Tranh chấp bãi nhiệm giám đốc sai luật có thể khiến nghị quyết bãi nhiệm bị yêu cầu vô hiệu, kéo theo rủi ro đình trệ điều hành, phát sinh nghĩa vụ bồi thường tiền lương, bảo hiểm và khoản bồi thường nếu việc chấm dứt gắn với quan hệ lao động. Khi quyết định bãi nhiệm được ban hành sai thẩm quyền, sai trình tự họp, trái Điều lệ công ty hoặc vi phạm hợp đồng thuê giám đốc, người bị bãi nhiệm cần khóa ngay rủi ro pháp lý bằng cách rà soát hồ sơ nội bộ, xác định đúng loại tranh chấp và chọn đúng hướng khởi kiện hoặc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Toàn bộ căn cứ xử lý này sẽ được phân tích cụ thể ngay sau đây cùng định hướng giải quyết tranh chấp doanh nghiệp từ Luật Long Phan PMT.

Quyền bãi nhiệm của Hội đồng quản trị đối với Giám đốc
Trong công ty cổ phần, Hội đồng quản trị không bị tước quyền thay đổi Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Căn cứ theo Điểm i Khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020, Hội đồng quản trị có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký kết hợp đồng và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Đồng thời, Khoản 1 Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép Hội đồng quản trị thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để điều hành hoạt động hằng ngày của công ty.
Nhưng quyền này không phải quyền tuyệt đối. Khi Giám đốc là người được thuê theo hợp đồng, việc chấm dứt chức danh còn phải đối chiếu với hợp đồng thuê, hợp đồng lao động và quy định của Bộ luật Lao động 2019 về căn cứ, thủ tục, thời hạn báo trước và hậu quả của việc chấm dứt trái luật. Vì vậy, Hội đồng quản trị có thể có thẩm quyền bãi nhiệm về mặt quản trị, nhưng vẫn sai luật nếu vi phạm Điều lệ công ty, vi phạm hợp đồng hoặc dùng quyền quản trị để né trách nhiệm lao động.
Thẩm quyền và quy định pháp lý về việc bãi nhiệm người quản lý doanh nghiệp
Ở nhóm tranh chấp này, thẩm quyền là điểm kiểm tra đầu tiên. Một nghị quyết có nội dung đúng nhưng do sai chủ thể ban hành vẫn có nguy cơ bị vô hiệu; ngược lại, đúng chủ thể nhưng sai điều kiện, sai quy trình hoặc trái Điều lệ cũng vẫn phát sinh trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, cần kiểm tra song song ba lớp căn cứ: loại hình doanh nghiệp, Điều lệ công ty và quan hệ hợp đồng gắn với chức danh Giám đốc. Đây cũng là nền tảng để xác định doanh nghiệp đang vướng tranh chấp quản trị hay tranh chấp chấm dứt hợp đồng.
Thẩm quyền của Hội đồng thành viên và Hội đồng quản trị
Căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2020, việc xác định đúng chủ thể có quyền quyết định là điều kiện tiên quyết để nghị quyết có giá trị pháp lý.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Hội đồng thành viên có quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc theo Điểm đ Khoản 2 Điều 55 Luật Doanh nghiệp 2020.
- Công ty TNHH một thành viên: Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty có quyền bổ nhiệm hoặc thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc theo Khoản 1 Điều 82 Luật Doanh nghiệp 2020.
- Công ty cổ phần: Hội đồng quản trị có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký kết hợp đồng và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc theo Điểm i Khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020.
- Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật: Khi việc bãi nhiệm kéo theo thay đổi đăng ký doanh nghiệp, giấy đề nghị thay đổi phải do đúng chủ thể có thẩm quyền ký theo Khoản 2 Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.
