Case study: Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép được Tòa án tính theo chứng cứ về giá tham chiếu, không theo biểu mức do một bên tự ban hành. Luật Long Phan PMT phân tích bản án phúc thẩm về chương trình biểu diễn dùng 20 bài hát, nơi tiền nhuận bút giảm từ 205.769.804 đồng còn 60.000.000 đồng vì Tòa lấy hợp đồng tác quyền với một nhạc sĩ khác làm căn cứ. Bài viết đối chiếu vụ việc với quy định hiện hành về bồi thường thiệt hại trong sở hữu trí tuệ, gồm mức trần bồi thường 1 tỷ đồng từ 01/4/2026.

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép dựa trên chứng cứ về giá tham chiếu.
Tòa phúc thẩm lấy mức 3.000.000 đồng/bài/đêm diễn làm giá tham chiếu và xác định 60.000.000 đồng cho 20 bài.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Kết quả vụ việc phụ thuộc chứng cứ về giá tham chiếu, vì Tòa án chỉ tính bồi thường khi nguyên đơn chứng minh được thiệt hại theo các căn cứ tại khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005; bản án chỉ là tình huống tham khảo, không phải quy tắc chung.
  • Vụ việc xảy ra ngày 17/01/2019 nên Tòa áp dụng pháp luật thời điểm đó; từ 01/4/2026, mức trần 500 triệu đồng tại điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được nâng lên 1 tỷ đồng theo khoản 68 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, còn vụ việc thụ lý trước ngày này vẫn áp dụng luật cũ theo khoản 5 Điều 3 Luật số 131/2025/QH15.
  • Nghị định 22/2018/NĐ-CP và Nghị định 105/2006/NĐ-CP mà Tòa viện dẫn nay không còn là căn cứ hiện hành: việc thỏa thuận tiền bản quyền được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, còn Nghị định 105/2006/NĐ-CP đã bị bãi bỏ từ 30/12/2025 theo Nghị định 285/2025/NĐ-CP.
  • Dự thảo án lệ số 17/2026 mới là văn bản lấy ý kiến, chưa phải án lệ được công bố theo tiêu chí tại Điều 2 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, nên bài chỉ dùng nó như một tình huống tham chiếu.

Nội Dung Bài Viết

Bối cảnh vụ việc: chương trình biểu diễn dùng 20 bài hát không xin phép

Vụ việc bắt đầu từ một chương trình biểu diễn nghệ thuật ngày 17/01/2019 tại Hà Nội, nơi công ty tổ chức sử dụng 20 tác phẩm âm nhạc khi chưa được đồng ý và chưa trả phí tác quyền. Nguyên đơn yêu cầu 210.819.804 đồng, còn Tòa phúc thẩm chỉ chấp nhận 65.050.000 đồng.

Chương trình biểu diễn ngày 17/01/2019 và 20 tác phẩm âm nhạc được sử dụng

Ngày 17/01/2019, một công ty cổ phần (bị đơn) tổ chức chương trình biểu diễn nghệ thuật tại một trung tâm hội nghị ở Hà Nội theo giấy phép số 770/GP-SVH&TT ngày 30/11/2018 do Sở Văn hóa và Thể thao cấp. Chương trình có bán vé, và vi bằng lập cùng ngày ghi nhận giá vé bình quân là 1.833.333 đồng.

Ban đầu nguyên đơn yêu cầu tính 21 tác phẩm. Sau khi một tác giả chấm dứt ủy quyền ngày 18/4/2022, nguyên đơn sửa đơn ngày 04/5/2022 và chỉ còn yêu cầu đối với 20 tác phẩm.

Bị đơn xác nhận đã sử dụng 20 tác phẩm nhưng chưa được sự đồng ý và chưa thanh toán. Bị đơn cho biết ngày 22/8/2018 công ty đã gửi công văn hỏi chi phí tác quyền và không nhận được phản hồi.

Đơn khởi kiện ngày 01/02/2021 và yêu cầu của nguyên đơn

Nguyên đơn là tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả âm nhạc, thành lập ngày 19/4/2002, trực thuộc một hội nghề nghiệp và được các chủ sở hữu quyền ủy quyền bảo vệ quyền, kể cả quyền khởi kiện. Ngày 01/02/2021, nguyên đơn khởi kiện công ty tổ chức chương trình.

Nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn đăng lời xin lỗi trên báo trong 03 số liên tiếp và bồi thường 210.819.804 đồng, gồm 205.769.804 đồng tiền nhuận bút bị giảm sút, 2.650.000 đồng chi phí lập vi bằng và 2.400.000 đồng chi phí mua vé vào chương trình để lập vi bằng.

