Tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không?

Tại ngoại trong quá trình điều tra là tình huống nhiều bị can và gia đình quan tâm khi vụ án hình sự đang được thụ lý. Luật Long Phan PMT nhận được không ít câu hỏi từ khách hàng dạng: được tại ngoại rồi thì có thể đi làm, đi công tác, hay về quê bình thường không, hay vẫn còn bị hạn chế theo cách nào đó. Trên thực tế, mức độ tự do đi lại khi tại ngoại phụ thuộc trực tiếp vào loại biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng thay cho tạm giam, và đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của thủ tục tố tụng hình sự mà người bị buộc tội cần nắm rõ để tránh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan.

Tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không theo quy định
Tổng quan về quyền đi lại của người được tại ngoại, các biện pháp ngăn chặn áp dụng và nghĩa vụ phải tuân thủ trong quá trình điều tra.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Tại ngoại không đồng nghĩa với việc được tự do đi lại tuyệt đối trong mọi trường hợp.
  • Mức độ hạn chế đi lại phụ thuộc vào loại biện pháp ngăn chặn cụ thể đang áp dụng — bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú hay tạm hoãn xuất cảnh.
  • Từ ngày 01/7/2026, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải trình diện Trưởng Công an cấp xã và tuân thủ trình tự riêng theo Luật số 128/2025/QH15.
  • Vi phạm nghĩa vụ cam đoan trong thời gian tại ngoại có thể khiến bị can, bị cáo bị áp dụng lại biện pháp tạm giam.

Tại ngoại trong quá trình điều tra là gì?

Tại ngoại là tình trạng bị can, bị cáo không bị tạm giam nhưng vẫn đang chịu sự ràng buộc của một biện pháp ngăn chặn khác thay thế. Ví dụ thường gặp trên thực tế là trường hợp một bị can trong vụ án kinh tế được cơ quan điều tra cho tại ngoại bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, thay vì bị tạm giam trong suốt quá trình điều tra. Theo quy định tại Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2025), các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự bao gồm nhiều loại khác nhau, trong đó bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh là các biện pháp có thể thay thế cho tạm giam. Việc lựa chọn áp dụng biện pháp nào do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định, căn cứ vào tính chất vụ án và nhân thân của bị can, bị cáo.

Tại ngoại có đồng nghĩa với vô tội hoặc hết trách nhiệm hình sự không?

Theo thực tiễn áp dụng, tại ngoại chỉ là việc thay đổi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng, không làm thay đổi tư cách bị can, bị cáo của người đó trong vụ án. Việc được tại ngoại không có nghĩa là cơ quan tố tụng đã xác định người đó vô tội, cũng không làm chấm dứt trách nhiệm hình sự nếu sau này bị kết tội. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vẫn tiếp tục diễn ra bình thường, chỉ khác là bị can, bị cáo không bị cách ly khỏi xã hội trong thời gian đó.

Các hình thức tại ngoại theo pháp luật hiện hành

Pháp luật hiện hành quy định ba hình thức chính có thể thay thế biện pháp tạm giam. Mỗi hình thức có cơ sở bảo đảm, đối tượng áp dụng và chủ thể liên quan khác nhau, được tổng hợp trong bảng dưới đây để dễ đối chiếu.

Hình thức Cơ sở bảo đảm Đối tượng áp dụng Chủ thể liên quan
Bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS 2015) Cam kết của cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh Bị can, bị cáo được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đứng ra bảo lĩnh Cơ quan, tổ chức nơi bị can, bị cáo làm việc hoặc cá nhân đủ điều kiện theo luật định
Đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS 2015) Một khoản tiền cụ thể do bị can, bị cáo hoặc người thân thích đặt Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo Bị can, bị cáo hoặc người thân thích đặt tiền
Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123 BLTTHS 2015) Giấy cam đoan thực hiện nghĩa vụ, chịu sự quản lý tại địa phương Bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú; Công an cấp xã

Căn cứ chung về thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn nêu trên được quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tại ngoại có được tự do đi lại không?

Câu trả lời trực tiếp là: mức độ tự do đi lại khi tại ngoại phụ thuộc hoàn toàn vào loại biện pháp ngăn chặn cụ thể đang được áp dụng, và không có trường hợp nào được coi là “tự do tuyệt đối”. Người tại ngoại bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm có phạm vi đi lại rộng hơn về nguyên tắc, trong khi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú chịu sự giám sát chặt chẽ nhất về địa bàn cư trú. Dưới đây là phân tích cụ thể theo từng trường hợp.