Nếu quyết định được ký bởi người không đúng thẩm quyền hoặc hồ sơ thay đổi đăng ký doanh nghiệp do sai chủ thể thực hiện, tranh chấp không còn dừng ở nội bộ công ty. Lúc này rủi ro sẽ phát sinh liên quan đến hiệu lực thủ tục đăng ký doanh nghiệp, tính hợp lệ của người đại diện theo pháp luật mới và trách nhiệm phát sinh từ giao dịch do người mới xác lập.
Điều kiện bãi nhiệm Giám đốc theo Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều lệ công ty
Không phải cứ có quyền bãi nhiệm là được bãi nhiệm theo bất kỳ cách nào. Căn cứ theo Điều 82 Luật Doanh nghiệp 2020, chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải gắn với tiêu chuẩn và điều kiện luật định; do đó, doanh nghiệp muốn thay đổi nhân sự quản lý phải chứng minh được căn cứ pháp lý rõ ràng hoặc căn cứ trong Điều lệ công ty. Nếu công ty viện dẫn lý do không còn đủ điều kiện nhưng không chứng minh được, quyết định bãi nhiệm rất dễ bị xem là tùy tiện.
Điều lệ công ty là tài liệu then chốt để xác định thế nào là “sai luật” trong từng vụ việc. Nhiều tranh chấp không phát sinh vì Luật Doanh nghiệp thiếu quy định mà vì Điều lệ quy định rõ về trình tự họp, tỷ lệ biểu quyết, thẩm quyền ký nghị quyết hoặc điều kiện miễn nhiệm, bãi nhiệm nhưng công ty không tuân thủ. Khi đó, người bị bãi nhiệm có cơ sở vững để yêu cầu xem xét hiệu lực nghị quyết và trách nhiệm bồi thường.
>>> Xem thêm: Phân biệt các thủ tục bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người quản lý doanh nghiệp
Phân định tính chất tranh chấp: Tranh chấp lao động hay tranh chấp kinh doanh thương mại?
Chọn sai loại tranh chấp sẽ kéo theo sai thẩm quyền giải quyết, sai hồ sơ và sai chiến lược tố tụng. Với cùng một quyết định bãi nhiệm, nếu Giám đốc chỉ là người điều hành được thuê, có hợp đồng lao động và có các yêu cầu giải quyết tranh chấp về tiền lương, về quan hệ lao động thì hướng xử lý sẽ nghiêng về tranh chấp lao động theo điều 32 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015. Ngược lại, nếu Giám đốc là thành viên góp vốn hoặc cổ đông và có các yêu cầu tranh chấp về quyết định bãi nhiệm, quyền quản lý, các quyền lợi khác liên quan đến nội bộ doanh nghiệp thì sẽ được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại theo Điều 30 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, cụ thể:
Trường hợp Giám đốc là người làm thuê bị bãi nhiệm trái luật
Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về xử lý kỷ luật sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong thực tế, một vụ “bãi nhiệm Giám đốc” có thể là tranh chấp lao động nếu người giữ chức danh này làm việc theo hợp đồng và bị công ty chấm dứt quan hệ làm việc trái pháp luật.
Các dấu hiệu thường gặp của tranh chấp lao động gồm:
- Có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thuê Giám đốc thể hiện rõ thời hạn, tiền lương, quyền và nghĩa vụ.
- Có hưởng lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo cơ chế người lao động.
- Có sự điều hành, kiểm soát, đánh giá hoặc xử lý kỷ luật từ phía công ty.
- Quyết định bãi nhiệm đồng thời làm chấm dứt việc làm, ngừng trả lương hoặc cắt quyền điều hành thực tế.
- Công ty không tuân thủ căn cứ chấm dứt hợp đồng hoặc thời hạn báo trước theo pháp luật lao động.
Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp về sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không bắt buộc phải qua hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện. Nếu xác định đúng là tranh chấp lao động, Giám đốc có thể đi thẳng vào yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi mà không bị chậm nhịp tố tụng.
