Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá mới nhất 2026

Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá là rào cản pháp lý bắt buộc để bảo vệ ngành sản xuất nội địa trước cạnh tranh không lành mạnh. Theo quy định, cơ quan điều tra phải chứng minh hàng hóa nhập khẩu có biên độ phá giá cụ thể. Đồng thời, việc nhập khẩu này phải gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp trong nước. Yếu tố quyết định cuối cùng là mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hai vấn đề trên. Chỉ khi thỏa mãn đủ ba yếu tố này, biện pháp phòng vệ mới được kích hoạt. Để giúp Quý khách hiểu rõ quy định mới nhất, Luật Long Phan PMT xin phân tích cụ thể trong bài viết sau. 

Các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

Nội Dung Bài Viết

Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá mới nhất hiện nay

Để bảo vệ thị trường nội địa, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các khuôn khổ pháp lý quốc tế và trong nước. Cụ thể, căn cứ theo Hiệp định về Chống bán phá giá của WTO (Hiệp định 261/WTO/VB) – Thực thi Điều VI của GATT 1994, và nội dung được luật hóa tại Khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương 2017, cơ quan có thẩm quyền chỉ được phép áp dụng biện pháp phòng vệ này khi hàng hóa nhập khẩu thỏa mãn đồng thời 3 điều kiện dưới đây:

  • Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể;
  • Có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước;
  • Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu và thiệt hại/đe dọa thiệt hại/ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể

Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường của hàng hóa đó tại thị trường nước xuất khẩu, thị trường nước thứ ba phù hợp hoặc mức giá do cơ quan điều tra xác định theo phương pháp luật định. Việc xác định hành vi bán phá giá phải được cơ quan điều tra tiến hành điều tra và xác định cụ thể biên độ bán phá giá theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu khi hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể. Pháp luật quy định ngoại lệ nhằm tránh lạm dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Theo khoản 2 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu có biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu vào Việt Nam. Bởi mức chênh lệch này được xem là không đáng kể và không đủ gây ra thiệt hại thực tế cho ngành sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 còn quy định trường hợp loại trừ theo ngưỡng khối lượng hoặc số lượng nhập khẩu, theo đó: 

  • Nếu hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ một quốc gia mà khối lượng hoặc số lượng không vượt quá 3% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam, và 
  • Tổng cộng các quốc gia đáp ứng điều kiện này không vượt quá 7%, thì các quốc gia đó được loại khỏi phạm vi áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Như vậy, không phải mọi trường hợp giá nhập khẩu thấp đều bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá, mà việc áp dụng phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện về biên độ bán phá giá, mức độ thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, đồng thời bảo đảm các ngoại lệ bảo vệ thương mại công bằng theo đúng tinh thần của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017.

>>> Xem thêm: Bán phá giá là gì? Giảm giá như thế nào là không bán phá giá

Ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể

Theo điểm b khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, ngành sản xuất trong nước phải rơi vào một trong các trường hợp sau:

  • Bị thiệt hại đáng kể;
  • Bị đe dọa gây thiệt hại đáng kể; hoặc
  • Bị ngăn cản sự hình thành do việc nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá gây ra.

Khái niệm thiệt hại đáng kể được đánh giá trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế – tài chính của ngành sản xuất trong nước theo quy định pháp luật. Cụ thể, theo các quy định hướng dẫn của Nghị định số 86/2025/NĐ-CP (quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại). Theo đó, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Nghị định này quy định cụ thể:

  • Xác định thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước
    • Mức độ gia tăng về khối lượng, số lượng hàng hóa nhập khẩu bị điều tra, xét cả phương diện tuyệt đối và tương đối, trong tương quan với:
      • Khối lượng, số lượng hàng hóa tương tự sản xuất trong nước; hoặc
      • Mức tiêu dùng hàng hóa tương tự trên thị trường nội địa.
    • Tác động về giá, bao gồm việc hàng hóa nhập khẩu gây ra hiện tượng:
      • Ép giá bán hàng hóa sản xuất trong nước xuống mức thấp bất hợp lý;
      • Kìm hãm không cho giá bán trong nước tăng tương xứng với chi phí và điều kiện thị trường.
    • Ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sản xuất – kinh doanh của ngành sản xuất trong nước, được thể hiện thông qua sự suy giảm thực tế hoặc tiềm ẩn của một hoặc nhiều chỉ tiêu sau:
      • Doanh thu, sản lượng, lượng bán hàng, lợi nhuận, thị phần;
      • Công suất, năng suất, khả năng đầu tư, khả năng huy động vốn;
      • Dòng tiền, mức tồn kho, lao động, tiền lương;
      • Các yếu tố tác động đến giá bán trong nước;
      • Quy mô biên độ bán phá giá hoặc mức trợ cấp;
      • Các ảnh hưởng bất lợi thực tế và tiềm ẩn khác.
    • Các yếu tố tác động liên quan khác có ảnh hưởng đến ngành sản xuất trong nước trong bối cảnh cụ thể của vụ việc.
  • Xác định đe dọa gây thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất trong nước
    • Xu hướng gia tăng khối lượng, số lượng hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá hoặc được trợ cấp, xét cả về tuyệt đối và tương đối so với:
      • Sản lượng hàng hóa tương tự sản xuất trong nước; hoặc
      • Mức tiêu dùng trong nước.
    • Năng lực sản xuất và xuất khẩu của nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài, bao gồm:
      • Công suất hiện có;
      • Khả năng mở rộng công suất đáng kể trong tương lai gần, dẫn đến nguy cơ gia tăng mạnh hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào Việt Nam.
    • Tác động về giá trong tương lai, thể hiện ở việc hàng hóa nhập khẩu:
      • Có khả năng làm giảm đáng kể giá bán trong nước;
      • Kìm hãm giá bán ở mức thấp;
      • Ngăn cản việc tăng giá hợp lý của hàng hóa sản xuất trong nước, qua đó thúc đẩy nhu cầu chuyển dịch sang hàng nhập khẩu.
    • Số liệu tồn kho của hàng hóa bị điều tra, phản ánh khả năng tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Việt Nam.
    • Các yếu tố liên quan khác phản ánh nguy cơ thiệt hại trong tương lai.
  • Xác định việc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. 
    • Các yếu tố phản ánh tình trạng hình thành của ngành sản xuất trong nước, bao gồm:
      • Đặc điểm và tính chất của ngành sản xuất;
      • Thời gian hoạt động;
      • Quy mô hoạt động so với toàn bộ thị trường;
      • Điểm hòa vốn tài chính hợp lý;
      • Việc ngành đang là ngành sản xuất mới hay là sự mở rộng của ngành hiện hữu;
      • Các yếu tố liên quan khác.
    • Các yếu tố phản ánh mức độ ngăn cản, bao gồm:
      • Kế hoạch đầu tư, phát triển của ngành sản xuất trong nước;
      • Công suất và sản lượng sản xuất dự kiến;
      • Khối lượng, số lượng bán hàng trong nước;
      • Thị phần, doanh thu, lợi nhuận;
      • Giá bán hàng hóa tương tự trong nước;
      • Tình hình xuất khẩu hàng hóa tương tự;
      • Tình hình nhập khẩu hàng hóa bị điều tra;
      • Mức tồn kho của hàng hóa bị điều tra;
      • Nhân công, tiền lương và các chỉ tiêu lao động khác;
      • Các yếu tố liên quan khác.

Phải có mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại

Bên cạnh việc chứng minh thiệt hại, điều kiện mang tính quyết định để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là phải xác lập được mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa:

  • Hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017); và
  • Thiệt hại đáng kể, nguy cơ gây thiệt hại hoặc việc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

Theo nguyên tắc được ghi nhận tại điểm c khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, cơ quan điều tra không được quy kết thiệt hại cho hành vi bán phá giá nếu thiệt hại đó xuất phát từ các yếu tố khác không liên quan trực tiếp, như: suy giảm nhu cầu thị trường, thay đổi thị hiếu tiêu dùng, tiến bộ công nghệ, cạnh tranh nội bộ trong nước hoặc chính sách quản lý kinh tế vĩ mô.