Trường hợp bị áp dụng “cấm đi khỏi nơi cư trú”

Người bị áp dụng biện pháp này không được rời khỏi phạm vi xã, phường, thị trấn nơi cư trú nếu chưa được phép. Theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can, bị cáo phải cam đoan không đi khỏi nơi cư trú nếu không được phép và phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Từ ngày 01/7/2026, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025 (số 128/2025/QH15) quy định chi tiết hơn về cơ chế này: theo Điều 41 của luật, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú được đi khỏi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không cần xin phép, nhưng nếu vì lý do chính đáng khác thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép; đồng thời họ có nghĩa vụ trình diện Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú và chịu sự quản lý, theo dõi trực tiếp của cơ quan này. Đây là cơ chế giám sát tại địa phương thông qua việc khai báo và trình diện định kỳ, khác biệt rõ so với các hình thức tại ngoại còn lại.

Trường hợp bị áp dụng “tạm hoãn xuất cảnh”

Người bị tạm hoãn xuất cảnh vẫn được đi lại bình thường trong nước nhưng không được xuất cảnh ra nước ngoài trong thời hạn áp dụng biện pháp. Theo Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, biện pháp này có thể áp dụng khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của bị can, bị cáo có dấu hiệu bỏ trốn, và thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019 quy định song song về các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh, trong đó có người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự. So với cấm đi khỏi nơi cư trú, phạm vi hạn chế của tạm hoãn xuất cảnh hẹp hơn nhiều, chỉ giới hạn ở việc không được ra nước ngoài, không ảnh hưởng đến việc đi lại trong lãnh thổ Việt Nam.

Trường hợp chỉ áp dụng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm

Về nguyên tắc, người chỉ bị áp dụng bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm có mức độ tự do đi lại rộng hơn so với hai trường hợp trên, do Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không đặt ra giới hạn địa lý cụ thể như cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, người này vẫn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Cần lưu ý rằng trên thực tế, các cơ quan tố tụng thường áp dụng đồng thời bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm cùng với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để tăng hiệu quả giám sát.

Do đó, mức độ tự do đi lại thực tế của từng người cần đối chiếu chính xác theo quyết định cụ thể của cơ quan tiến hành tố tụng, không nên suy đoán chung chung dựa trên tên gọi của biện pháp.

Điều kiện và nghĩa vụ phải tuân thủ khi được tại ngoại

Để được xem xét cho tại ngoại, bị can, bị cáo phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, đồng thời phải cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong suốt thời gian áp dụng biện pháp. Đây là phần nội dung nhiều người dễ bỏ qua sau khi đã được tại ngoại, trong khi việc vi phạm nghĩa vụ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như bị tạm giam trở lại. Phần dưới đây phân tích cụ thể điều kiện, nghĩa vụ và thẩm quyền liên quan.

Điều kiện để được xem xét cho tại ngoại

Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét cho tại ngoại dựa trên nhiều yếu tố: nơi cư trú và lý lịch rõ ràng của bị can, bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân của người đó. Riêng đối với biện pháp đặt tiền để bảo đảm, cơ quan tố tụng còn xem xét tình trạng tài sản của bị can, bị cáo hoặc người thân thích đứng ra đặt tiền. Căn cứ pháp lý cho các điều kiện này nằm tại Điều 121, Điều 122 và khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Về mức tiền đặt để bảo đảm, theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC, mức tiền đặt không dưới 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không dưới 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng, không dưới 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, và không dưới 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Mức tiền cụ thể trong từng vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định và cần đối chiếu quyết định gốc trước khi áp dụng.

Nghĩa vụ cam đoan bắt buộc thực hiện

Bị can, bị cáo được tại ngoại phải làm giấy cam đoan và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
  • Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
  • Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.
  • Không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; không tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án.
  • Không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Các nghĩa vụ trên được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Riêng đối với người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 01/7/2026, Điều 41 Luật số 128/2025/QH15 bổ sung thêm quyền được xin phép vắng mặt có lý do chính đáng và thủ tục xin thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, lao động hoặc học tập ra ngoài phạm vi nơi cư trú khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép; trường hợp thay đổi trong phạm vi nơi cư trú thì chỉ cần báo cáo cơ quan có thẩm quyền.

Thẩm quyền ra quyết định và thời hạn áp dụng

Theo khoản 3 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người có thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; Đồn trưởng Đồn biên phòng.

