơn tự khai hoàn thành tác phẩm ngày 25/10/2013 và công bố ngày 11/8/2016. Bị đơn không xuất trình được tài liệu chứng minh các thông tin này.

Kết luận giám định ngày 20/4/2021 cho thấy phần lời bài hát hầu hết giống bài thơ về từ ngữ, cách ngắt câu, phân đoạn. Có sáu điểm khác nhau nhưng không làm thay đổi nội dung tác phẩm.

Từ đó, Tòa án sơ thẩm xác định nguyên đơn đã công bố trước và là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của bài thơ cùng phần lời bản nhạc. Phần nhạc nốt và ký tự âm nhạc không có tranh chấp nên không được xem xét.

Về bồi thường thiệt hại vật chất, nguyên đơn yêu cầu 400.000.000 đồng đối với bị đơn là cá nhân. Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp lệ chứng minh thiệt hại thực tế. Tòa án đã thu thập chứng cứ theo yêu cầu nhưng không nhận được kết quả.

Tòa án sơ thẩm cho rằng tiếp tục thu thập chứng cứ trên nền tảng số sẽ làm vụ án kéo dài. Vì vậy Tòa giới hạn việc bồi thường theo chứng cứ đã có, là hợp đồng bán tác quyền bản nhạc trị giá 15.000.000 đồng.

Tòa đánh giá phần lời đóng góp một nửa giá trị bản nhạc, tức 7.500.000 đồng. Với các chủ thể khác sử dụng bản nhạc, Tòa dành quyền khởi kiện cho nguyên đơn trong một vụ án khác.

Về thiệt hại tinh thần, nguyên đơn đề nghị mức tối đa 50.000.000 đồng. Tòa án sơ thẩm nhận thấy bản nhạc được dùng làm nhạc phim chính thức nên tranh chấp được dư luận, báo chí quan tâm. Nguyên đơn cũng phải nhận nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí bị xúc phạm danh dự.

Trên cơ sở đó, Tòa buộc bồi thường tinh thần bằng mười lần mức lương cơ sở 1.490.000 đồng, thành 14.900.000 đồng. Mức này thấp hơn đề nghị của nguyên đơn.

Về chi phí luật sư, Tòa án sơ thẩm dựa vào hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 11/11/2019 và phụ lục ngày 01/02/2020. Văn bản này ghi thù lao liên quan đến việc khởi kiện bị đơn là cá nhân là 100.000.000 đồng.

Nguyên đơn thanh toán thù lao trong 03 ngày làm việc kể từ khi nhận toàn bộ tiền bồi thường, thù lao sử dụng tác phẩm hoặc bất kỳ khoản tiền nào khác từ bị đơn.

Tòa cho rằng giá trị hợp đồng phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ án và thời gian tham gia tố tụng của tổ chức hành nghề luật sư. Vì vậy khoản này được xác định là chi phí hợp lý và được chấp nhận toàn bộ.

Đối với công ty sản xuất phim, Tòa buộc bảo đảm quyền nhân thân của nguyên đơn: nêu tên nguyên đơn là tác giả bài thơ trong phim và các thông tin công bố liên quan.

Tòa không chấp nhận yêu cầu bồi thường 825.000.000 đồng (gồm 100.000.000 đồng chi phí thuê luật sư), yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và yêu cầu thỏa thuận trả tiền cho thời gian sau khởi kiện. Bản án được cung cấp không thể hiện rõ lý do chi tiết.

>>> Xem thêm: Toàn tập hướng dẫn điều kiện áp dụng fair use trong sở hữu trí tuệ hiện hành

Tòa án cấp phúc thẩm

Tòa án phúc thẩm xem xét kháng cáo của bị đơn là cá nhân, người cho rằng nguyên đơn không chứng minh được quyền tác giả. Tòa nhận định vi bằng đã xác định nguyên đơn đăng tải bài thơ năm 2014 trên mạng xã hội. Đây là chứng cứ ngược lại đối với giấy chứng nhận của bị đơn.

Tòa phúc thẩm cũng ghi nhận bị đơn tự khai ngày hoàn thành và ngày công bố nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh. Vì vậy cách xác định của Tòa sơ thẩm được đánh giá là có căn cứ.

Tại phiên phúc thẩm, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới ngoài những gì Tòa sơ thẩm đã xem xét. Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Với kháng cáo của nguyên đơn, Tòa phúc thẩm thấy việc rút kháng cáo về thiệt hại vật chất là tự nguyện. Do đó Tòa đình chỉ xét xử phần này, và nguyên đơn không được xem xét lại phần 392.500.000 đồng bị bác ở cấp sơ thẩm.

Tòa án đánh giá dựa trên những chứng cứ nào?