Hồ sơ đề nghị điều tra và áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá tạm thời
Hồ sơ đề nghị điều tra và áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá tạm thời

Điều kiện về khối lượng hàng hóa nhập khẩu theo xuất xứ quốc gia

Bên cạnh các điều kiện về hành vi bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, pháp luật Việt Nam còn đặt ra ngưỡng tối thiểu về khối lượng, số lượng hàng hóa nhập khẩu theo xuất xứ quốc gia nhằm bảo đảm biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với các trường hợp có tác động thực sự đáng kể đến thị trường trong nước.

Theo khoản 3 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ một quốc gia mà khối lượng hoặc số lượng không vượt quá 3% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam, thì hàng hóa có xuất xứ từ quốc gia đó được loại khỏi phạm vi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, với điều kiện tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa nhập khẩu từ tất cả các quốc gia đáp ứng ngưỡng 3% này không vượt quá 7% tổng lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam.

Điều kiện về quy trình xử lý trong thủ tục điều tra

  • Điều kiện về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ yêu cầu: Việc xem xét tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ yêu cầu điều tra được thực hiện theo Điều 20 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP. Theo đó:
    • Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan điều tra phòng vệ thương mại có trách nhiệm:
      • Thông báo bằng văn bản về việc hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ; hoặc
      • Yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện nếu hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu.
    • Trường hợp hồ sơ cần bổ sung, thời hạn để hoàn thiện là 30 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra ban hành thông báo yêu cầu bổ sung (khoản 2 Điều 20).
      • Nếu việc bổ sung được thực hiện đầy đủ, việc xem xét tính hợp lệ của hồ sơ được tính lại từ ngày Cơ quan điều tra nhận đủ thông tin bổ sung (khoản 3 Điều 20).
      • Trường hợp không bổ sung hoặc bổ sung không đầy đủ, Cơ quan điều tra trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do bằng văn bản (khoản 4 Điều 20).
  • Điều kiện về thẩm định hồ sơ và quyết định điều tra: Sau khi hồ sơ được xác định là đầy đủ, hợp lệ, việc thẩm định hồ sơ và ban hành quyết định điều tra được thực hiện theo Điều 36 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và khoản 2 Điều 70 Luật Quản lý ngoại thương 2017. Theo đó:
    • Cơ quan điều tra tiến hành thẩm định nội dung hồ sơ, bao gồm:
      • Tư cách đại diện hợp pháp của tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ;
      • Các chứng cứ sơ bộ về hành vi bán phá giá hoặc trợ cấp;
      • Dấu hiệu thiệt hại đáng kể, đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành ngành sản xuất trong nước;
      • Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bị điều tra và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.
    • Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày có thông báo hồ sơ hợp lệ, căn cứ kiến nghị của Cơ quan điều tra, Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định:
      • Khởi xướng điều tra; hoặc
      • Không tiến hành điều tra.
    • Trường hợp đặc biệt, thời hạn ban hành quyết định có thể được gia hạn một lần nhưng không quá 30 ngày (khoản 2 Điều 70).
  • Điều kiện về tư cách đại diện hợp pháp của ngành sản xuất trong nước: Một hồ sơ yêu cầu chỉ được xem xét điều tra khi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ được coi là đại diện hợp pháp của ngành sản xuất trong nước theo khoản 2 Điều 79 Luật Quản lý ngoại thương 2017. Theo đó, phải đồng thời đáp ứng hai điều kiện:
    • Điều kiện về tương quan:
      • Tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự do các nhà sản xuất trong nước nộp hồ sơ và 
      • Ủng hộ yêu cầu phải lớn hơn tổng khối lượng hoặc số lượng của các nhà sản xuất phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp.
    • Điều kiện về tỷ lệ đại diện tối thiểu:
      • Tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự do các nhà sản xuất trong nước nộp hồ sơ và 
      • Ủng hộ yêu cầu phải chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự của toàn ngành sản xuất trong nước.
    • Nếu không đáp ứng điều kiện này, hồ sơ sẽ không đủ căn cứ pháp lý để khởi xướng điều tra.