Căn cứ nội dung: Dự thảo án lệ số 17/2026; Bản án sơ thẩm số 28/2022/KDTM-ST ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; Bản án phúc thẩm số 07/2024/KDTM-PT ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Nếu đơn vị của Quý khách vừa nhận thư yêu cầu thanh toán phí tác quyền, hãy gom sẵn hợp đồng tác quyền, công văn đã trao đổi và bảng doanh thu của chương trình. Đây là ba nhóm tài liệu quyết định mức bồi thường được phân tích ở các phần sau.

>>> Xem thêm: Các điều khoản cơ bản trong hợp đồng chuyển nhượng hoặc sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Vấn đề pháp lý trọng tâm và lập luận của các bên

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép tranh chấp chủ yếu ở mức tiền, không ở việc có vi phạm hay không, vì bị đơn thừa nhận vẫn phải nộp tiền tác quyền. Câu hỏi là dùng biểu mức do nguyên đơn ban hành hay giá thực tế mà bị đơn từng thỏa thuận với các bên khác.

Ba câu hỏi pháp lý: có xâm phạm quyền tác giả không, tính bồi thường theo cách nào, còn phải chịu nghĩa vụ nào khác

Vụ án đặt ra ba câu hỏi: việc biểu diễn 20 tác phẩm khi chưa được phép và chưa trả tiền có là xâm phạm quyền tác giả hay không; mức bồi thường tính theo biểu mức của tổ chức đại diện hay theo chứng cứ khác; và ngoài tiền, bị đơn còn phải thực hiện nghĩa vụ nào.

Bị đơn không tranh cãi việc sử dụng tác phẩm nhưng phản đối mức yêu cầu. Theo lời trình bày của bị đơn, biểu mức do nguyên đơn tự ban hành, chưa có ý kiến của cơ quan chức năng, công thức mang tính khoán, và giả định chương trình nào cũng bán được 70% sức chứa là thiếu căn cứ thực tế.

Tại phiên phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhận xét biểu mức chưa phù hợp thực tế vì doanh thu buổi diễn có thể cao hoặc thấp hơn mức 70% số ghế nhân giá vé. Đây là ý kiến của Viện kiểm sát, không phải nhận định của Tòa.

Ba phương án tính mức bồi thường được đưa ra

Ba phương án dưới đây cho ba kết quả rất khác nhau đối với cùng 20 tác phẩm trong cùng một đêm diễn.

Phương án Cách tính Kết quả tính Bên đề xuất
Biểu mức của tổ chức đại diện 5% × 70% số ghế × giá vé bình quân (1.833.333 đồng; 3.368 ghế theo cách tính của nguyên đơn) Khoảng 10,29 triệu đồng/bài; 205,77 triệu đồng/20 bài Nguyên đơn
Hợp đồng cũ đã thanh lý (năm 2017, 2018) Mức 440.000 đồng/bài (đã gồm VAT) theo hai hợp đồng giữa các bên 440.000 đồng/bài; 8,8 triệu đồng/20 bài Bị đơn
Hợp đồng bị đơn ký với một nhạc sĩ khác 3.000.000 đồng/bài/đêm diễn 3.000.000 đồng/bài; 60 triệu đồng/20 bài Bị đơn (tại phiên phúc thẩm)

Tòa ghi nhận hai hợp đồng năm 2017 và 2018 đã được thanh lý và không lấy mức 440.000 đồng làm căn cứ. Biểu mức của nguyên đơn không được áp dụng vì các lý do ở mục 4, còn phương án thứ ba là phương án Tòa chấp nhận.

Khung pháp luật áp dụng trong vụ việc và quy định hiện hành

Tòa áp dụng pháp luật tại thời điểm xảy ra vụ việc, trong đó có hai nghị định nay không còn hiệu lực. Người gặp tình huống tương tự cần đọc theo pháp luật hiện hành: Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã sửa đổi đến Luật số 131/2025/QH15, cùng Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã được Nghị định 134/2026/NĐ-CP sửa đổi.

Bảng dưới đây đối chiếu từng căn cứ Tòa đã áp dụng với quy định hiện hành ngày 29/9/2026, để tránh trích dẫn nhầm số điều đã thay đổi.