Tranh chấp giữa thành viên góp vốn, cổ đông với người điều hành doanh nghiệp
Khi Giám đốc đồng thời là thành viên góp vốn trong công ty TNHH hoặc là cổ đông trong công ty cổ phần, tranh chấp không chỉ xoay quanh việc có mất chức hay không. Lúc này, vụ việc thường gắn với quyền quản trị, quyền biểu quyết, hiệu lực của nghị quyết, quyền tiếp cận hồ sơ và quyền kiểm soát hoạt động doanh nghiệp. Căn cứ theo Khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Trong nhóm vụ việc này, yêu cầu tố tụng thường không dừng ở bồi thường tiền lương. Người khởi kiện có thể đồng thời yêu cầu hủy bỏ nghị quyết bãi nhiệm trái Điều lệ, xác định lại người có quyền điều hành hợp pháp, kiểm tra tư cách người đại diện theo pháp luật và ngăn việc thay đổi đăng ký doanh nghiệp khi hồ sơ nội bộ chưa hợp lệ. Đây là khác biệt cốt lõi với tranh chấp lao động thuần túy.
Quy trình từng bước giải quyết tranh chấp bãi nhiệm giám đốc sai luật hiệu quả
Một chiến lược xử lý hiệu quả không bắt đầu bằng đơn khởi kiện, mà bắt đầu bằng việc khóa chứng cứ và kiểm tra tính hợp pháp của quyết định nội bộ. Nếu bỏ qua bước này, người bị bãi nhiệm dễ rơi vào thế bất lợi vì công ty đã hoàn tất thay đổi người đại diện, khóa quyền truy cập hồ sơ hoặc hợp thức hóa biên bản họp. Vì vậy, cần xử lý theo hai nhánh song song: rà soát tính hợp pháp của nghị quyết và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tại đúng Tòa án có thẩm quyền. Hai nhánh này phải đi cùng nhau để vừa bảo toàn chứng cứ vừa giữ thế chủ động tố tụng.
Kiểm tra trình tự triệu tập và ban hành nghị quyết và quyết định bãi nhiệm Giám đốc
Nhiều nghị quyết bãi nhiệm bị tranh chấp không phải vì nội dung quá phức tạp, mà vì công ty vi phạm các lỗi thủ tục rất cơ bản. Khi Điều lệ quy định chặt về triệu tập họp, gửi tài liệu, điều kiện tiến hành hoặc tỷ lệ biểu quyết, chỉ cần một mắt xích sai là hiệu lực nghị quyết đã bị đặt dấu hỏi. Người bị bãi nhiệm cần kiểm tra toàn bộ chuỗi hình thành nghị quyết thay vì chỉ nhìn vào văn bản cuối cùng.
- Kiểm tra chủ thể triệu tập họp để xác định người ký thông báo họp có đúng thẩm quyền theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ hay không.
- Đối chiếu thời hạn và cách thức gửi thông báo họp với Điều lệ công ty, nhất là thời điểm gửi, danh sách người nhận và tài liệu kèm theo.
- Rà soát điều kiện tiến hành cuộc họp để xác định cuộc họp có đủ thành phần, đủ tỷ lệ tham dự hợp lệ hay không.
- Kiểm tra tỷ lệ biểu quyết thông qua nghị quyết vì nhiều quyết định bị vô hiệu do không đạt tỷ lệ biểu quyết theo Điều lệ.
- Đối chiếu biên bản họp với nghị quyết bãi nhiệm để phát hiện mâu thuẫn về thời gian, nội dung, người ký, số phiếu và kết luận cuộc họp.
- Bảo toàn chứng cứ kỹ thuật số và hồ sơ gốc như email triệu tập, tin nhắn, bản scan chữ ký, bản ghi họp và sổ đăng ký cổ đông hoặc thành viên.
Khi phát hiện lỗi thủ tục, người bị bãi nhiệm nên xác lập ngay bộ hồ sơ chứng cứ và gửi văn bản phản đối đến công ty. Việc phản đối sớm không thay thế khởi kiện, nhưng giúp chứng minh rằng người bị bãi nhiệm không mặc nhiên chấp nhận nghị quyết và đã có hành động bảo vệ quyền lợi từ thời điểm phát sinh tranh chấp.
