Phân tích thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp tài sản theo án lệ 75/2025

Thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75 có thể làm sai lệch việc xác định tội danh HS, kéo theo nguy cơ truy tố nhầm giữa Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174). Theo Án lệ số 75/2025/AL1, nếu hành vi gian dối chỉ nhằm tiếp cận tài sản, đánh lạc hướng người không có quyền quản lý hợp pháp và tạo điều kiện cho việc lén lút chiếm đoạt, thì bản chất pháp lý vẫn là Tội trộm cắp tài sản, không tự động chuyển thành lừa đảo. Từ điểm mấu chốt này, việc bóc tách ý chí bị hại và đường đi của tài sản cần được thực hiện chặt chẽ cùng Luật Long Phan PMT.

 Phân tích thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp tài sản theo Án lệ 75.
Việc bóc tách bản chất hành vi gian dối giúp phân biệt chính xác giữa tội trộm cắp và tội lừa đảo.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Có hành vi giả danh, nói dối chưa đủ để định sang Điều 174; điểm quyết định là có hay không sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn.
  • Nếu người bị tác động chỉ là người không có quyền quản lý hợp pháp và chủ tài sản không biết mình bị lừa, hướng định tội cần nghiêng về Điều 173 theo Đoạn 6, Đoạn 7 Án lệ số 75/2025/AL1.
  • Khi rà soát hồ sơ, phải chốt cho được ai đang kiểm soát tài sản, tài sản rời khỏi phạm vi quản lý bằng cách nào, và thời điểm tội phạm hoàn thành nằm ở đâu.
  • Ngưỡng cấu thành cơ bản của cả hai tội đều từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, nhưng sai tội danh có thể dẫn đến khác biệt lớn về chế tài, đặc biệt ở khung cao nhất của Điều 174 là tù chung thân.

Cấu thành cơ bản của tội phạm và các ngưỡng định lượng đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu

Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là mốc pháp lý đầu tiên phải kiểm tra, vì nó quyết định có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và dẫn tới khung hình phạt nào. Với cả Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), mốc cơ bản đều là từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, nhưng cách thức chiếm đoạt mới là yếu tố quyết định đúng tội danh.

Dấu hiệu định tội danh Tội trộm cắp tài sản (Điều 173)

Tội trộm cắp tài sản đặt trọng tâm vào hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Về ngưỡng định lượng, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu khi tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; nếu dưới mức này thì chỉ bị xử lý hình sự khi rơi vào các trường hợp luật định (Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).

Khi tài sản dưới 2.000.000 đồng, cần rà soát ngay các điều kiện ngoại lệ sau để tránh bỏ sót hoặc định tội sai:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm (Điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Đã bị kết án về tội này hoặc các tội tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm (Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điểm c Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ (Điểm d Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Tài sản là di vật, cổ vật (Điểm đ Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).

Khung hình phạt của Điều 173 cần được chốt theo giá trị tài sản và tình tiết định khung:

  • Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc có tình tiết luật định thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).
  • Từ 500.000.000 đồng trở lên thì phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (Khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015). Đây là nền định lượng bắt buộc trước khi chuyển sang phân tích thủ đoạn gian dối trong án lệ.

Dấu hiệu định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174)

Khác với trộm cắp, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản lấy thủ đoạn gian dối làm phương thức cốt lõi để làm phát sinh sự dịch chuyển tài sản. Theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, ngưỡng định lượng cơ bản cũng là từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; dưới mức này vẫn có thể bị xử lý nếu thuộc trường hợp ngoại lệ do luật quy định.

Các trường hợp ngoại lệ dưới 2.000.000 đồng của Điều 174 về cơ bản tương tự Điều 173:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm (Điểm a Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).
  • Đã bị kết án về tội này hoặc các tội tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm (Điểm b Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điểm c Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ (Điểm d Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)).

Về khung hình phạt, Điều 174 nghiêm khắc hơn ở mức cao nhất:

  • Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc có tình tiết định khung thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).
  • Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).
  • Từ 500.000.000 đồng trở lên thì phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015).

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (Khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015). Chính vì chế tài nặng hơn, việc nhầm giữa Điều 173 và Điều 174 có thể làm thay đổi đáng kể rủi ro tố tụng cho người bị buộc tội.

Các dấu hiệu định tội danh tội trộm cắp tài sản và khung hình phạt theo quy định.
Thẩm phán căn cứ vào giá trị định lượng tài sản và tính chất lén lút để xác định cấu thành tội phạm.