Nội dung Căn cứ Tòa áp dụng (vụ việc năm 2019) Quy định hiện hành (29/9/2026)
Nghĩa vụ xin phép và trả tiền Khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (xin phép, trả nhuận bút, thù lao) Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi năm 2022): phải được sự cho phép và trả tiền bản quyền
Hành vi xâm phạm Khoản 8 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Khoản 2 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20
Quyền biểu diễn trước công chúng Khoản 1 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP Khoản 2 Điều 15 Nghị định 17/2023/NĐ-CP (tác phẩm âm nhạc)
Thỏa thuận mức tiền Khoản 3, khoản 4 Điều 43 Nghị định 22/2018/NĐ-CP Khoản 3 Điều 44a Luật Sở hữu trí tuệ 2005; khoản 3 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP
Hướng dẫn xác định thiệt hại, chi phí Điều 16, Điều 17, Điều 20 Nghị định 105/2006/NĐ-CP Điều 69 đến Điều 74 Nghị định 17/2023/NĐ-CP (Nghị định 105/2006/NĐ-CP bị bãi bỏ từ 30/12/2025)
Căn cứ bồi thường Điểm a khoản 1 Điều 204; điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Giữ nguyên số điều, khoản, điểm
Mức trần Tòa ấn định Điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: không quá 500 triệu đồng Điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: không quá 1 tỷ đồng (từ 01/4/2026)
Biện pháp dân sự Khoản 2 (xin lỗi, cải chính), khoản 4 (bồi thường) Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Giữ nguyên khoản 2, khoản 4; bổ sung khoản 6, khoản 7 (từ 01/4/2026)
Thi hành án Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 (lãi chậm thi hành) Luật Thi hành án dân sự 2025 số 106/2025/QH15 (từ 01/7/2026)

Nghĩa vụ xin phép và trả nhuận bút, thù lao khi biểu diễn trước công chúng

Theo khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (văn bản áp dụng khi đó), tổ chức, cá nhân khai thác quyền biểu diễn tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả. Sử dụng tác phẩm khi không được phép và không trả tiền là hành vi xâm phạm theo khoản 8 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Tòa còn viện dẫn khoản 1 Điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP để xác định biểu diễn tại bất cứ nơi nào công chúng có thể tiếp cận đều là biểu diễn trước công chúng.

Pháp luật hiện hành giữ nội dung nhưng đổi số điều khoản. Từ 01/01/2023, nghĩa vụ này nằm ở khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, hành vi xâm phạm quyền tài sản nằm ở khoản 2 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, và quyền biểu diễn tác phẩm âm nhạc trước công chúng được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Chương trình ca nhạc có bán vé thuộc phạm vi phải xin phép vì điểm b khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 coi biểu diễn trước công chúng là quyền tài sản.

>>> Xem thêm: Toàn tập hướng dẫn điều kiện áp dụng fair use trong sở hữu trí tuệ hiện hành

Căn cứ xác định mức bồi thường

Điểm a khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định thiệt hại vật chất gồm tổn thất tài sản, giảm sút thu nhập, lợi nhuận, tổn thất cơ hội kinh doanh và chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cho phép Tòa lấy giá chuyển giao quyền sử dụng, với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền theo hợp đồng trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm, làm mức bồi thường.

Khoản 3 và khoản 4 Điều 43 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, mà Tòa áp dụng, yêu cầu hai bên thỏa thuận mức nhuận bút và thể hiện bằng hợp đồng văn bản. Hiện nay, khoản 3 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP tiếp tục giao hai bên thỏa thuận mức tiền bản quyền và phương thức thanh toán, còn khoản 3 Điều 44a Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định tiền bản quyền xác định theo khung và biểu mức căn cứ loại hình, hình thức, chất lượng, số lượng hoặc tần suất khai thác.

Từ 26/4/2023, tổ chức đại diện tập thể phải trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt biểu mức trước khi thực hiện theo khoản 1 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, và biểu mức đã phê duyệt được áp dụng tối thiểu 3 năm theo khoản 3 Điều 47 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Đây là điểm khác so với thời điểm vụ việc, khi Tòa nhận định biểu mức mới là ý chí một chiều, chưa có thỏa thuận và chưa thể hiện ý kiến của hội chủ quản.

Ngoại lệ: sử dụng không cần xin phép nhưng vẫn phải trả tiền

Điểm b khoản 1 Điều 26 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2026 cho phép sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố vì mục đích thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại mà không phải xin phép, nhưng phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận. Khoản 1 Điều 34 Nghị định 17/2023/NĐ-CP nêu các nơi áp dụng như nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, siêu thị, cơ sở karaoke, quán bar, vũ trường, hoạt động hàng không và giao thông công cộng.

