Case study: Cách tính bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền

Bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền được Tòa án tính theo giá chuyển giao quyền sử dụng với giả định bên vi phạm đã mua giấy phép, kể cả khi chưa ký hợp đồng license. Luật Long Phan PMT phân tích vụ việc sở hữu trí tuệ có doanh nghiệp bị thanh tra phát hiện sao chép phần mềm thiết kế. Đây là nội dung cốt lõi của Dự thảo án lệ số 16/2026, nguồn từ Bản án phúc thẩm số 07/2023/KDTM-PT ngày 10/3/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội.

Bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền theo giá chuyển giao quyền sử dụng thực tế.
Mức bồi thường có thể căn cứ giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Mức thiệt hại vật chất có thể được tính theo giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm với giả định bên vi phạm đã được cấp phép, theo điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022); Luật số 131/2025/QH15 không sửa đổi điểm này.
  • Khi không xác định được thiệt hại theo các điểm a, b và c khoản 1, Tòa án ấn định mức bồi thường tối đa một tỷ đồng theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025); vụ việc đã thụ lý trước ngày này tiếp tục áp dụng luật cũ theo khoản 5 Điều 3 Luật số 131/2025/QH15.
  • Thiệt hại là tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra, theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Điều 69 Nghị định 17/2023/NĐ-CP.
  • Sao chép, cài đặt phần mềm không phép còn bị xử phạt hành chính riêng theo Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/02/2026), độc lập với trách nhiệm bồi thường dân sự.

Nội Dung Bài Viết

Doanh nghiệp bị phát hiện dùng phần mềm lậu, tòa án lấy gì để tính tiền bồi thường?

Tòa án lấy giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm gần nhất trước thời điểm xâm phạm làm căn cứ, với giả định doanh nghiệp vi phạm đã được cấp phép trong phạm vi tương ứng hành vi đã thực hiện. Căn cứ là điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2019, 2025.

Theo khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2019, 2025, nguyên đơn chứng minh được thiệt hại vật chất có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong bốn căn cứ sau.

Căn cứ Nội dung theo luật Nhận định về khả năng áp dụng với phần mềm
Điểm a khoản 1 Điều 205 Tổng thiệt hại vật chất cộng khoản lợi nhuận bên vi phạm thu được, nếu lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa tính vào thiệt hại Khó chứng minh khi chỉ dùng nội bộ
Điểm b khoản 1 Điều 205 Giá chuyển giao quyền sử dụng với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng theo hợp đồng, trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm Phù hợp nhất; được áp dụng trong vụ án
Điểm c khoản 1 Điều 205 Thiệt hại vật chất theo cách tính khác do chủ thể quyền đưa ra, phù hợp với pháp luật Cần chứng cứ đầy đủ
Điểm d khoản 1 Điều 205 Không xác định được theo điểm a, b, c thì Tòa án quyết định tùy mức độ thiệt hại, tối đa một tỷ đồng Phương án cuối cùng

>>> Xem thêm: Hình thức xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Bối cảnh vụ án: doanh nghiệp bị thanh tra phát hiện sao chép phần mềm thiết kế

Ngày 12/4/2019, Đoàn thanh tra liên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra 28 máy tính đang hoạt động của bị đơn và phát hiện phần mềm Pro/Engineer Wildfire 5.0 được sao chép, sử dụng không có sự cho phép của chủ sở hữu. Bị đơn thừa nhận vi phạm và ký biên bản.

Ngày 18/4/2019, Thanh tra Bộ kết luận bị đơn sao chép trái phép 8 phần mềm, trong đó có phần mềm nêu trên. Quyết định xử phạt số 35/QĐ-XPVPHC cùng ngày phạt 30 triệu đồng và buộc dỡ bỏ bản sao. Căn cứ xử phạt là khoản 1 Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP, nay được thay bằng Nghị định 341/2025/NĐ-CP.