Tình huống thực tiễn và định hướng giải quyết án lệ về tội xâm phạm sở hữu

“Tại sao bị cáo có hành vi giả danh, nói dối nhưng Tòa án vẫn tuyên phạm tội trộm cắp tài sản?” Đây là điểm gây nhầm lẫn phổ biến trong nhiều hồ sơ, nhất là khi cơ quan tiến hành tố tụng chỉ nhìn vào bề ngoài của hành vi gian dối mà chưa bóc tách đúng cơ chế dịch chuyển tài sản. Án lệ số 75/2025/AL1 được xây dựng để xử lý điểm gây tranh cãi pháp lý này.

Tình huống án lệ cho thấy người bị buộc tội đã đưa ra thông tin không đúng sự thật để một người không được giao trông coi, quản lý tài sản tin rằng mình là người thân quen của chủ sở hữu, rồi giao tài sản cho mình. Nhìn bề ngoài, hành vi này có dấu hiệu “lừa”, nhưng điểm pháp lý quyết định lại nằm ở chỗ người giao tài sản không phải chủ sở hữu và cũng không phải người quản lý hợp pháp của tài sản đó.

Căn cứ Đoạn 6 phần Nhận định của Tòa án, Án lệ số 75/2025/AL1, việc người phạm tội sử dụng thông tin gian dối trong trường hợp này chưa đủ để cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Lý do là bản thân người chủ tài sản không hề biết mình bị lừa dối, nên không có sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn.

Đến Đoạn 7 phần Nhận định, Tòa án xác định sự gian dối chỉ là thủ đoạn nhằm lợi dụng lúc chủ sở hữu ở nơi khác và khai thác sơ hở trong việc quản lý tài sản để tiếp cận chiếm đoạt. Vì thế, quá trình chiếm đoạt vẫn mang bản chất lén lút đối với chủ sở hữu và người quản lý tài sản thực sự, nên phải xử lý về Tội trộm cắp tài sản.

Định hướng của Tòa án nhân dân tối cao từ án lệ này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nó buộc người áp dụng pháp luật không được dừng ở nhận xét “có nói dối, có giả danh” là suy ra ngay Điều 174. Điểm cần kiểm tra là tài sản đã rời khỏi phạm vi quản lý hợp pháp bằng con đường nào, ai mới là người có quyền kiểm soát tài sản tại thời điểm đó, và sự gian dối có phải là nguyên nhân làm phát sinh việc giao tài sản hay không. Đây cũng là nền để chuyển sang phân tích sâu hơn bản chất của thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75.

Phân tích bản chất thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75

Điểm mấu chốt của thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75 là không được nhìn bề ngoài “có nói dối” để suy ngay sang Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Giá trị pháp lý của hành vi gian dối phải được xác định theo chức năng thực tế của nó trong quá trình chiếm đoạt. Nếu nó chỉ giúp người phạm tội tiếp cận tài sản, đánh lạc hướng người xung quanh và tạo điều kiện để chiếm đoạt trong trạng thái chủ tài sản không nhận biết, thì bản chất vụ án vẫn thuộc Tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ Đoạn 6 phần Nhận định của Tòa án, Án lệ số 75/2025/AL1, người bị lừa dối để giao tài sản cho bị cáo trong tình huống án lệ không phải chủ sở hữu và cũng không phải người quản lý hợp pháp của tài sản. Vì vậy, sự gian dối ở đây không làm phát sinh sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn, là dấu hiệu cốt lõi của Điều 174. Bản thân chủ tài sản không hề biết mình bị lừa nên không thể kết luận có sự dịch chuyển tài sản qua con đường tin tưởng.

Theo Đoạn 7 phần Nhận định của Tòa án, Án lệ số 75/2025/AL1, sự gian dối trong trường hợp này chỉ là thủ đoạn nhằm lợi dụng sơ hở để tiếp cận chiếm đoạt. Quan hệ nhân quả cần bóc tách không phải giữa lời nói dối và việc bị hại tự giao tài sản, mà là giữa thủ thuật che đậy và việc tài sản bị lấy ra khỏi phạm vi quản lý hợp pháp. Do đó, dù có yếu tố giả danh hoặc tạo tình huống giả, cách thức chiếm đoạt vẫn mang bản chất lén lút và phải định theo Điều 173.

Tiêu chí ranh giới định tội danh: Trộm cắp tài sản hay Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ranh giới giữa Tội trộm cắp tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nằm ở việc người phạm tội có nói dối hay không, mà nằm ở vai trò pháp lý của hành vi gian dối trong quá trình chiếm đoạt. Khi bóc tách hồ sơ, nếu bỏ qua điểm này, cơ quan tiến hành tố tụng rất dễ nhầm từ hành vi “đánh lạc hướng để lấy” sang hành vi “làm cho bị hại tin và tự giao”. Đây là lý do cần đối chiếu từng tiêu chí thay vì chỉ bám vào lời khai có yếu tố giả danh hoặc lừa gạt.