Chứng cứ quyết định nằm ở hai nhóm. Nhóm thứ nhất chứng minh ai công bố tác phẩm trước và ai chỉ có thông tin tự khai. Nhóm thứ hai chứng minh khoản tiền thực tế nguyên đơn phải bỏ ra để thuê luật sư.

Bảng dưới đây chỉ liệt kê các chứng cứ có trong bản án nguồn và có ảnh hưởng đến kết quả.

Chứng cứ Chứng minh vấn đề gì Tòa án đánh giá thế nào Ảnh hưởng tới kết quả
Vi bằng ngày 13/11/2019 Nguyên đơn đăng tải bài thơ năm 2014, trước thời điểm đăng ký của bị đơn Là chứng cứ ngược lại với giấy chứng nhận Bị đơn phải chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả
Tờ khai đăng ký ngày 26/3/2019 Thông tin tự khai về ngày hoàn thành, ngày công bố Bị đơn không xuất trình tài liệu chứng minh Không làm thay đổi kết luận về quyền tác giả
Kết luận giám định ngày 20/4/2021 Phần lời bài hát hầu hết giống bài thơ Có sáu điểm khác nhưng không đổi nội dung tác phẩm Củng cố việc xác định nguyên đơn là tác giả
Hợp đồng bán tác quyền trị giá 15.000.000 đồng Giá trị làm căn cứ ước tính bồi thường vật chất Lời bài hát được tính đóng góp một nửa Thiệt hại vật chất được chấp nhận 7.500.000 đồng
Hợp đồng dịch vụ pháp lý và phụ lục Thù lao 100.000.000 đồng liên quan đến việc khởi kiện bị đơn Phù hợp tính chất, mức độ phức tạp, thời gian tham gia tố tụng Chi phí luật sư được chấp nhận toàn bộ
Tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế của nguyên đơn Mức thiệt hại vật chất 400.000.000 đồng Không có tài liệu, chứng cứ hợp lệ Phần còn lại không được chấp nhận

Kết quả tổng hợp theo số liệu của bản án nguồn được trình bày trong bảng sau. Cột cuối là phép trừ từ số liệu của bản án, khớp với số 427.600.000 đồng mà Tòa án nêu.

Khoản Nguyên đơn yêu cầu Tòa án chấp nhận Không được chấp nhận
Thiệt hại vật chất 400.000.000 đồng 7.500.000 đồng 392.500.000 đồng
Thiệt hại tinh thần 50.000.000 đồng 14.900.000 đồng 35.100.000 đồng
Chi phí thuê luật sư 100.000.000 đồng 100.000.000 đồng 0 đồng
Chứng cứ chứng minh chi phí thuê luật sư hợp lý: hợp đồng dịch vụ pháp lý, phụ lục và chứng từ thanh toán
Hợp đồng dịch vụ pháp lý, phụ lục và chứng từ thanh toán là nhóm chứng cứ chi phí luật sư.

Bài học rút ra cho các trường hợp tương tự

Các bài học dưới đây chỉ rút từ dữ kiện, chứng cứ và nhận định của Tòa án trong bản án nguồn. Chúng không bảo đảm kết quả giống nhau, vì mỗi vụ việc có chứng cứ và tình tiết riêng.

Với chủ thể quyền tác giả bị xâm phạm

Chủ thể quyền cần chuẩn bị song song hai nhóm chứng cứ. Nhóm thứ nhất chứng minh quyền tác giả và thời điểm công bố. Nhóm thứ hai chứng minh chi phí luật sư là thực tế, hợp lý.

Với nhóm chứng cứ quyền tác giả, bản án nguồn cho thấy bốn việc có giá trị:

  1. Lưu bản gốc và dữ liệu về thời điểm đăng tải, công bố tác phẩm, vì bài thơ được chứng minh bằng bài đăng năm 2014.
  2. Lập vi bằng hoặc chứng cứ tương đương ghi nhận nội dung và thời điểm đăng tải. Trong vụ án, vi bằng là chứng cứ ngược lại được Tòa án chấp nhận.
  3. Đề nghị giám định khi cần xác định mức độ giống nhau giữa hai tác phẩm, như kết luận giám định ngày 20/4/2021.
  4. Thu thập hồ sơ đăng ký của bên kia để đối chiếu thông tin tự khai.

Một tình huống sử dụng tác phẩm âm nhạc khi chưa xin phép được phân tích tại bài về bồi thường khi dùng bài hát không xin phép.

Với nhóm chứng cứ chi phí luật sư, các tài liệu có trong bản án nguồn gồm:

  • Hợp đồng dịch vụ pháp lý nêu thù lao liên quan đến việc khởi kiện một bị đơn cụ thể.
  • Phụ lục hợp đồng khi có điều chỉnh, như phụ lục ngày 01/02/2020.
  • Chứng từ thanh toán, loại tài liệu mà dự thảo án lệ nhắc đến khi mô tả tình huống.
  • Tài liệu cho thấy tính chất, mức độ phức tạp của vụ án và thời gian luật sư tham gia tố tụng.