Nguyên đơn khởi kiện dân sự riêng từ ngày 26/12/2019. Mức yêu cầu ban đầu là 12.646.113.100 đồng (543.685 USD), tính theo giá niêm yết trọn bộ 173 mô-đun. Sau đó nguyên đơn hạ yêu cầu xuống 2.184.019.500 đồng rồi 1.618.663.400 đồng tại phiên sơ thẩm, kèm yêu cầu xin lỗi công khai trên ba tờ báo.

Lý do là người dùng thực tế mua theo gói mô-đun chứ không mua trọn bộ, và nguyên đơn chỉ chứng minh được giá bán thực tế qua hai hợp đồng cấp phép. Nộp phạt hành chính không làm mất quyền yêu cầu bồi thường dân sự.

>>> Xem thêm: Cơ Chế Xử Lý Và Bảo Hộ Nhãn Hiệu Bị Xâm Phạm Làm Giả, Làm Nhái

Vấn đề pháp lý trọng tâm: không có hợp đồng license với chính bị đơn thì tính thiệt hại thế nào?

Bị đơn chưa từng mua phần mềm nên không có giá giao dịch trực tiếp giữa hai bên. Nguyên đơn phải dùng hợp đồng cấp phép ký với bên thứ ba, còn Tòa án phải xác định điểm b khoản 1 Điều 205 có cho phép cách tính đó hay không. Đây là nút thắt chính của vụ án.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, giá chuyển giao được xác định “với giả định” bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng. Có thể hiểu là luật không đòi hỏi hợp đồng có thật giữa hai bên; bên vi phạm được đặt vào vị trí người mua giấy phép để tính khoản tiền lẽ ra phải trả. Đây là cơ sở tính bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền mà không cần hợp đồng trực tiếp.

Trường hợp ngoại lệ: chủ sở hữu chưa có hợp đồng cấp phép nào tại Việt Nam. Khi phần mềm chưa được bán cho khách hàng nào trong nước, không có giá thực tế để làm căn cứ theo điểm b. Chủ sở hữu nên chuẩn bị bảng giá công khai, hợp đồng với đại lý ở thị trường tương đương hoặc phương pháp tính riêng theo điểm c khoản 1 Điều 205 kèm chứng cứ. Doanh nghiệp bị đòi nên yêu cầu chứng minh mức giá bằng tài liệu cụ thể; trong vụ án, giá niêm yết trọn bộ 543.685 USD không được dùng, chỉ giá bán thực tế của gói mô-đun được chấp nhận.

Hai bên tranh luận thế nào về cách tính mức bồi thường

Hai bên tranh luận về việc lấy gì làm giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm. Nguyên đơn dùng giá hợp đồng cấp phép đã bán tại Việt Nam; bị đơn phản bác giá trị chứng cứ, đề nghị định giá độc lập và tính theo thời gian sử dụng.

Lập luận của chủ sở hữu quyền tác giả: dùng giá hợp đồng cấp phép đã bán cho khách hàng khác tại Việt Nam

Nguyên đơn viện dẫn Điều 198, Điều 202, Điều 204, điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 1.3 điểm 1 Mục 1 Phần B Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP. Theo nguyên đơn, giá chuyển giao là giá thực tế đã thực hiện tại Việt Nam. Nguyên đơn xuất trình giấy chứng nhận đăng ký bản quyền, hợp đồng do đại lý chính hãng ký với hai khách hàng, hóa đơn, xác nhận ngân hàng và giấy chứng nhận đại lý. Tòa sơ thẩm còn thu thập văn bản của hai khách hàng xác nhận đã ký hợp đồng.

Lập luận phản bác của bên vi phạm: yêu cầu trưng cầu định giá độc lập, tính theo số ngày sử dụng thực tế

Bị đơn đưa ra nhiều lập luận, gồm:

  • Tên phần mềm trong kết luận thanh tra không khớp với phần mềm đăng ký bản quyền (Thanh tra Bộ sau đó sửa tên gọi bằng Kết luận số 27/KL-TTr).
  • Tài liệu xác nhận giá 543.685 USD không kèm chứng từ; theo bị đơn, giá chỉ khoảng 2.000 USD.
  • Phần mềm Wildfire và Creo không phải một, nên không lấy giá Creo làm căn cứ.
  • Đề nghị định giá độc lập và tính theo thời gian sử dụng thực tế.