Bên sử dụng phải chủ động liên lạc với chủ sở hữu hoặc tổ chức đại diện tập thể, cung cấp danh mục, thời lượng sử dụng và trả tiền theo khoản 2 Điều 34 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Nếu không thỏa thuận được, khoản 4 Điều 35 Nghị định 17/2023/NĐ-CP cho phép trả theo biểu mức tại Phụ lục II của nghị định này hoặc khởi kiện  tại tòa án theo quy định của pháp luật; không trả trong 90 ngày kể từ khi sử dụng thì phải dừng sử dụng.

Lời khuyên dành cho đơn vị tổ chức sự kiện: ngoại lệ này chỉ nói đến bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại, nên chương trình biểu diễn trực tiếp có bán vé không nên dựa vào nó để bỏ qua bước xin phép. Ngoại lệ tại điểm g khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 chỉ dành cho buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại, nên chương trình bán vé khó thuộc trường hợp này.

Mức bồi thường luật định từ 01/4/2026: mức tối đa khi không xác định được thiệt hại tăng từ 500 triệu lên 1 tỷ đồng

Khi không xác định được thiệt hại vật chất theo các điểm a, b và c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Tòa ấn định mức bồi thường theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Khoản 68 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15 nâng mức trần của điểm này từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng, có hiệu lực từ 01/4/2026 theo Điều 2 Luật số 131/2025/QH15.

Nội dung Trước 01/4/2026 Từ 01/4/2026
Thiệt hại vật chất do Tòa ấn định (điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005) Không quá 500 triệu đồng Không quá 1 tỷ đồng
Thiệt hại tinh thần (khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005) Từ 5 triệu đến 50 triệu đồng Từ 10 lần đến 100 lần mức lương cơ sở
Chi phí hợp lý thuê luật sư (khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005) Chủ thể quyền có quyền yêu cầu bên xâm phạm thanh toán Giữ nguyên

Khoản 5 Điều 3 Luật số 131/2025/QH15 quy định vụ việc đã được thụ lý trước ngày 01/4/2026 nhưng chưa giải quyết xong tiếp tục áp dụng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 theo các lần sửa đổi trước đó, nên thời điểm thụ lý là mốc để xác định mức trần. Mức trần chỉ là giới hạn cuối cùng khi không có chứng cứ khác: vụ việc trong bài không dùng cơ chế ấn định này, mà Tòa viện dẫn điểm b khoản 1 Điều 205 và chốt 60.000.000 đồng, thấp xa mức trần 500 triệu đồng khi đó.

Tòa án đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật như thế nào

Tòa phúc thẩm đi theo một chuỗi: xác định hành vi xâm phạm, xem xét biểu mức của nguyên đơn, rồi chọn mức 3.000.000 đồng/bài dựa trên hợp đồng của bị đơn với một nhạc sĩ khác. Mỗi bước gắn với một căn cứ pháp luật và một chứng cứ, theo thứ tự vấn đề, căn cứ, chứng cứ, nhận định.

Hành vi xâm phạm: đã gửi công văn hỏi phí nhưng không được phản hồi vẫn bị xác định là xâm phạm

Bị đơn cho rằng đã gửi công văn ngày 22/8/2018 hỏi chi phí tác quyền nhưng không được phản hồi. Tòa xác nhận bị đơn sử dụng 20 tác phẩm khi chưa được sự đồng ý và chưa trả tiền (đoạn [6], [11]), căn cứ khoản 3 Điều 20 và khoản 8 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (đoạn [7], [10]). Tòa kết luận đó là hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi công khai theo điểm b khoản 1 Điều 198 và khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, và không xem việc gửi công văn là căn cứ miễn nghĩa vụ xin phép.

Pháp luật hiện hành cho thấy cùng logic: khoản 2 Điều 56 Nghị định 17/2023/NĐ-CP yêu cầu bên khai thác liên hệ với chủ sở hữu hoặc bên được ủy quyền để thỏa thuận, còn khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 vẫn đòi hỏi phải được cho phép. Liên hệ để hỏi phí và được phép sử dụng là hai việc khác nhau.

Lời khuyên dành cho bên sử dụng: đây là ngoại lệ so với suy nghĩ phổ biến rằng đã gửi văn bản hỏi phí là đã có thiện chí nên không vi phạm. Nếu không nhận được phản hồi, hãy gửi nhắc bằng văn bản có xác nhận đã nhận, đề xuất mức phí cụ thể và thời hạn chờ; nếu vẫn chưa có thỏa thuận, cân nhắc điều chỉnh danh mục bài hát hoặc lùi thời điểm biểu diễn.

Vì sao Tòa không áp dụng biểu mức: bốn lý do (đoạn [14]–[17])

Tòa xác định biểu mức của nguyên đơn chỉ là cơ sở để tham khảo và là ý chí của một bên, chưa đủ cơ sở để thực hiện (đoạn [14]). Bốn lý do được nêu như sau.