Với người đã đăng ký quyền tác giả

Giấy chứng nhận không đủ khi có chứng cứ ngược lại. Trong vụ án, bị đơn là cá nhân chỉ có thông tin tự khai trong tờ khai. Người này không xuất trình được tài liệu chứng minh ngày hoàn thành và ngày công bố.

Bài học là bên đăng ký nên giữ tài liệu về quá trình sáng tạo và công bố. Tài liệu này cần có từ trước khi tranh chấp phát sinh, vì sau khi bị đối chiếu với chứng cứ khác thì thông tin tự khai khó đứng vững.

Với yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thiệt hại vật chất cần được chứng minh bằng tài liệu hợp lệ. Nguyên đơn yêu cầu 400.000.000 đồng nhưng chỉ được chấp nhận 7.500.000 đồng dựa trên một hợp đồng bán tác quyền trị giá 15.000.000 đồng.

Tòa án nhận thấy chứng cứ trên nền tảng số khó thu thập và có thể làm vụ án kéo dài. Tòa nêu rằng nguyên đơn có quyền liên hệ cơ quan thuế, các công ty quản lý trang mạng xã hội để yêu cầu cung cấp tài liệu cho vụ án khác.

Chi phí luật sư có thể là khoản có giá trị lớn trong tổng số tiền được chấp nhận. Trong vụ án, 100.000.000 đồng chiếm khoảng 81,7% trong số 122.400.000 đồng, khi chứng cứ về thiệt hại vật chất còn hạn chế.

Một tình huống khác về cách xác định mức bồi thường trong lĩnh vực này được phân tích tại bài cách tính bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền.

Giới hạn áp dụng của bản án nguồn

Kết quả chi phí luật sư gắn với việc Tòa án đánh giá thù lao phù hợp với vụ án cụ thể. Mức thù lao cao hơn đáng kể so với độ phức tạp của vụ việc và thời gian tham gia tố tụng có thể được đánh giá khác.

Khoản chi phí luật sư chỉ được buộc đối với bị đơn là cá nhân, còn yêu cầu bồi thường đối với công ty sản xuất phim không được chấp nhận.

Nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả khi có chứng cứ ngược lại theo khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ
Có giấy chứng nhận thì không phải chứng minh, trừ khi bên kia có chứng cứ ngược lại.

Vai trò của luật sư trong các vụ việc tương tự

Trong tranh chấp quyền tác giả có yêu cầu hoàn trả chi phí luật sư, luật sư tham gia từ giai đoạn xác định chứng cứ đến khi bảo vệ yêu cầu tại các cấp xét xử. Công việc dưới đây gắn với hai vấn đề đã phân tích là nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả và chứng cứ chi phí luật sư.

Luật sư không bảo đảm kết quả. Vai trò của luật sư là giúp hồ sơ đầy đủ, nhất quán và đúng trọng tâm tranh chấp. Với doanh nghiệp cần xử lý vi phạm bản quyền trong kinh doanh, việc chuẩn bị chứng cứ cũng cần được thực hiện từ sớm.

Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ

Luật sư rà soát các tài liệu cho thấy ai công bố tác phẩm trước và công bố nội dung gì. Luật sư tư vấn việc lập vi bằng khi phát hiện hành vi sử dụng, và đánh giá khi nào cần đề nghị giám định.

Luật sư cũng đối chiếu hồ sơ đăng ký quyền tác giả của bên kia, đặc biệt các thông tin tự khai chưa có tài liệu chứng minh. Đây là hướng mà bản án nguồn cho thấy có thể làm thay đổi nghĩa vụ chứng minh.

Giai đoạn xác định yêu cầu

Luật sư cùng khách hàng xác định các khoản yêu cầu: chấm dứt hành vi xâm phạm, bảo đảm quyền nhân thân, bồi thường thiệt hại và chi phí luật sư. Mỗi khoản cần gắn với chứng cứ riêng.

Luật sư soạn hợp đồng dịch vụ pháp lý mô tả rõ phạm vi công việc, thù lao, thời điểm thanh toán và bên bị yêu cầu. Khi phạm vi thay đổi, luật sư lập phụ lục và lưu chứng từ thanh toán tương ứng.

Giai đoạn tố tụng

Luật sư chuẩn bị đơn khởi kiện, bản luận cứ và đề nghị thu thập chứng cứ mà đương sự không tự thu thập được. Với chứng cứ trên nền tảng số, luật sư xác định đơn vị đang nắm dữ liệu và cách đề nghị Tòa án hoặc đương sự yêu cầu cung cấp.