Tiêu chí Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trộm cắp tài sản
Vai trò của gian dối Cốt lõi, quyết định việc chiếm đoạt Phụ trợ, chỉ để tiếp cận hoặc che đậy việc chiếm đoạt
Thời điểm gian dối Xuất hiện trước khi chiếm đoạt để tạo niềm tin sai lệch Có thể xuất hiện trước hoặc trong quá trình chiếm đoạt
Hành vi giao tài sản Có, tài sản được giao do bị lừa Không có sự giao tài sản đúng nghĩa từ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
Ý chí bị hại Tự nguyện nhưng sai lệch nhận thức Không biết hoặc không đồng ý
Cách thức chiếm đoạt Chiếm đoạt qua sự tin tưởng Lén lút chiếm đoạt tài sản

Điểm phải kiểm tra trước tiên là có hay không sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn. Nếu tài sản rời khỏi phạm vi quản lý vì bị hại tin nhầm rồi tự giao, cấu thành sẽ nghiêng mạnh về Điều 174. Ngược lại, nếu sự gian dối chỉ làm người khác mất cảnh giác, còn bản thân chủ sở hữu hoặc người có quyền kiểm soát, quản lý tài sản thực sự không hề tự nguyện giao tài sản, thì hướng định tội phải quay về Điều 173 theo tinh thần Án lệ số 75/2025/AL1.

Về thực tiễn, luật sư không nên dừng ở nhận định “bị cáo có giả vờ, giả danh, nói không đúng sự thật”. Cần truy đến cùng ba câu hỏi: ai đang kiểm soát tài sản tại thời điểm mất, tài sản thoát khỏi phạm vi quản lý bằng con đường nào, và sự gian dối có thực sự làm phát sinh hành vi giao tài sản hay không. Khi trả lời đúng ba điểm này, việc xác định tội danh sẽ bớt cảm tính và giảm đáng kể nguy cơ oan sai hình sự do nhầm giữa Điều 173 và Điều 174.

Khuyến nghị của luật sư khi áp dụng vào thực tiễn bào chữa

Trong các vụ án dễ nhầm giữa Điều 173 và Điều 174, sai lệch thường phát sinh từ việc đọc hồ sơ theo bề mặt lời khai. Theo Khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015, điều luật áp dụng phải là điều luật có hiệu lực tại thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện, nên luật sư cần bóc tách đúng dòng sự kiện trước khi tranh luận về tội danh.

  • Xác định chủ thể đang kiểm soát tài sản. Phải chốt ai là chủ sở hữu, ai là người quản lý hợp pháp, ai chỉ là người hiện diện ngẫu nhiên. Nếu người bị tác động không có quyền kiểm soát hợp pháp, dấu hiệu của lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ suy yếu rõ rệt.
  • Đánh giá có hay không việc giao tài sản do tin nhầm. Luật sư phải tách bạch giữa hành vi giao tài sản trên cơ sở tin tưởng với việc tài sản bị lấy khỏi phạm vi quản lý do mất cảnh giác. Đây là điểm quyết định để kiến nghị thay đổi quyết định khởi tố bị can hoặc phản biện quan điểm truy tố.
  • Chốt thời điểm tội phạm hoàn thành và rà soát quy định có lợi. Nếu vụ án đang ở giai đoạn giao thời, cần kiểm tra khả năng áp dụng quy định có lợi cho người bị buộc tội. Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15, quy định có lợi được áp dụng cho cả hành vi xảy ra trước 01/7/2025 nhưng sau đó mới bị phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử.

Về chiến lược bào chữa, luật sư nên chuẩn bị đồng thời hướng khiếu nại quyết định khởi tố bị can và kiến nghị điều chỉnh tội danh nếu chứng cứ cho thấy không có sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn. Làm đúng bước này giúp giảm nguy cơ oan sai hình sự và giữ tranh tụng bám đúng bản chất hành vi chiếm đoạt (Khoản 1 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015).

Câu hỏi thường gặp về thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp tài sản

Việc bóc tách ranh giới pháp lý liên quan đến “thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75” và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đòi hỏi sự đối chiếu khắt khe từ thực tiễn xét xử. Những giải đáp chuyên sâu tiếp nối sẽ gỡ vướng các điểm mù pháp lý thường gặp, giúp định hình chuẩn xác chiến lược bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị buộc tội.

1. Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để lén lút lấy tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có, người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp đặc biệt do luật định. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng cấu thành tội phạm nếu người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm, hoặc tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của bị hại. Điểm a và Điểm d Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

2. Việc chuyển hóa tội danh từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang tội trộm cắp tài sản có làm giảm mức hình phạt tù cao nhất không?