Thủ tục kiện công ty vì bãi nhiệm Giám đốc sai quy định trong Điều lệ
Sau bước rà soát nội bộ, việc khởi kiện phải được thiết kế theo đúng loại tranh chấp. Nếu là tranh chấp kinh doanh thương mại, cần xác định Tòa án có thẩm quyền theo Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 như dữ liệu đầu vào yêu cầu áp dụng. Nếu là tranh chấp lao động, nguyên đơn còn có quyền lựa chọn Tòa án nơi mình cư trú hoặc làm việc đối với yêu cầu về tiền lương, trợ cấp, bồi thường thiệt hại theo Điểm đ Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Hồ sơ khởi kiện nên được chuẩn bị theo hướng chứng minh đồng thời căn cứ pháp lý và thiệt hại thực tế, gồm:
- Đơn khởi kiện theo mẫu số 23 ban hành đính kèm Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP.
- Điều lệ công ty, quy chế quản trị nội bộ và tài liệu thể hiện thẩm quyền bãi nhiệm.
- Biên bản họp, nghị quyết bãi nhiệm, thông báo họp, danh sách tham dự và tài liệu biểu quyết.
- Hợp đồng thuê Giám đốc hoặc hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, quyết định lương và chứng từ đóng bảo hiểm (nếu có).
- Tài liệu chứng minh thiệt hại như bảng lương, sao kê thanh toán, văn bản thu hồi quyền điều hành, khóa quyền truy cập hoặc thay đổi chức danh.
- Tài liệu về đăng ký doanh nghiệp nếu công ty đã thay đổi người đại diện theo pháp luật sau quyết định bãi nhiệm (nếu có).
Nếu vụ việc mang tính lao động, thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động là 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp theo Khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019. Việc chậm khởi kiện thường không làm mất ngay toàn bộ quyền lợi, nhưng sẽ làm suy yếu khả năng giữ hiện trạng và tăng nguy cơ công ty hợp thức hóa các bước nội bộ tiếp theo.
Quyền lợi và mức bồi thường khi bị miễn nhiệm chức danh quản lý sai luật
Việc đầu tiên trong yêu cầu về quyền lợi dù là tranh chấp lao động hay tranh chấp kinh doanh thương mại thì đều là phải hủy các nghị quyết, quyết định miễn nhiệm chức danh quản lý.
Sau đó, tùy thuộc vào tranh chấp nào mà người quản lý có thể yêu cầu các quyền lợi tương ứng.
Cụ thể, đối với tranh chấp kinh doanh thương mại thì có thể buộc những người ban hành văn bản trái luật trên bồi thường thiệt hại (nếu có) cho công ty, cho cá nhân người quản lý (vật chất và tinh thần).
Còn đối với tranh chấp lao động, căn cứ theo Bộ luật Lao động 2019, quyền lợi tài chính của người bị chấm dứt trái luật được thiết kế theo nhiều lớp, không chỉ có một khoản bồi thường cố định. Vì vậy, chiến lược đòi quyền lợi phải đi theo từng nhóm nghĩa vụ cụ thể của doanh nghiệp.
Nghĩa vụ thanh toán tiền lương, bảo hiểm và trợ cấp thôi việc
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên phải thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; một số trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Nếu công ty bãi nhiệm Giám đốc theo cách làm chấm dứt quan hệ lao động, nghĩa vụ thanh toán này phát sinh ngay, không phụ thuộc vào việc công ty có đang tranh cãi về quyết định nhân sự hay không.