  • Biểu mức ban hành một chiều, chưa có thỏa thuận: Tòa căn cứ khoản 3 Điều 43 Nghị định 22/2018/NĐ-CP về trách nhiệm thỏa thuận mức nhuận bút (đoạn [14]).
  • Chưa có ý kiến của hội quản lý trực tiếp: biểu mức chưa thể hiện ý kiến của hội chủ quản của nguyên đơn (đoạn [14]).
  • Nguyên đơn không chứng minh được số ghế tối đa: nguyên đơn không chứng minh được số ghế, chỗ tối đa của địa điểm để tính sức chứa theo mục 2.2 của quyết định ban hành biểu mức (đoạn [17]).
  • Doanh thu thực tế thấp hơn mức ước tính: Tòa ghi nhận doanh thu của bị đơn cho cả đêm diễn là 213.000.000 đồng, thấp hơn yêu cầu 205.769.804 đồng tiền nhuận bút cộng chi phí khác trong bối cảnh biểu diễn chịu nhiều yếu tố khách quan (đoạn [17]); đại diện Viện kiểm sát nêu con số doanh thu thực tế là 222.650.000 đồng.

Hai lý do đầu gắn với điều kiện hình thành biểu mức, còn hai lý do sau đi vào chứng cứ kinh tế của từng chương trình. Với biểu mức được xây dựng và phê duyệt theo Điều 46, Điều 47 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, hai lý do đầu có thể được đánh giá khác đi; hai lý do sau vẫn đòi hỏi chứng cứ về sức chứa và doanh thu của chính chương trình tranh chấp.

Vì sao Tòa chọn mức 3.000.000 đồng/bài?

Tại phiên phúc thẩm, bị đơn xuất trình hợp đồng ký với một nhạc sĩ khác, trong đó nhạc sĩ cho phép sử dụng 10 tác phẩm và nhận phí tác quyền 3.000.000 đồng/bài/đêm diễn, thanh toán sau khi chương trình kết thúc (đoạn [18]). Tòa nhận thấy mức này phù hợp và tính 3.000.000 đồng × 20 bài = 60.000.000 đồng (đoạn [19]).

Căn cứ pháp luật được Tòa nêu gồm khoản 4 Điều 202, điểm a khoản 1 Điều 204 và điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (đoạn [16]). Điểm b khoản 1 Điều 205 là cách tính theo giá chuyển giao quyền sử dụng, và hợp đồng với tác giả khác đóng vai trò giá tham chiếu.

Giới hạn của bản án cần thấy rõ: hợp đồng tham chiếu là hợp đồng với một nhạc sĩ khác, gồm 10 tác phẩm, và được xem xét cùng các yếu tố khác của vụ việc. Hai hợp đồng năm 2017 và 2018 mức 440.000 đồng/bài đã thanh lý (đoạn [17]) nên không thành căn cứ tính. Kết quả này không có nghĩa mọi hợp đồng tác quyền đều được Tòa dùng làm giá tham chiếu.

Các nghĩa vụ ngoài tiền bồi thường: buộc xin lỗi, cải chính công khai (đăng báo 03 số liên tiếp), chi phí lập vi bằng và mua vé, lãi chậm thi hành án

Ngoài tiền nhuận bút, Tòa buộc công ty đăng lời xin lỗi trên báo trong 03 số liên tiếp, thừa nhận đã dùng tác phẩm để biểu diễn mà không xin phép, không trả nhuận bút (đoạn [11], [22]). Biện pháp này thuộc khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, và số khoản được giữ nguyên sau khi Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi Điều 202.

Chi phí lập vi bằng 2.650.000 đồng và chi phí mua vé 2.400.000 đồng được Tòa chấp nhận theo Điều 20 Nghị định 105/2006/NĐ-CP vì nguyên đơn có chứng cứ (đoạn [20]). Nghị định này đã bị bãi bỏ từ 30/12/2025; hiện nay chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại thuộc điểm a khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Điều 74 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, còn chi phí hợp lý thuê luật sư thuộc khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Phần quyết định còn tuyên lãi đối với khoản tiền chậm thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, tính hằng tháng cho đến khi thi hành xong; từ 01/7/2026, thi hành án dân sự thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự 2025. Ngoài ra, khoản 7 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, do khoản 67 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15 bổ sung, cho phép Tòa buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập nội dung xâm phạm trên không gian mạng từ 01/4/2026.