Tòa án không chấp nhận cách tính theo ngày với căn cứ là điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 không quy định tính theo số ngày vi phạm, và chính sách cấp phép của nguyên đơn cũng không tính theo ngày sử dụng (đoạn 22 phần Nhận định).

Tòa án áp dụng pháp luật ra sao để chốt mức bồi thường?

Tòa án chốt mức bồi thường bằng giá giao dịch thực tế của chính phần mềm bị xâm phạm, thay vì định giá lại tài sản. Hợp đồng được chọn là hợp đồng gần nhất trước thời điểm xâm phạm. Cả hai lựa chọn được nêu tại đoạn 18 và đoạn 21 phần Nhận định của Bản án phúc thẩm.

Vì sao tòa án không chấp nhận yêu cầu định giá tài sản phần mềm của bị đơn?

Tại đoạn 21, Tòa án nhận định ngành phần mềm đưa sản phẩm đến người dùng thông qua đại lý được nhà sản xuất ủy quyền, nên giá thị trường do nhà sản xuất xác định qua hệ thống đại lý. Người đại diện bị đơn cũng xác nhận điều này tại phiên tòa.

Đại lý có giấy chứng nhận do nguyên đơn phát hành, nên hợp đồng của đại lý là chứng cứ về giá bán thực tế. Bị đơn cũng đã xác nhận gỡ bỏ phần mềm. Từ hai lý do này, Tòa án không chấp nhận định giá tài sản phần mềm.

Vì sao chọn hợp đồng gần nhất trước thời điểm xâm phạm thay vì hợp đồng khác

Hợp đồng gần nhất trước thời điểm xâm phạm phản ánh sát giá cấp phép trên thị trường lúc bên vi phạm sử dụng phần mềm. Trong vụ án có hai hợp đồng để lựa chọn, như bảng dưới đây.

Tiêu chí Hợp đồng khách hàng thứ nhất Hợp đồng khách hàng thứ hai
Ngày ký 26/4/2016 26/11/2019
Nội dung Gói thiết kế khuôn và gia công (3 mô-đun), giá 69.590 USD Gói thiết kế và gia công, bản quyền 3 năm, giá 2.184.019.500 đồng
Vị trí so với ngày thanh tra phát hiện (12/4/2019) Trước Sau
Kết quả Được Tòa án lấy làm căn cứ Không được lấy làm căn cứ

Tòa án chấp nhận mức 69.590 USD, quy đổi tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.611.704.400 đồng, theo đoạn 18. Cách chọn này gắn với nguyên tắc thiệt hại là tổn thất thực tế do hành vi xâm phạm gây ra theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Viện kiểm sát đề nghị hủy án sơ thẩm vì cho rằng giá gói phần mềm không giới hạn số lần cài đặt chưa phù hợp với việc sao chép trên một máy và chưa xác định thời gian vi phạm. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị này (đoạn 23).

Tòa án xác định mức bồi thường dựa trên giá giao dịch thực tế của phần mềm bị xâm phạm.
Tòa án lựa chọn hợp đồng cấp phép gần nhất trước thời điểm xâm phạm để xác định giá chuyển giao quyền sử dụng.

Kết quả giải quyết vụ án và ý nghĩa của Dự thảo án lệ số 16/2026

Bản án phúc thẩm buộc bị đơn bồi thường 1.128.000.000 đồng, thấp hơn 1.611.704.400 đồng của bản án sơ thẩm do nguyên đơn tự nguyện giảm sau khi bị đơn xin lỗi công khai tại phiên tòa. Nội dung án lệ nằm ở đoạn 18 phần Nhận định của Tòa án.