Khoản phải thanh toán không chỉ gồm tiền lương còn thiếu. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, nếu công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì còn phải trả tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho thời gian người lao động không được làm việc. Trường hợp phát sinh trợ cấp thôi việc, tiền lương dùng để tính trợ cấp là mức bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc theo Khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
Mức bồi thường thiệt hại khi bị miễn nhiệm chức danh quản lý sai luật
Khoản bồi thường không dừng ở việc hoàn trả quyền lợi bị giữ lại. Căn cứ theo Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, mức bồi thường được xác định theo từng kịch bản xử lý quan hệ lao động sau khi việc chấm dứt bị xác định là trái pháp luật.
| Tình huống | Khoản công ty phải trả | Căn cứ pháp lý |
| Giám đốc được nhận lại làm việc | Trả lương, đóng bảo hiểm cho thời gian không được làm việc và trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng | Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 |
| Giám đốc không muốn quay lại làm việc | Ngoài các khoản ở Khoản 1, công ty còn phải trả trợ cấp thôi việc để chấm dứt hợp đồng | Khoản 2 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 |
| Công ty không muốn nhận lại và Giám đốc đồng ý | Ngoài các khoản bắt buộc và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương | Khoản 3 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 |
Trong nhiều vụ việc, tranh chấp lớn nhất không nằm ở con số “ít nhất 02 tháng tiền lương”, mà nằm ở việc doanh nghiệp cố tách chức danh quản lý khỏi quan hệ lao động để né trách nhiệm. Vì vậy, người bị bãi nhiệm cần chứng minh rõ hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm và sự điều hành thực tế của công ty để giữ được đầy đủ các lớp quyền lợi này.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền lợi của Giám đốc
Nếu chỉ chờ bản án có hiệu lực mới xử lý, người bị bãi nhiệm có thể mất toàn bộ lợi thế thực tế. Công ty có thể kịp thay đổi người đại diện theo pháp luật, thu hồi quyền truy cập hệ thống, chuyển giao hồ sơ hoặc ký các giao dịch mới làm sâu thêm thiệt hại. Vì vậy, biện pháp khẩn cấp tạm thời là công cụ để giữ nguyên hiện trạng khi vụ án đang được giải quyết. Căn cứ theo Khoản 5 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thể áp dụng biện pháp tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
Điều 119 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã nêu rõ trường hợp áp dụng đối với việc “tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động” khi việc giải quyết vụ án liên quan đến trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đó theo pháp luật lao động. Với vụ việc Giám đốc làm thuê bị bãi nhiệm trái luật, đây là công cụ trực tiếp để ngăn quyết định sai tiếp tục phát sinh hậu quả.
Ngay khi nộp đơn khởi kiện, người bị bãi nhiệm nên thực hiện đồng thời các bước sau:
- Nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm tài liệu chứng minh nguy cơ thiệt hại tức thời.
- Gửi văn bản đến Phòng Đăng ký kinh doanh đề nghị lưu ý tranh chấp, tránh việc thay đổi đăng ký doanh nghiệp dựa trên hồ sơ nội bộ đang bị khiếu kiện.
- Yêu cầu công ty bảo toàn biên bản họp, dữ liệu quản trị, email triệu tập và hồ sơ ký nghị quyết để tránh bị sửa đổi hoặc tiêu hủy.
Đây không phải bước phụ. Trong nhiều vụ tranh chấp bãi nhiệm giám đốc sai luật, việc giữ được hiện trạng trong 30 ngày đầu thường quyết định phần lớn hiệu quả của toàn bộ quá trình tố tụng sau đó.
Câu hỏi thường gặp về tranh chấp bãi nhiệm Giám đốc sai luật
Việc nắm bắt các quy định bổ trợ giúp cá nhân và tổ chức phản ứng nhanh chóng, chính xác trước những sai phạm trong quản trị nhân sự cấp cao. Những nội dung dưới đây sẽ giải quyết các vướng mắc về thủ tục tố tụng, quyền lợi tài chính và cách thức bảo toàn chứng cứ khi đối diện với quyết định bãi nhiệm không đúng quy định. Các câu hỏi này tập trung vào các tình huống thực tế nhằm giúp người bị bãi nhiệm giành lại thế chủ động trong cuộc chiến pháp lý đầy cam go.