Về thời hạn, khoản 4 Điều 123 quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này; riêng đối với người bị kết án phạt tù, thời hạn này không quá thời gian kể từ khi tuyên án cho đến khi người đó đi chấp hành án phạt tù.

Điều kiện và nghĩa vụ khi được tại ngoại trong quá trình điều tra
Người được tại ngoại phải đáp ứng điều kiện luật định và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cam đoan để duy trì biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.

Hậu quả nếu vi phạm nghĩa vụ khi đang tại ngoại

Việc vi phạm nghĩa vụ cam đoan trong thời gian tại ngoại kéo theo nhiều hệ quả pháp lý, không chỉ dừng lại ở việc mất quyền tại ngoại. Đây là lý do người được tại ngoại cần được tư vấn kỹ để tuân thủ đúng nghĩa vụ trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tránh những rủi ro có thể tránh được.

Bị áp dụng lại biện pháp tạm giam

Theo khoản 6 Điều 123 cùng Điều 121, Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì có thể bị áp dụng lại biện pháp tạm giam. Đây là hậu quả trực tiếp và phổ biến nhất, áp dụng chung cho cả ba hình thức tại ngoại đã nêu ở trên.

Mất số tiền đã đặt để bảo đảm

Riêng đối với biện pháp đặt tiền để bảo đảm, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan, số tiền đã đặt có thể bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thủ tục tịch thu được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Bị xử phạt vi phạm hành chính

Ngoài việc bị áp dụng lại biện pháp tạm giam, hành vi vi phạm quy định về chấp hành biện pháp ngăn chặn còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính riêng. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi vi phạm các quy định về việc chấp hành biện pháp ngăn chặn — trong đó có bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh — có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Với riêng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 01/7/2026, Điều 44 Luật số 128/2025/QH15 còn quy định thêm cơ chế xử lý theo mức độ vi phạm: vi phạm lần thứ nhất bị lập biên bản và nhắc nhở; vi phạm lần thứ hai bị lập biên bản, tổ chức kiểm điểm, nhắc nhở công khai và thông báo bằng văn bản cho người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có thể bị xem xét trách nhiệm pháp lý bổ sung

Theo thực tiễn áp dụng, nếu hành vi vi phạm nghĩa vụ trong thời gian tại ngoại cấu thành một tội phạm mới — chẳng hạn bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng — người vi phạm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó. Đây là nhận định cần xem xét cụ thể theo từng vụ việc, không thể khẳng định chắc chắn về mức độ trách nhiệm nếu chưa có kết luận điều tra hoặc bản án cụ thể.

>> Xem thêm: Thủ tục xin tại ngoại cho người bị tạm giam như thế nào?

Hậu quả khi vi phạm nghĩa vụ trong thời gian tại ngoại
Vi phạm cam kết trong thời gian tại ngoại có thể dẫn đến áp dụng lại biện pháp ngăn chặn, mất tiền đặt để bảo đảm hoặc phát sinh trách nhiệm pháp lý.

Dịch vụ luật sư tư vấn và hỗ trợ xin tại ngoại trong quá trình điều tra

Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư hỗ trợ bị can, bị cáo và gia đình thực hiện các thủ tục liên quan đến xin tại ngoại trong quá trình điều tra, với các công việc cụ thể gồm:

  • Tư vấn điều kiện được xem xét tại ngoại: Đánh giá nhân thân, tính chất hành vi, mức độ nguy hiểm, nơi cư trú và các yếu tố liên quan để xác định khả năng áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.
  • Tư vấn lựa chọn biện pháp tại ngoại phù hợp: Phân tích khả năng áp dụng bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú theo tình trạng thực tế của từng vụ việc.
  • Chuẩn bị hồ sơ đề nghị cho tại ngoại: Hỗ trợ soạn đơn, văn bản bảo lĩnh, tài liệu chứng minh nhân thân, nơi cư trú, khả năng bảo đảm và các giấy tờ cần thiết khác.
  • Hướng dẫn thực hiện thủ tục xin tại ngoại: Tư vấn trình tự nộp hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền xem xét và cách bổ sung tài liệu khi có yêu cầu.
  • Tư vấn nghĩa vụ trong thời gian tại ngoại: Hướng dẫn các nghĩa vụ phải tuân thủ, bao gồm quy định áp dụng theo Luật số 128/2025/QH15 từ ngày 01/7/2026.
  • Hỗ trợ xin phép vắng mặt hoặc thay đổi thông tin cư trú: Hướng dẫn thủ tục xin phép vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
  • Làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư hỗ trợ khách hàng làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi pháp luật cho phép.
  • Theo dõi việc giải quyết đề nghị tại ngoại: Hỗ trợ theo dõi quá trình xem xét hồ sơ, giải trình và bổ sung tài liệu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.