Chứng cứ giá tham chiếu được Tòa sử dụng để xác định mức bồi thường tác quyền.
Tòa xem xét biểu mức, hợp đồng tác quyền và chứng cứ kinh tế trước khi chọn mức 3.000.000 đồng/bài.

Kết quả giải quyết vụ việc: từ sơ thẩm đến phúc thẩm

Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, giảm tổng số tiền bồi thường từ 210.819.804 đồng xuống 65.050.000 đồng. Phần giảm nằm hoàn toàn ở tiền nhuận bút, từ 205.769.804 đồng còn 60.000.000 đồng, tương đương giảm khoảng 70,8%.

Hạng mục Sơ thẩm Phúc thẩm
Tiền nhuận bút (mức giảm sút thu nhập) 205.769.804 đồng 60.000.000 đồng
Chi phí lập vi bằng và mua vé 5.050.000 đồng (2.650.000 + 2.400.000) 5.050.000 đồng
Tổng số tiền bồi thường 210.819.804 đồng 65.050.000 đồng
Xin lỗi, cải chính công khai Đăng báo trong 03 số liên tiếp Đăng báo trong 03 số liên tiếp (giữ nguyên)

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép trong vụ việc này phụ thuộc chứng cứ về giá tham chiếu, không phụ thuộc biểu mức đơn phương: cùng 20 bài hát, cùng một đêm diễn, tiền nhuận bút thay đổi hơn ba lần khi chứng cứ về giá thay đổi.

Bài học pháp lý và cách xử lý khi gặp trường hợp tương tự

Từ bản án có thể rút ra ba bài học: hợp đồng tác quyền đã ký là chứng cứ giá tham chiếu, công văn hỏi phí không thay giấy phép, và cần có phương án chứng minh khi không có hợp đồng tham chiếu. Với bồi thường khi dùng bài hát không xin phép, bài học áp dụng cho cả bên sử dụng lẫn bên đại diện quyền, nhưng không bảo đảm kết quả tương tự.

Hợp đồng tác quyền đã ký là chứng cứ giá tham chiếu quan trọng

Chính hợp đồng bị đơn ký với một nhạc sĩ khác giúp Tòa chọn mức 3.000.000 đồng/bài. Với bên sử dụng, hợp đồng đã ký cho chương trình cùng loại, cùng quy mô là bằng chứng về mức giá mình từng chấp nhận. Với bên đại diện quyền, các hợp đồng đã ký với nhiều đơn vị cũng có thể bị đối chiếu, vì Tòa ghi nhận nguyên đơn từng ký hợp đồng ở nhiều mức khác nhau (đoạn [17]).

Công văn hỏi phí không thay thế giấy phép hoặc thỏa thuận bằng văn bản

Khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đòi hỏi phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, nên việc hỏi phí mà không có phản hồi không tạo ra sự cho phép. Thỏa thuận cần lập bằng văn bản: khoản 4 Điều 43 Nghị định 22/2018/NĐ-CP khi đó yêu cầu mức tiền xác định trong hợp đồng văn bản, còn hiện nay khoản 1 Điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 yêu cầu hợp đồng sử dụng quyền tác giả lập thành văn bản với các nội dung chủ yếu, gồm giá và phương thức thanh toán.

Trường hợp không có hợp đồng tham chiếu

Nếu không có hợp đồng tương tự, Tòa vẫn có thể xác định mức bồi thường theo các căn cứ khác tại khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: tổng thiệt hại cộng lợi nhuận bên vi phạm thu được (điểm a), cách tính khác do chủ thể quyền đưa ra phù hợp pháp luật (điểm c), hoặc mức Tòa ấn định không quá 1 tỷ đồng với vụ việc thụ lý từ 01/4/2026 (điểm d). Mỗi hướng đòi hỏi loại chứng cứ khác nhau.

Lời khuyên dành cho Quý khách trong trường hợp này: bên sử dụng nên lập ngay hồ sơ doanh thu thực tế, số vé bán, chi phí sản xuất, danh mục và thời lượng sử dụng tác phẩm. Bên đại diện quyền nên lưu văn bản phê duyệt biểu mức còn hiệu lực, chứng cứ về sức chứa địa điểm và cách áp dụng công thức cho chương trình cụ thể.

>>> Xem thêm: Hợp đồng giám định quyền tác giả cần có nội dung gì? 