>>> Xem thêm: Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Lưu ý về thời gian và mức độ áp dụng thuế chống bán phá giá

Theo quy định của pháp luật, thuế hoặc chế tài chống bán phá giá được áp dụng trong thời hạn tối đa 05 năm kể từ ngày quyết định áp dụng có hiệu lực và có thể được gia hạn khi đáp ứng các điều kiện luật định. Cụ thể, trường hợp kết quả rà soát cho thấy việc chấm dứt biện pháp có khả năng dẫn đến tiếp diễn hoặc tái diễn hành vi bán phá giá và thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước theo điểm a khoản 3 Điều 81 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017. 

Đồng thời, việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải tuân thủ nguyên tắc cần thiết, hợp lý và tương xứng. Thủ tục này chỉ áp dụng trong phạm vi và mức độ đủ để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra, không được gây phương hại không cần thiết đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước. Ngoài ra, việc áp dụng cũng phải phù hợp với nguyên tắc chung về áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại quy định tại Điều 5 Luật Quản lý ngoại thương 2017.

Hướng xử lý khi bị áp dụng biện pháp chống bán giá trái luật

Trường hợp tổ chức, cá nhân cho rằng quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá được ban hành trái quy định pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ thể bị ảnh hưởng có thể thực hiện các biện pháp pháp lý sau đây:

Hướng xử lý trong nước

Khi cho rằng hành vi của mình bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá trái luật, đối với biện pháp trong nước, tổ chức cá nhân có thể khiếu nại quyết định hành chính về áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.

Khiếu nại quyết định hành chính về áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại 2011, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật hoặc không phù hợp, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với lĩnh vực phòng vệ thương mại, quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành theo khoản 1 Điều 67 Luật Quản lý ngoại thương 2017. Đây là quyết định hành chính. Do đó người bị ảnh hưởng có quyền khiếu nại lần đầu đến chính cơ quan đã ban hành quyết định theo Điều 7 Luật Khiếu nại 2011; trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khiếu nại lần hai theo Điều 33 Luật Khiếu nại 2011.

Khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền

Vụ án hành chính phát sinh từ quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ngoại thương. Do đó, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Cụ thể, căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khi quyết định, hành vi đó bị cho là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Về thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ, căn cứ khoản 3 Điều 2 Luật số 85/2025/QH15, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong đó bao gồm quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương về áp dụng thuế chống bán phá giá. Theo đó, Tòa án nhân dân khu vực nơi người khởi kiện có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi làm việc sẽ có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp người khởi kiện không có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, thì thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính thuộc Tòa án nơi cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Hướng xử lý quốc tế

Trong trường hợp biện pháp chống bán phá giá do Việt Nam áp dụng bị cho là trái với các cam kết quốc tế, doanh nghiệp bị ảnh hưởng có thể xem xét kênh xử lý ở cấp độ quốc tế, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoặc các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên.

Kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới

Điều 17 Hiệp định Thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại GATT (1994) của WTO quy định cơ chế tham vấn và giải quyết tranh chấp đối với các biện pháp chống bán phá giá giữa các Thành viên WTO. 