Nội dung Sơ thẩm (ngày 28/01/2021, TAND tỉnh Thái Bình) Phúc thẩm (ngày 10/3/2023, TAND cấp cao tại Hà Nội)
Bồi thường 1.611.704.400 đồng 1.128.000.000 đồng (nguyên đơn tự nguyện chỉ yêu cầu 70%)
Xin lỗi công khai Buộc xin lỗi trên ba tờ báo, ba kỳ liên tiếp Công nhận việc xin lỗi tại phiên tòa; bị đơn cam kết gửi văn bản xin lỗi chính thức; không phải đăng báo

Giải pháp pháp lý của Dự thảo án lệ số 16/2026 là Tòa án căn cứ vào giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm được thực hiện gần nhất trước thời điểm xâm phạm. Căn cứ liên quan gồm Điều 204, điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 1.3 điểm 1 Mục 1 Phần B Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP. Dự thảo chưa có số hiệu và quyết định công bố chính thức.

03 nguyên tắc doanh nghiệp cần nắm để tính đúng mức bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền

Mức bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền được tính theo ba nguyên tắc rút ra từ vụ án: ưu tiên giá cấp phép thực tế gần nhất, không thu hẹp theo số ngày sử dụng, và chỉ dùng mức ấn định tối đa khi không thể tính theo các cách còn lại.

  • Ưu tiên giá giao dịch cấp phép thực tế gần nhất trên thị trường. Không cần hợp đồng trực tiếp giữa chủ sở hữu và bên vi phạm, vì điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 dựa trên giả định bên vi phạm được cấp phép.
  • Không thu hẹp mức bồi thường theo số ngày sử dụng. Tòa án xác định điểm b khoản 1 Điều 205 không quy định tính theo ngày vi phạm, và chính sách cấp phép của chủ sở hữu cũng không tính theo ngày. Điểm b vẫn gắn với “phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm”, nên doanh nghiệp cần đối chiếu gói mô-đun và phạm vi cấp phép.
  • Chỉ ấn định mức tối đa khi không xác định được thiệt hại. Theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2025, mức này tối đa một tỷ đồng và không áp dụng khi đã tính được theo điểm a, b hoặc c. Mức 1.128.000.000 đồng trong vụ án không phải mức ấn định theo điểm d.

Mức trần ấn định phụ thuộc vào thời điểm thụ lý vụ việc, như bảng so sánh dưới đây.

Tiêu chí Vụ việc đã thụ lý trước 01/4/2026 Vụ việc thụ lý từ 01/4/2026
Mức ấn định tối đa khi không xác định được thiệt hại 500 triệu đồng Một tỷ đồng
Căn cứ Điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025)
Quy định chuyển tiếp Tiếp tục áp dụng luật cũ Áp dụng trực tiếp Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025)

Ngoài bồi thường dân sự, doanh nghiệp còn có thể bị xử lý thế nào?

Chủ thể vi phạm còn có thể phải thực hiện biện pháp dân sự khác theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bị xử phạt hành chính theo Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Tầng trách nhiệm Căn cứ Nội dung chính
Dân sự Điều 202, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm (khoản 1), buộc xin lỗi, cải chính công khai (khoản 2), buộc bồi thường thiệt hại (khoản 4), buộc tiêu hủy hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại (khoản 5)
Hành chính Điều 16 và khoản 1 Điều 5 Nghị định 341/2025/NĐ-CP Hành vi sao chép tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả: cá nhân bị phạt 5 – 50 triệu đồng, tổ chức gấp hai lần; buộc tiêu hủy hoặc gỡ bỏ bản sao vi phạm; buộc trả số lợi bất hợp pháp thu được
Hình sự Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan khi đủ điều kiện về thu lợi bất chính hoặc thiệt hại; pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể

Theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung, biện pháp dân sự được áp dụng theo yêu cầu của chủ thể quyền, kể cả khi hành vi đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự. Vì vậy, nộp phạt không loại trừ khả năng bị khởi kiện đòi bồi thường.