Hội đồng quản trị có quyền bãi nhiệm Giám đốc mà không cần lý do hay không?
Hội đồng quản trị có thẩm quyền bãi nhiệm Giám đốc nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện mà phải dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng hoặc quy định tại Điều lệ công ty. Nếu Giám đốc là người làm thuê theo hợp đồng lao động, việc bãi nhiệm không có lý do chính đáng hoặc vi phạm quy định về căn cứ chấm dứt hợp đồng tại các Điều 35, 36, 37 của Bộ luật Lao động 2019 sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
1. Hội đồng quản trị có quyền bãi nhiệm Giám đốc mà không cần lý do hay không?
Hội đồng quản trị có thẩm quyền bãi nhiệm Giám đốc nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện mà phải dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng hoặc quy định tại Điều lệ công ty. Nếu Giám đốc là người làm thuê theo hợp đồng lao động, việc bãi nhiệm không có lý do chính đáng hoặc vi phạm quy định về căn cứ chấm dứt hợp đồng tại các Điều 35, 36, 37 của Bộ luật Lao động 2019 sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
2. Tôi bị bãi nhiệm chức Tổng giám đốc khi đang nghỉ phép có đúng luật doanh nghiệp mới nhất không?
Hành vi bãi nhiệm này có dấu hiệu vi phạm pháp luật lao động nếu việc bãi nhiệm đồng thời làm chấm dứt quan hệ lao động trong thời gian người lao động đang nghỉ phép hằng năm. Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người bị bãi nhiệm có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm đình chỉ thi hành quyết định bãi nhiệm nếu việc chấm dứt này thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.
3. Công ty cổ phần bãi nhiệm Giám đốc nhưng không thay đổi người đại diện pháp luật trên giấy phép kinh doanh thì xử lý thế nào?
Người bị bãi nhiệm nên gửi văn bản thông báo tranh chấp đến Phòng Đăng ký kinh doanh để đề nghị lưu ý, tránh việc công ty tự ý thay đổi đăng ký doanh nghiệp dựa trên hồ sơ nội bộ đang bị khiếu kiện. Theo Khoản 2 Điều 43 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, giấy đề nghị thay đổi người đại diện phải do đúng chủ thể có thẩm quyền ký; nếu hồ sơ do sai chủ thể thực hiện, thủ tục đăng ký doanh nghiệp sẽ bị coi là không hợp lệ và phát sinh tranh chấp về tính hợp pháp của người đại diện mới.
4. Mức bồi thường thiệt hại khi bị miễn nhiệm chức danh quản lý trái luật được tính như thế nào?
Mức bồi thường bao gồm tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày không được làm việc và thêm một khoản ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Ngoài ra, nếu không muốn quay lại làm việc, công ty còn phải trả trợ cấp thôi việc với mức tính dựa trên bình quân tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc theo Khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
5. Trường hợp Giám đốc là người làm thuê bị đuổi việc ngay lập tức không báo trước thì thời hạn báo trước là bao lâu?
Đối với người quản lý doanh nghiệp, thời hạn báo trước phải thực hiện ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn hoặc có thời hạn từ 12 tháng trở lên theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Nếu hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng, thời gian báo trước phải ít nhất bằng 1/4 thời hạn của hợp đồng đó.
6. Tôi phải làm gì khi bị công ty thu hồi con dấu và khóa cửa phòng làm việc sau khi bãi nhiệm sai luật?
Người bị bãi nhiệm cần thực hiện bảo toàn chứng cứ bằng cách lập biên bản ghi nhận sự việc, lưu giữ các văn bản thu hồi quyền điều hành hoặc tin nhắn khóa quyền truy cập. Đồng thời, cần nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Khoản 5 Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để giữ nguyên hiện trạng, ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại thêm khi vụ án đang được giải quyết.
7. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp bãi nhiệm Giám đốc là bao lâu?
Nếu xác định là tranh chấp lao động, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo Khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019. Việc chậm trễ khởi kiện sẽ làm suy yếu khả năng giữ nguyên hiện trạng pháp lý và tạo điều kiện cho công ty hợp thức hóa các sai phạm nội bộ.
Luật sư Luật Long Phan PMT hỗ trợ Dịch vụ Luật sư tư vấn tranh chấp nội bộ doanh nghiệp
Tranh chấp bãi nhiệm giám đốc sai luật thường đan xen giữa Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Lao động, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chiến lược tố tụng khẩn cấp. Chỉ cần đánh giá sai thẩm quyền, sai loại tranh chấp hoặc nộp thiếu chứng cứ, người bị bãi nhiệm sẽ mất lợi thế ngay từ đầu. Với các vụ việc này, sử dụng dịch vụ luật sư tranh chấp nội bộ doanh nghiệp của Luật Long Phan PMT là giải pháp an toàn để khóa rủi ro và tối ưu hóa yêu cầu bảo vệ quyền lợi.
- Rà soát Điều lệ công ty, quy chế quản trị, biên bản họp và nghị quyết bãi nhiệm để xác định chính xác điểm vi phạm về thẩm quyền, triệu tập họp, tỷ lệ biểu quyết và hiệu lực văn bản.
- Phân loại vụ việc thành tranh chấp lao động hoặc tranh chấp kinh doanh thương mại để xây dựng đúng căn cứ khởi kiện, đúng thẩm quyền Tòa án và đúng nhóm yêu cầu cần nêu.
- Soạn đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, văn bản phản đối nghị quyết và văn bản gửi Phòng Đăng ký kinh doanh nhằm giữ nguyên hiện trạng pháp lý của doanh nghiệp.
- Thu thập, hệ thống hóa và đối chiếu chứng cứ từ hợp đồng thuê Giám đốc, hợp đồng lao động, bảng lương, bảo hiểm, email triệu tập họp và hồ sơ thay đổi đăng ký doanh nghiệp để tạo chuỗi chứng minh hoàn chỉnh.
- Đại diện làm việc với công ty, cổ đông, thành viên góp vốn và cơ quan có thẩm quyền để đàm phán phương án hủy nghị quyết, phục hồi chức danh hoặc chốt mức bồi thường phù hợp.
- Tham gia tranh tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại theo phạm vi vụ việc để yêu cầu hủy bỏ nghị quyết bãi nhiệm trái luật, yêu cầu nhận lại làm việc hoặc buộc doanh nghiệp thanh toán toàn bộ khoản bồi thường phát sinh.

Kết luận
Khi phát sinh tranh chấp bãi nhiệm giám đốc sai luật, điều cần làm không phải chỉ là phản đối quyết định nội bộ, mà là kiểm tra ngay thẩm quyền ban hành, trình tự họp, căn cứ Điều lệ, hợp đồng thuê hoặc hợp đồng lao động để xác định đúng hướng yêu cầu hủy nghị quyết, đòi bồi thường hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chậm rà soát hồ sơ và chậm khởi kiện có thể khiến doanh nghiệp kịp thay đổi người đại diện theo pháp luật, hợp thức hóa chứng cứ và làm quyền lợi của Quý khách hàng bị thu hẹp đáng kể. Để kiểm soát rủi ro này bằng chiến lược pháp lý chính xác và hồ sơ tố tụng chặt chẽ, Quý khách hàng nên liên hệ ngay Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được luật sư trực tiếp đánh giá và triển khai phương án bảo vệ phù hợp.
Tags: bãi nhiệm giám đốc sai luật, Biện pháp khẩn cấp tạm thời, bồi thường bãi nhiệm giám đốc, kiện bãi nhiệm giám đốc, rà soát điều lệ công ty, thẩm quyền bãi nhiệm giám đốc, Tranh chấp nội bộ doanh nghiệp

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.