  • Theo khoản 17.1, việc tham vấn và giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hiệp định này được thực hiện theo Bản ghi nhớ về Giải quyết tranh chấp của WTO (DSU), trừ khi Hiệp định có quy định đặc thù khác.
  • Theo khoản 17.2, các Thành viên WTO có nghĩa vụ xem xét thiện chí và dành cơ hội đầy đủ để tiến hành tham vấn đối với những vấn đề liên quan đến việc thực thi Hiệp định Chống bán phá giá khi có yêu cầu từ Thành viên khác.
  • Trên cơ sở đó, khoản 17.3 cho phép một Thành viên, khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo Hiệp định bị mất đi, suy giảm hoặc bị cản trở do biện pháp của Thành viên khác, được gửi yêu cầu tham vấn bằng văn bản nhằm tìm kiếm một giải pháp thỏa thuận giữa các bên.
  • Trường hợp tham vấn không đạt được kết quả, và cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu đã áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc chấp nhận cam kết về giá, thì theo khoản 17.4, Thành viên khiếu nại có quyền đưa vụ việc ra Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO (DSB).
  • Ngoài ra, nếu biện pháp tạm thời được áp dụng gây ảnh hưởng đáng kể và bị cho là trái với khoản 1 Điều 7 Hiệp định, Thành viên bị ảnh hưởng cũng có thể khởi kiện ngay tại DSB.
  • Theo khoản 17.5, khi có yêu cầu hợp lệ, DSB sẽ thành lập Ban hội thẩm để xem xét vụ việc, trên cơ sở: 
    • Bản đệ trình của Thành viên khiếu nại chứng minh việc mất hoặc suy giảm lợi ích theo Hiệp định; và 
    • Các thông tin, dữ liệu thực tế được thu thập phù hợp với thủ tục điều tra trong nước của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu.
  • Theo khoản 17.6 quy định tiêu chuẩn xem xét của Ban hội thẩm mang tính kiềm chế nhất định: Ban hội thẩm chỉ đánh giá việc thu thập và đánh giá chứng cứ có khách quan, công bằng hay không và không thay thế kết luận của cơ quan điều tra quốc gia nếu kết luận đó dựa trên một cách giải thích hợp lý các quy định của Hiệp định, phù hợp với tập quán giải thích luật quốc tế.
  • Theo khoản 17.7, mọi thông tin mật được cung cấp trong quá trình giải quyết tranh chấp phải được bảo mật tuyệt đối, trừ khi có sự chấp thuận của chủ thể cung cấp; trong trường hợp cần thiết, chỉ bản tóm tắt không mật mới được sử dụng theo đúng thủ tục.

Vận dụng FTA thế hệ mới

Vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, như CPTPP, EVFTA hoặc RCEP. Trong trường hợp biện pháp chống bán phá giá trái với các nghĩa vụ về minh bạch, thủ tục điều tra hoặc nguyên tắc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được quy định trong các hiệp định này. Quốc gia thành viên có thể yêu cầu tham vấn và giải quyết tranh chấp theo cơ chế FTA tương ứng. So với WTO, cơ chế tranh chấp trong FTA thường được đánh giá là linh hoạt hơn, thời gian xử lý nhanh hơn, đồng thời phù hợp với bối cảnh quan hệ thương mại song phương hoặc khu vực.

>>> Xem thêm:  Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Dịch vụ tư vấn áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong môi trường thương mại quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, làn sóng hàng hóa nhập khẩu giá rẻ ồ ạt có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, đe dọa sự ngành sản xuất trong nước. Luật Long Phan PMT cung cấp giải pháp pháp lý chiến lược hỗ trợ doanh nghiệp khởi xướng điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá để bảo vệ thị phần chính đáng thông qua các hạng mục công việc sau:

  • Tư vấn đánh giá khả năng khởi kiện:
    • Thu thập và phân tích dữ liệu nhập khẩu để so sánh giá xuất khẩu vào Việt Nam với giá trị thông thường tại nước xuất khẩu, từ đó xác định biên độ phá giá sơ bộ.
    • Đánh giá thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước thông qua các chỉ số kinh tế (sản lượng, thị phần, tồn kho, doanh thu…) để chứng minh mối quan hệ nhân quả.
    • Tư vấn xác định đúng mã HS và phạm vi sản phẩm bị điều tra để đảm bảo biện pháp thuế được áp dụng trúng đối tượng.
  • Soạn thảo Hồ sơ yêu cầu:
    • Trực tiếp soạn thảo Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với các lập luận pháp lý và kinh tế chặt chẽ, tuân thủ đúng biểu mẫu của Cục Phòng vệ thương mại.
    • Hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng hệ thống dữ liệu, chuẩn hóa số liệu kế toán để trả lời các Bản câu hỏi điều tra từ cơ quan điều tra.
    • Soạn thảo văn bản yêu cầu giữ bí mật thông tin kinh doanh trong quá trình nộp hồ sơ, tránh bị đối thủ cạnh tranh khai thác.
  • Đại diện tham gia tham vấn và thẩm tra tại chỗ:
    • Cử Luật sư và chuyên gia tham gia các phiên tham vấn công khai, trực tiếp tranh luận, đối đáp với luật sư của bên xuất khẩu nước ngoài để bảo vệ quan điểm về phá giá và thiệt hại.
    • Hỗ trợ pháp lý toàn diện trong quá trình đoàn điều tra tiến hành thẩm tra tại chỗ doanh nghiệp: chuẩn bị hồ sơ giải trình, chứng minh số liệu thực tế khớp với hồ sơ đã nộp.
Tư vấn rà soát định kỳ các biện pháp chống bán phá giá đang được áp dụng
Tư vấn rà soát định kỳ các biện pháp chống bán phá giá đang được áp dụng

Câu hỏi thường gặp (FAQs) về điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá là một công cụ phòng vệ thương mại quan trọng nhưng cũng rất phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về luật pháp quốc tế và nội luật. Dưới đây là giải đáp cho các câu hỏi thường gặp nhất giúp Quý khách nắm bắt các điều kiện cốt lõi.

Khi nào một mặt hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá tại Việt Nam?

Hàng hóa bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu của hàng hóa đó vào Việt Nam thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nước xuất khẩu. Điều này được hướng dẫn cụ thể tại  Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017. Cụ thể, giá trị thông thường thường là giá bán của hàng hóa đó tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nếu không có giá này, có thể dùng giá xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc giá tính toán (chi phí sản xuất + lợi nhuận hợp lý) để so sánh. Sự chênh lệch giữa hai mức giá này được gọi là biên độ bán phá giá.

Chỉ cần chứng minh hàng hóa bán giá thấp là có thể áp thuế chống bán phá giá ngay lập tức không?

Không. Giá thấp chỉ là một trong ba điều kiện cần. Theo khoản 1 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, để áp dụng biện pháp, cơ quan điều tra phải chứng minh đủ 3 yếu tố: (1) Có hành vi bán phá giá với biên độ cụ thể; (2) Có thiệt hại đáng kể (hoặc đe dọa gây thiệt hại) cho ngành sản xuất trong nước; và (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại đó. Nếu hàng hóa bán giá thấp nhưng ngành sản xuất trong nước vẫn tăng trưởng tốt, không bị thiệt hại gì thì không thể áp thuế.

Biên độ phá giá bao nhiêu thì được coi là không đáng kể và không bị áp thuế?

Nếu biên độ bán phá giá được xác định là dưới 2%, thì được coi là không đáng kể và sẽ không bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Theo khoản 2 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương 2017, đây là ngưỡng tối thiểu để đảm bảo không cản trở thương mại đối với những biến động giá nhỏ. Nếu kết quả điều tra cho thấy biên độ phá giá của một doanh nghiệp xuất khẩu chỉ là 1,5%, doanh nghiệp đó sẽ được loại trừ khỏi danh sách bị áp thuế.

Nếu lượng hàng nhập khẩu rất ít thì có bị điều tra chống bán phá giá không?

Không. Hàng hóa nhập khẩu từ một quốc gia sẽ được loại trừ khỏi biện pháp chống bán phá giá nếu lượng nhập khẩu từ quốc gia đó là không đáng kể. Cụ thể, không đáng kể nghĩa là khối lượng hàng hóa nhập khẩu từ một nước chiếm dưới 3% tổng lượng hàng hóa tương tự nhập khẩu vào Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tổng lượng nhập khẩu từ các nước có thị phần dưới 3% này cộng lại vượt quá 7%, thì các nước này vẫn có thể bị gộp chung vào để điều tra và áp thuế. ĐIều này được ghi nhận theo khoản 3 Điều 78 Luật Quản lý ngoại thương 2017

Doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để yêu cầu áp dụng thuế chống bán phá giá?