Quy trình phòng ngừa và xử lý

Để hạn chế rủi ro tranh chấp quyền tác giả và có cơ sở chứng minh khi phát sinh yêu cầu bồi thường, đơn vị tổ chức biểu diễn nên thực hiện theo trình tự sau:

  1. Kiểm kê tác phẩm và xác định chủ sở hữu: lập danh mục bài hát, tác giả, chủ sở hữu quyền và tổ chức quản lý tập thể; tra cứu thông tin về tổ chức quản lý tập thể và biểu mức tiền bản quyền được phép công khai theo điểm b, điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 5b Nghị định 17/2023/NĐ-CP (được bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP).
  2. Xin phép bằng văn bản và thỏa thuận mức phí: ghi rõ danh mục, phạm vi sử dụng, mức phí và thời điểm thanh toán trước ngày biểu diễn.
  3. Lưu hợp đồng, chứng từ của các chương trình: hợp đồng, chứng từ thanh toán, vi bằng, bảng doanh thu và số vé bán.
  4. Nếu đã bị yêu cầu bồi thường: thu thập hợp đồng tương tự đã ký, chứng minh doanh thu thực tế và số ghế thực bán.
  5. Phản hồi bằng văn bản, không bỏ qua thư yêu cầu: nêu quan điểm về danh mục, mức phí đề xuất và căn cứ, đồng thời giữ bằng chứng đã gửi.
Cách xử lý tranh chấp tác quyền bài hát bằng hợp đồng, chứng từ và phản hồi bằng văn bản.
Đơn vị tổ chức cần xin phép bằng văn bản, lưu hợp đồng, chứng từ và chuẩn bị chứng cứ khi bị yêu cầu bồi thường.

Kinh nghiệm thực tế khi xử lý tranh chấp sử dụng tác phẩm âm nhạc

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, tranh chấp thường không bắt đầu từ việc không muốn trả tiền, mà từ việc hai bên không thống nhất được mức phí và không có tài liệu để chứng minh mức mình đưa ra. Ba tình huống dưới đây xuất hiện lặp lại nhiều nhất.

Gửi công văn hỏi phí, không nhận phản hồi rồi vẫn tổ chức chương trình

Nhiều đơn vị tin rằng đã hỏi phí và chờ đủ lâu thì có thể tiến hành. Trong thực tế, tổ chức đại diện quyền thường phản hồi chậm, có khi phản hồi sau đêm diễn kèm bảng tính theo biểu mức. Lúc đó chương trình đã kết thúc, đơn vị tổ chức mất chủ động thương lượng và phải đối mặt với yêu cầu tính trên toàn bộ danh mục bài hát.

Không lưu hợp đồng tác quyền của các chương trình trước hoặc với tác giả khác

Sai lầm phổ biến là hợp đồng nằm rải rác ở nhiều bộ phận, chỉ còn bản chưa ký hoặc không còn bản nào. Khi bị yêu cầu bồi thường, đơn vị mất nhiều tuần để tìm lại chứng cứ về mức phí đã từng trả, trong lúc thời hạn phản hồi thư yêu cầu vẫn chạy. Ngược lại, hồ sơ có sẵn hợp đồng, chứng từ thanh toán và bảng doanh thu thường đàm phán được trên số liệu thay vì tranh luận cảm tính.

Cách đàm phán với tổ chức đại diện khi nhận thư yêu cầu

Cách làm hiệu quả thường bắt đầu bằng phản hồi bằng văn bản trong thời hạn nêu trong thư, yêu cầu cung cấp danh mục tác phẩm được ủy quyền, phạm vi ủy quyền, biểu mức áp dụng và văn bản phê duyệt nếu có. Sau đó đơn vị đề xuất mức phí có căn cứ là hợp đồng tương tự và doanh thu thực tế. Thương lượng thành công thường dừng ở một văn bản thỏa thuận ghi rõ danh mục, mức phí và thời điểm thanh toán.

>>> Xem thêm: Giải quyết tranh chấp bản quyền tác phẩm: Hồ sơ và thủ tục

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Nếu đơn vị của Quý khách vừa nhận thư yêu cầu thanh toán phí tác quyền hoặc đang chuẩn bị một chương trình có sử dụng tác phẩm âm nhạc, hãy gửi hợp đồng tác quyền đã ký, công văn đã trao đổi và hồ sơ chương trình để luật sư đánh giá mức phí tham chiếu và phương án xử lý.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư sở hữu trí tuệ

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

Câu hỏi thường gặp về bồi thường khi dùng bài hát không xin phép

Các câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc thường gặp của đơn vị tổ chức sự kiện và chủ sở hữu quyền khi phát sinh tranh chấp phí tác quyền. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước rồi dẫn căn cứ theo pháp luật hiện hành ngày 29/9/2026. Vụ việc xảy ra trước 01/01/2023 hoặc thụ lý trước 01/4/2026 cần đối chiếu thêm số điều và điều khoản chuyển tiếp tại thời điểm đó.