Câu hỏi thường gặp về tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về tại ngoại trong quá trình điều tra. Mỗi câu trả lời được xây dựng dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể để khách hàng dễ đối chiếu và áp dụng vào tình huống thực tế của mình. Trường hợp cần tư vấn chuyên sâu hơn cho vụ việc cụ thể, khách hàng nên liên hệ trực tiếp để được đánh giá chi tiết.

1. Tại ngoại có phải nộp tiền không?

Không phải mọi trường hợp tại ngoại đều yêu cầu nộp tiền. Chỉ khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm theo Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì bị can, bị cáo hoặc người thân thích mới phải đặt một khoản tiền cụ thể. Nếu tại ngoại bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú thì không cần đặt tiền, mà thay vào đó là cam kết của cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh hoặc giấy cam đoan của chính bị can, bị cáo.

2. Đang tại ngoại có được đi làm bình thường không?

Trong đa số trường hợp, người tại ngoại vẫn được đi làm bình thường trong phạm vi cho phép của biện pháp đang áp dụng. Nếu bị cấm đi khỏi nơi cư trú, việc đi làm chỉ được thực hiện trong phạm vi xã, phường, thị trấn nơi cư trú theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; nếu nơi làm việc nằm ngoài phạm vi này, cần xin phép cơ quan có thẩm quyền theo Điều 41 Luật số 128/2025/QH15. Với biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm, phạm vi đi lại để làm việc thường rộng hơn nhưng vẫn cần đối chiếu quyết định cụ thể.

3. Tại ngoại rồi có bị bắt tạm giam lại không?

Có thể. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan trong thời gian tại ngoại như bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, tiêu hủy chứng cứ hoặc không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng lại biện pháp tạm giam theo khoản 6 Điều 123, Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

4. Cấm đi khỏi nơi cư trú thì có được đi khám bệnh ở tỉnh khác không?

Được, nhưng cần thực hiện đúng thủ tục xin phép. Theo Điều 41 Luật số 128/2025/QH15, nếu việc đi khám bệnh thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì không cần xin phép trước nhưng phải trình diện hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền ngay sau khi hết lý do đó; nếu là trường hợp có lý do chính đáng khác thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép trước khi đi. Khách hàng nên chuẩn bị hồ sơ chứng minh lý do (giấy chuyển viện, lịch hẹn khám) để việc xin phép được giải quyết thuận lợi.

5. Tạm hoãn xuất cảnh kéo dài bao lâu?

Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không cố định mà gắn với từng giai đoạn tố tụng. Theo khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Khi vụ án chuyển sang giai đoạn tố tụng khác hoặc kết thúc theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, biện pháp này có thể được xem xét hủy bỏ theo Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Kết luận

Tại ngoại trong quá trình điều tra không đồng nghĩa với tự do đi lại tuyệt đối; mức độ hạn chế phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo đang được áp dụng bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú hay tạm hoãn xuất cảnh, và mỗi biện pháp đi kèm những nghĩa vụ cam đoan riêng cần tuân thủ nghiêm túc. Đặc biệt từ ngày 01/7/2026, Luật số 128/2025/QH15 bổ sung nhiều quy định chi tiết hơn về thủ tục trình diện, xin phép vắng mặt và xử lý vi phạm đối với người bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Nếu khách hàng hoặc người thân đang trong quá trình xin tại ngoại hoặc cần tư vấn để tuân thủ đúng nghĩa vụ đã cam đoan, Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ đánh giá vụ việc cụ thể qua hotline 1900636387.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021, 2025)
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025
  • Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019 (sửa đổi 2023)
  • Nghị định 144/2021/NĐ-CP
  • Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

(1) Bình luận “Tại ngoại trong quá trình điều tra có được tự do đi lại không?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  1. Le Anh says:

    Trường hợp Tôi không ký tên trong văn bản gây thiệt hại cho nhà nước có kết tội không? Mà chỉ có lãnh đạo phòng và thủ trưởng ký thôi, nhưng lãnh đao đổ tội cho tôi đánh máy??

  Miễn Phí: 1900.63.63.87