Các doanh nghiệp đại diện cho ngành sản xuất trong nước cần nộp Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá lên Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương). Hồ sơ phải bao gồm bằng chứng về hành vi bán phá giá, số liệu chứng minh thiệt hại (giảm doanh thu, lợi nhuận, thị phần, tồn kho tăng…) và mối liên hệ nhân quả. Đặc biệt, nhóm doanh nghiệp nộp đơn phải đáp ứng tỷ lệ đại diện hợp pháp (chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng của ngành sản xuất trong nước và được sự ủng hộ của các nhà sản xuất chiếm trên 50% tổng sản lượng của phần ủng hộ và phản đối cộng lại). Thủ tục này được quy định cụ thể tại Chương II Nghị định Số: 86/2025/NĐ-CP.

Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá là bao lâu?

Thời hạn áp dụng là không quá 05 năm kể từ ngày quyết định áp dụng chính thức có hiệu lực theo điểm a khoản 3 Điều 81 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017. Tuy nhiên, trước khi kết thúc thời hạn 05 năm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành rà soát cuối kỳ. Nếu kết quả rà soát cho thấy việc chấm dứt thuế có khả năng dẫn đến việc tái diễn hành vi bán phá giá và gây thiệt hại, Bộ Công Thương có thể quyết định gia hạn thêm thời gian áp dụng (thường là thêm 05 năm nữa).

Kết luận

Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá cần chứng minh về biên độ phá giá và thiệt hại thực tế đối với ngành sản xuất trong nước. Doanh nghiệp cần xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nhập khẩu và tổn thất kinh tế để hồ sơ được chấp thuận. Mọi sự thiếu sót về số liệu hay phân tích pháp lý đều có thể dẫn đến việc yêu cầu bị cơ quan điều tra bác bỏ. Luật Long Phan PMT hiện cung cấp các giải pháp chuyên sâu thông qua Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mạiDịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp để hỗ trợ quý khách. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết.

Tags: , , , ,

Luật sư Cộng sự Lê Ngọc Tuấn

Luật sư Lê Ngọc Tuấn –là một Luật sư dày dặn kinh nghiệm, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. Với sự hiểu biết sâu rộng và nhiều năm cống hiến trong ngành, ông đã từng đảm nhiệm vai trò pháp lý quan trọng tại nhiều công ty lớn như: Công ty TNHH Dịch vụ - Tư vấn - Đầu tư - Bất động sản Tiến Phát; Công ty TNHH Đầu tư – Xây dựng Du lịch Đại Cát; Công ty Luật TNHH MTV Hải Châu; Công ty Cổ phần Thẩm định giá và Tư vấn đầu tư Việt – Nhật, ... Và hiện đang là Luật sư Cộng sự tại Công ty Luật TNHH MTV Long Phan PMT. Chuyên môn của Luật sư Lê Ngọc Tuấn tập trung vào các lĩnh vực tư vấn pháp lý, thẩm định giá, đất đai và bất động sản. Với phong cách làm việc chuyên nghiệp và tâm huyết, ông đã hỗ trợ nhiều cá nhân và doanh nghiệp giải quyết các thủ tục pháp lý phức tạp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản. Chính khả năng xử lý tình huống linh hoạt và am hiểu về quy định pháp luật đã giúp ông mang lại sự an tâm và lợi ích tối đa cho khách hàng. Suốt quá trình hành nghề, Luật sư Lê Ngọc Tuấn đã xây dựng được uy tín lớn nhờ vào sự tận tâm và cam kết luôn giữ vững đạo đức nghề nghiệp. Ông hoạt động với triết lý làm việc “Tâm sáng - Lòng Trong - Vững chí,” luôn đặt giá trị công minh và chính trực lên hàng đầu. Đây cũng chính là nền tảng giúp ông định hướng rõ ràng trong mọi vụ việc, không ngừng phấn đấu để mang lại dịch vụ pháp lý minh bạch, chất lượng và tận tâm nhất cho từng khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87