Trách nhiệm sử dụng phần mềm không bản quyền gồm biện pháp dân sự, hành chính và hình sự.
Hành vi sao chép phần mềm không được phép có thể phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự khi đủ điều kiện.

Kinh nghiệm thực tế: sai lầm doanh nghiệp thường gặp khi bị đòi bồi thường về phần mềm

Qua các hồ sơ về bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền đã tiếp nhận, sai lầm phổ biến nhất nằm ở cách phản ứng sau khi nhận biên bản kiểm tra: gỡ phần mềm vội, chấp nhận mức giá do bên đòi đưa ra và cho rằng nộp phạt hành chính là kết thúc.

  • Gỡ phần mềm khi chưa lưu lại hiện trạng. Gỡ bỏ là biện pháp khắc phục bắt buộc, nhưng nếu không lưu danh sách máy và phiên bản, doanh nghiệp không còn dữ liệu để phản biện phạm vi bị cáo buộc; trong vụ án, việc gỡ bỏ còn được Tòa án dùng làm lý do không cần định giá.
  • Chấp nhận mức đòi theo giá niêm yết. Yêu cầu ban đầu trong vụ án là hơn 12,6 tỷ đồng theo giá niêm yết, nhưng chỉ còn khoảng 1,6 tỷ đồng khi tính theo giá bán thực tế của gói mô-đun. Doanh nghiệp nên đối chiếu hợp đồng cấp phép trước khi đàm phán.
  • Coi nộp phạt hành chính là chấm dứt trách nhiệm. Nhiều doanh nghiệp chỉ nhận ra khi nhận đơn khởi kiện rằng hai quan hệ này tách biệt.
  • Bỏ qua thương lượng ở giai đoạn muộn. Trong vụ án, bị đơn xin lỗi công khai tại phiên phúc thẩm và nguyên đơn tự nguyện giảm còn 70% mức bồi thường sơ thẩm.

>>> Xem thêm: Tư Vấn Luật Sở Hữu Trí Tuệ Bao Gồm Những Gì?

Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để giảm rủi ro khi bị thanh tra phần mềm bản quyền

Doanh nghiệp giảm rủi ro bằng cách kiểm kê phần mềm, lưu chứng từ nguồn gốc hợp pháp, ghi nhận hiện trạng trước khi gỡ bỏ và yêu cầu bên đòi chứng minh mức giá bằng hợp đồng. Các bước dưới đây là khuyến nghị để hạn chế mức bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền.

  1. Kiểm kê phần mềm trên từng máy: tên phần mềm, phiên bản, số lượng cài đặt.
  2. Lập hồ sơ nguồn gốc hợp pháp: hóa đơn, hợp đồng license, khóa kích hoạt, thời hạn giấy phép.
  3. Ghi nhận hiện trạng trước khi gỡ bỏ: chụp màn hình, lưu nhật ký cài đặt.
  4. Gỡ bỏ hoặc thay thế phần mềm không phép: đây là biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP; đồng thời ban hành quy chế cài đặt nội bộ.
  5. Yêu cầu bên đòi cung cấp căn cứ tính tiền: hợp đồng cấp phép, hóa đơn, giấy chứng nhận đại lý, ngày ký và phạm vi sử dụng để đối chiếu với điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
  6. Chuẩn bị phương án xin lỗi và thương lượng mức bồi thường: xin lỗi công khai là biện pháp dân sự tại khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, có thể được đưa vào thỏa thuận như trong vụ án.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ.

THÔNG TIN LIÊN HỆ


Doanh nghiệp đang bị đòi bồi thường hoặc bị thanh tra vì dùng phần mềm không có bản quyền có thể gửi biên bản kiểm tra, thư yêu cầu và danh sách phần mềm để Luật Long Phan PMT đánh giá căn cứ tính tiền theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư sở hữu trí tuệ

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

Câu hỏi thường gặp về bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền

Các câu hỏi dưới đây phản ánh thắc mắc doanh nghiệp và chủ sở hữu phần mềm thường đặt ra khi phát sinh tranh chấp. Mỗi câu trả lời nêu kết luận trước, sau đó dẫn căn cứ pháp lý cụ thể.