1. Dùng bài hát trong sự kiện không xin phép phải bồi thường bao nhiêu?

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép không có mức cố định, số tiền do Tòa án xác định theo chứng cứ từng vụ việc. Dùng tác phẩm khi chưa được phép và chưa trả tiền bản quyền là xâm phạm quyền tài sản theo khoản 2 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2022, vì khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đòi hỏi phải được cho phép và trả tiền. Tòa tính theo các căn cứ tại khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chẳng hạn giá chuyển giao quyền sử dụng giả định. Ở vụ việc năm 2019, khi đó là khoản 8 Điều 28, Tòa phúc thẩm tính 3.000.000 đồng/bài/đêm diễn, tổng 60.000.000 đồng cho 20 bài.

2. Mức bồi thường luật định tối đa hiện nay là bao nhiêu?

Khi không xác định được thiệt hại vật chất theo các điểm a, b và c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Tòa quyết định mức không quá 1 tỷ đồng theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bởi khoản 68 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/4/2026. Thiệt hại tinh thần, nếu chứng minh được, do Tòa quyết định trong giới hạn từ 10 lần đến 100 lần mức lương cơ sở theo khoản 2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2025. Vụ việc thụ lý trước 01/4/2026 tiếp tục áp dụng mức trần 500 triệu đồng theo khoản 5 Điều 3 Luật số 131/2025/QH15.

3. Biểu mức của tổ chức đại diện tập thể có bắt buộc áp dụng không?

Biểu mức không mặc nhiên bắt buộc: trong vụ việc này, Tòa xác định biểu mức của nguyên đơn chỉ là cơ sở để tham khảo và là ý chí của một bên (đoạn [14]). Khoản 3 và khoản 4 Điều 43 Nghị định 22/2018/NĐ-CP khi đó giao hai bên thỏa thuận mức tiền, còn hiện nay trách nhiệm này nằm ở khoản 3 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Biểu mức của tổ chức đại diện tập thể phải được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt theo khoản 1 Điều 46 Nghị định 17/2023/NĐ-CP; riêng trường hợp dùng bản ghi âm, ghi hình trong kinh doanh mà không thỏa thuận được thì khoản 4 Điều 35 Nghị định 17/2023/NĐ-CP cho phép trả theo biểu mức tại Phụ lục II của nghị định này.

4. Đã gửi công văn hỏi phí mà không được trả lời thì có bị coi là xâm phạm không?

Có thể vẫn bị coi là xâm phạm. Trong vụ việc, công ty đã gửi công văn hỏi chi phí tác quyền nhưng không được phản hồi, và Tòa vẫn xác định việc biểu diễn khi chưa được sự đồng ý và chưa trả tiền là xâm phạm (đoạn [6], [11]). Theo khoản 2 Điều 20 và khoản 2 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, điều kiện là phải được cho phép và trả tiền bản quyền, còn khoản 2 Điều 56 Nghị định 17/2023/NĐ-CP chỉ yêu cầu bên khai thác liên hệ để thỏa thuận. Văn bản hỏi phí là chứng cứ về thiện chí, không thay thế sự cho phép.

5. Ngoài tiền bồi thường còn phải làm gì?

Tòa có thể buộc xin lỗi, cải chính công khai theo khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, như việc đăng báo trong 03 số liên tiếp ở vụ việc này. Chi phí lập vi bằng và mua vé được Tòa chấp nhận theo Điều 20 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, nay đã bị bãi bỏ; căn cứ hiện hành là điểm a khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Điều 74 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Chủ thể quyền còn có thể yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý thuê luật sư theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, và khoản tiền chậm thi hành chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 như bản án đã tuyên.

Kết luận

Bồi thường khi dùng bài hát không xin phép được Tòa án xác định theo chứng cứ về giá tham chiếu, không theo biểu mức do một bên tự ban hành, như bản án phúc thẩm đã giảm tiền nhuận bút từ 205.769.804 đồng xuống 60.000.000 đồng. Bài học cốt lõi là xin phép bằng văn bản, lưu hợp đồng và chứng từ, và phản hồi thư yêu cầu bằng văn bản. Bài viết chỉ phân tích một vụ việc theo pháp luật hiện hành ngày 29/9/2026, không thay thế đánh giá hồ sơ. Luật Long Phan PMT sẵn sàng đánh giá hợp đồng tác quyền, công văn và hồ sơ chương trình của Quý khách, hotline 1900636387.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 2005 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Nghị định 285/2025/NĐ-CP
  • Luật Thi hành án dân sự 2025
  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87