Có, việc xác định lại đúng tội danh trộm cắp tài sản làm giảm đáng kể mức hình phạt tù cao nhất đối với người bị buộc tội. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên, mức phạt cao nhất của tội lừa đảo là tù chung thân, trong khi tội trộm cắp tài sản chỉ áp dụng mức phạt tù cao nhất là 20 năm. Khoản 4 Điều 173 và Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

3. Trường hợp hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản xảy ra trước ngày 01/7/2025 nhưng đang bị điều tra thì áp dụng quy định pháp luật như thế nào?

Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng nguyên tắc hồi tố nếu quy định của pháp luật mới ban hành có lợi cho người phạm tội. Cụ thể, quy định có lợi được áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó vụ án mới đang bị điều tra, truy tố hoặc xét xử. Điểm b Khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

4. Tiêu chí bắt buộc nào để Tòa án không định tội lừa đảo mà chuyển sang tội trộm cắp đối với hành vi có sử dụng yếu tố gian dối?

Tiêu chí bắt buộc là người bị lừa dối để lấy tài sản không phải là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của tài sản. Khi sự gian dối chỉ là thủ đoạn nhằm lợi dụng sơ hở để tiếp cận chiếm đoạt và bản thân người chủ sở hữu tài sản không hề biết mình bị lừa dối thì hành vi đó cấu thành tội trộm cắp tài sản. Đoạn 6 và Đoạn 7 phần Nhận định của Tòa án Án lệ số 75/2025/AL1.

5. Người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lén lút chiếm đoạt tài sản có phải chịu thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền không?

Có, người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bằng thủ đoạn gian dối còn có thể bị Tòa án áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Mức phạt tiền bổ sung đối với tội trộm cắp tài sản được ấn định từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của vụ án. Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.

Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng các vụ án hình sự tại Luật Long Phan PMT

Các vụ án có dấu hiệu nhầm giữa Tội trộm cắp tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đòi hỏi người bào chữa phải đọc hồ sơ theo cấu trúc định tội, không thể chỉ bám vào lời khai có yếu tố giả danh hoặc gian dối. Trong bối cảnh đó, sử dụng luật sư bào chữa trong vụ án trộm cắp tài sản hoặc vụ án lừa đảo là giải pháp an toàn để bảo vệ đúng quyền lợi tố tụng và hạn chế rủi ro truy tố sai tội danh tại Luật Long Phan PMT.

  • Nghiên cứu hồ sơ vụ án, bóc tách chứng cứ định tội danh, xác định đúng chủ thể quản lý tài sản, cơ chế dịch chuyển tài sản và thời điểm tội phạm hoàn thành.
  • Tư vấn chiến lược bào chữa xin thay đổi tội danh hình sự, nhất là khi chứng cứ cho thấy không có sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn.
  • Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân xem xét lại quan điểm truy tố, khởi tố hoặc giữ nguyên tội danh khi có dấu hiệu áp dụng sai giữa Điều 173 và Điều 174.
  •  Soạn thảo bản luận cứ bào chữa dùng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, tập trung vào bản chất hành vi chiếm đoạt và giá trị pháp lý của hành vi gian dối.
  • Tham gia cùng người bị buộc tội tại giai đoạn hỏi cung, đối chất, rà soát tính hợp pháp của lời khai và định hướng khai báo thống nhất với chứng cứ khách quan.
  • Đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trong các vụ án xâm phạm sở hữu, bao gồm yêu cầu xác định đúng tội danh, trách nhiệm bồi thường và tư cách tố tụng liên quan.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email: pmt@luatlongphan.vn  hoặc Zalo: 0939.846.973 để được luật sư đánh giá sơ bộ hướng định tội và chiến lược tố tụng phù hợp.

Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng vụ án hình sự chuyên nghiệp tại Luật Long Phan PMT.
Luật sư trực tiếp nghiên cứu hồ sơ để xây dựng chiến lược bào chữa và bảo vệ quyền lợi bị can, bị cáo.

Kết luận

Thủ đoạn gian dối trong tội trộm cắp theo án lệ 75 chỉ làm thay đổi xác định tội danh khi nó tạo ra sự tự nguyện giao tài sản của bị hại do nhầm lẫn; nếu chỉ là thủ thuật để tiếp cận tài sản, đánh lạc hướng và che đậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, vụ việc vẫn phải được xem xét theo Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) thay vì Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) theo định hướng của Án lệ số 75/2025/AL1. Chỉ cần nhầm điểm này, người bị buộc tội hoặc bị hại có thể đối mặt với hệ quả tố tụng rất khác. Để được đánh giá đúng hồ sơ và xây dựng hướng xử lý kịp thời, liên hệ Hotline 1900.63.63.87 của Luật Long Phan PMT.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
  • Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
  • Án lệ số 75/2025/AL1 về thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , ,

Luật sư điều hành Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. 15 năm kinh nghiệm của mình, Luật sư đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87