1. Không có hợp đồng bán phần mềm cho chính bên vi phạm thì có đòi bồi thường được không?

Có. Điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định giá chuyển giao quyền sử dụng “với giả định” bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng, nên không đòi hỏi hợp đồng có thật giữa hai bên. Trong vụ án, nguyên đơn dùng hợp đồng cấp phép ký với khách hàng khác tại Việt Nam để chứng minh mức giá. Theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, nguyên đơn vẫn phải chứng minh hành vi xâm phạm và thiệt hại.

2. Mức bồi thường tối đa hiện nay là bao nhiêu?

Mức ấn định tối đa là một tỷ đồng, nhưng chỉ áp dụng khi không xác định được thiệt hại theo các căn cứ khác. Theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025), Tòa án quyết định mức bồi thường tùy mức độ thiệt hại, tối đa một tỷ đồng. Vụ việc thụ lý trước 01/4/2026 vẫn áp dụng mức 500 triệu đồng theo khoản 5 Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung 2025

3. Dùng phần mềm lậu có bị xử phạt hành chính đồng thời với bồi thường dân sự không?

Có thể. Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi sao chép tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả: cá nhân bị phạt từ 5 đến 50 triệu đồng, tổ chức bị phạt gấp hai lần theo khoản 1 Điều 5 của nghị định này, kèm biện pháp buộc tiêu hủy hoặc gỡ bỏ bản sao vi phạm. Đồng thời, theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chủ sở hữu vẫn có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, kể cả khi hành vi đã hoặc đang bị xử lý hành chính. Hai trách nhiệm này tồn tại độc lập.

4. Dự thảo án lệ số 16/2026 đã có hiệu lực áp dụng chưa?

Chưa. Theo thông tin công bố ngày 26/9/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua dự thảo án lệ về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính. Trong thời gian chờ quyết định công bố, điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 vẫn là căn cứ pháp luật trực tiếp để tính mức bồi thường.

5. Doanh nghiệp bị kiện có nên yêu cầu định giá độc lập phần mềm để giảm mức bồi thường không?

Yêu cầu này ít có khả năng thay đổi kết quả. Điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 lấy giá chuyển giao quyền sử dụng làm căn cứ. Trong vụ án gốc, Tòa án không chấp nhận định giá vì đã có giá giao dịch thực tế qua đại lý được ủy quyền và bị đơn đã xác nhận gỡ bỏ phần mềm (đoạn 21). Doanh nghiệp nên tập trung phản biện chính các hợp đồng cấp phép nguyên đơn đưa ra: ngày ký, gói mô-đun, phiên bản và phạm vi cấp phép.

6. Sử dụng phần mềm không bản quyền có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có thể, khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm được xử lý bằng biện pháp hành chính theo Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP và biện pháp dân sự theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Kết luận

Bồi thường khi sử dụng phần mềm không bản quyền được tính theo giá cấp phép thực tế gần nhất trước thời điểm xâm phạm, không phụ thuộc bên vi phạm có ký hợp đồng license hay không. Doanh nghiệp cần ghi nhận hiện trạng, lưu chứng từ nguồn gốc phần mềm và đối chiếu kỹ căn cứ tính tiền của bên đòi. Luật Long Phan PMT sẵn sàng rà soát hồ sơ; Quý khách liên hệ hotline 1900636387 để được tư vấn.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 2005 (sửa đổi, bổ sung 2025)
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
  • Nghị định 341/2025/NĐ-CP
  • Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , ,

Luật sư Cộng sự Nguyễn Văn Quynh

Luật sư Nguyễn Văn Quynh là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là một chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm với thâm niên hoạt động lâu năm trong nghề luật tại Việt Nam. Ông được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư vào ngày 17/03/2008. Hiện nay, Luật sư Nguyễn Văn Quynh đang giữ vai trò là Trưởng Văn phòng Luật sư Bình Tân.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87