Tại các cấp xét xử, luật sư bảo vệ quyền lợi của khách hàng bằng chứng cứ đã được đánh giá, đồng thời chỉ ra các thông tin tự khai không có tài liệu chứng minh. Nếu có nhu cầu kháng cáo, luật sư đánh giá chứng cứ mới có thể bổ sung, vì bị đơn trong vụ án không đưa thêm chứng cứ mới ở cấp phúc thẩm.

Thông tin liên hệ

Nếu Quý khách bị bên khác đăng ký quyền tác giả đối với nội dung do mình sáng tạo, hoặc đang cân nhắc yêu cầu hoàn trả chi phí thuê luật sư, Luật Long Phan PMT có thể hỗ trợ rà soát chứng cứ về thời điểm công bố và hợp đồng dịch vụ pháp lý. Luật sư sẽ đối chiếu các tài liệu này và xác định hướng yêu cầu phù hợp.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư sở hữu trí tuệ

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

🏢 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

🏬 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

🏛️ Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

Các câu hỏi thường gặp về bồi thường chi phí thuê luật sư và nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả

Các câu hỏi dưới đây xuất phát từ thắc mắc thực tế của chủ thể quyền khi cân nhắc khởi kiện. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước, sau đó dẫn dữ kiện từ bản án nguồn.

1. Chi phí thuê luật sư có được buộc bên xâm phạm bồi thường không?

Có thể, nếu chủ thể quyền chứng minh được đó là chi phí hợp lý. Theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chủ thể quyền có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên xâm phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Trong bản án nguồn, thù lao 100.000.000 đồng được chấp nhận.

2. Có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì có phải chứng minh quyền tác giả không?

Về nguyên tắc là không, nhưng có ngoại lệ. Theo khoản 3 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, người được cấp giấy chứng nhận không có nghĩa vụ chứng minh, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Trong bản án nguồn, vi bằng về bài đăng năm 2014 là chứng cứ ngược lại.

3. Tòa án căn cứ vào đâu để cho rằng thù lao 100.000.000 đồng là hợp lý?

Tòa án căn cứ vào hợp đồng dịch vụ pháp lý và phụ lục. Văn bản này ghi thù lao liên quan đến việc khởi kiện bị đơn. Tòa cho rằng mức này phù hợp tính chất, mức độ phức tạp của vụ án và thời gian tham gia tố tụng của tổ chức hành nghề luật sư.

4. Thù lao ghi trả sau khi nhận tiền bồi thường có ảnh hưởng đến việc được chấp nhận không?

Bản án nguồn không thể hiện điều kiện này làm khoản chi phí bị loại. Hợp đồng ghi nguyên đơn thanh toán trong 03 ngày làm việc kể từ khi nhận toàn bộ tiền từ bị đơn, và Tòa vẫn chấp nhận 100.000.000 đồng. Kết quả này gắn với hợp đồng và vụ án cụ thể.

5. Vì sao yêu cầu 400.000.000 đồng thiệt hại vật chất chỉ được chấp nhận 7.500.000 đồng?

Vì nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp lệ chứng minh thiệt hại thực tế. Tòa án dùng hợp đồng bán tác quyền bản nhạc trị giá 15.000.000 đồng làm căn cứ và tính phần lời bài hát đóng góp một nửa giá trị, tức 7.500.000 đồng. Tòa dành quyền khởi kiện vụ án khác cho phần còn lại.

6. Dự thảo án lệ số 24/2026 có được áp dụng như án lệ không?

Chưa. Dự thảo có các mục ngày thông qua và quyết định công bố còn để trống. Chỉ khi được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua và công bố, nội dung này mới là án lệ. Trước đó, bản án nguồn chỉ có giá trị tham khảo.

Kết luận

Bồi thường chi phí thuê luật sư trong tranh chấp quyền tác giả phụ thuộc vào việc chủ thể quyền chứng minh được quyền tác giả và chi phí thực tế, hợp lý. Kết quả này gắn với dữ kiện của một vụ việc cụ thể. Luật Long Phan PMT hỗ trợ rà soát chứng cứ quyền tác giả và hồ sơ chi phí luật sư qua dịch vụ luật sư sở hữu trí tuệ, hotline 1900636387.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 và 2025
  • Bản án phúc thẩm số 66/2023/KDTM-PT ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Bản án sơ thẩm số 506/2022/KDTM-ST ngày 25/4/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • Dự thảo án lệ số 24/2026
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , ,

Chuyên Viên Pháp Lý Huỳnh Nhi

Huỳnh Nhi - Chuyên Viên Pháp Lý tại Công ty Luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn về lĩnh vực hành chính và đất đai. Nhiệt huyết với khách hàng, luôn tận tâm để giải quyết các vấn đề mà khách hàng gặp phải.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87