Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều doanh nghiệp khi bị khởi kiện tại Trọng tài thương mại thường bỏ lỡ quyền phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài chỉ vì không nắm rõ thời hạn luật định. Đây là quyền quan trọng của bị đơn trong lĩnh vực trọng tài thương mại, cho phép yêu cầu chấm dứt tố tụng ngay từ đầu nếu vụ việc không đủ điều kiện giải quyết bằng phương thức này. Bài viết phân tích ba nhóm căn cứ, trình tự thực hiện và hậu quả nếu bị đơn không hành động kịp thời.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Bị đơn chỉ có ba nhóm căn cứ để phản đối thẩm quyền của hội đồng trọng tài, gồm tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, theo Điều 2, Điều 6 và Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Việc phản đối phải được nêu trong bản tự bảo vệ, gửi trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, theo khoản 2 và khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Nếu bị đơn phát hiện vi phạm mà vẫn tiếp tục tham gia tố tụng không phản đối đúng hạn thì mất quyền phản đối tại cả Trọng tài lẫn Tòa án, theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài về thẩm quyền phải được gửi Tòa án trong 05 ngày làm việc, theo khoản 1 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010, và trong khi chờ Tòa án giải quyết, hội đồng trọng tài vẫn có quyền tiếp tục giải quyết tranh chấp theo khoản 5 Điều 44 Luật này.
Phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài là gì và khi nào cần thực hiện?
Một doanh nghiệp sản xuất bị đối tác khởi kiện tại một Trung tâm trọng tài để đòi bồi thường vi phạm hợp đồng cung ứng. Khi xem lại hồ sơ, doanh nghiệp phát hiện điều khoản trọng tài trong hợp đồng do người không có thẩm quyền ký kết đại diện công ty xác lập. Đây là tình huống điển hình đặt ra yêu cầu phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài ngay từ bước đầu của tố tụng, trước khi hội đồng trọng tài đi vào xem xét nội dung tranh chấp.
Qua các hồ sơ tư vấn tố tụng trọng tài mà Luật Long Phan PMT đã tiếp nhận, một vấn đề bị đơn cần đặc biệt lưu ý là việc rà soát thỏa thuận trọng tài phải được thực hiện đồng thời với việc chuẩn bị bản tự bảo vệ. Theo khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì phải nêu rõ vấn đề đó trong bản tự bảo vệ. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, thời hạn nộp bản tự bảo vệ theo quy định mặc định là 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài có quy định khác.
Khái niệm phản đối thẩm quyền trọng tài theo pháp luật hiện hành
Phản đối thẩm quyền trọng tài là việc một bên trong tố tụng trọng tài nêu ý kiến và căn cứ cho rằng Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết toàn bộ hoặc một phần tranh chấp, hoặc thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực hoặc không thể thực hiện được. Các căn cứ này bao gồm trường hợp vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.
Theo khoản 1 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại 2010, trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, khả năng thực hiện thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của mình. Nếu xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết tranh chấp và thông báo cho các bên.
Vì sao bị đơn cần chủ động phản đối thẩm quyền ngay từ đầu
Bị đơn cần chủ động rà soát và nêu vấn đề thẩm quyền ngay trong bản tự bảo vệ để bảo đảm thực hiện đúng cơ chế phản đối được quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010. Khoản 4 Điều 35 yêu cầu bị đơn phải nêu rõ vấn đề về thẩm quyền, sự tồn tại, hiệu lực hoặc khả năng thực hiện của thỏa thuận trọng tài trong bản tự bảo vệ.
Bên cạnh đó, Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định trường hợp một bên biết có vi phạm quy định của Luật hoặc thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng mà không phản đối trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án. Vì vậy, việc rà soát căn cứ phản đối thẩm quyền cần được thực hiện ngay khi nhận được hồ sơ khởi kiện, đồng thời với việc chuẩn bị chứng cứ và lập luận bảo vệ về nội dung tranh chấp.
Việc Hội đồng trọng tài có nghĩa vụ xem xét thẩm quyền theo Điều 43 không làm mất đi ý nghĩa của việc bị đơn chủ động nêu phản đối đúng thời điểm. Bị đơn nên xác định rõ căn cứ phản đối, chuẩn bị tài liệu chứng minh và đưa nội dung này vào bản tự bảo vệ theo đúng thời hạn áp dụng cho vụ việc.
Khi nào bị đơn có quyền phản đối thẩm quyền của hội đồng trọng tài?
Bị đơn có quyền nêu phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài khi có căn cứ cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Theo khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010, các vấn đề này phải được bị đơn nêu rõ trong bản tự bảo vệ. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 43, trước khi xem xét nội dung tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, khả năng thực hiện thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của mình.
Tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại
Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết ba nhóm tranh chấp: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; và các tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài. Nếu tranh chấp không thuộc các trường hợp này thì bị đơn có thể nêu phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
Ví dụ tranh chấp hôn nhân gia đình hoặc tranh chấp hành chính thuần túy, bị đơn có căn cứ khẳng định vụ việc không thuộc thẩm quyền trọng tài ngay từ đầu.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây, được hướng dẫn cụ thể tại Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tức không phải người đại diện theo pháp luật hoặc không có ủy quyền hợp lệ.
- Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
- Hình thức thỏa thuận trọng tài không phù hợp với Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010 về hình thức văn bản.
- Một bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép khi xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố vô hiệu.
- Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Trong thực tiễn xử lý các vụ việc tương tự, căn cứ vô hiệu do người ký không đủ thẩm quyền là tình huống bị đơn viện dẫn nhiều nhất, đặc biệt khi hợp đồng được ký bởi chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc người quản lý không có văn bản ủy quyền hợp lệ từ người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp này khách hàng cần cung cấp đầy đủ giấy ủy quyền, điều lệ công ty tại thời điểm ký kết để chứng minh căn cứ vô hiệu, việc thu thập tài liệu càng sớm càng thuận lợi cho quá trình phản đối.
Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Theo khoản 1 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được cũng là căn cứ để hội đồng trọng tài đình chỉ giải quyết. Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể các trường hợp sau đây:
- Trung tâm trọng tài các bên đã thỏa thuận lựa chọn đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác.
- Trọng tài viên vụ việc được các bên lựa chọn không thể tham gia giải quyết tranh chấp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, hoặc Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên yêu cầu, và các bên không có thỏa thuận thay thế.
- Trọng tài viên vụ việc được các bên lựa chọn từ chối giải quyết, hoặc Trung tâm trọng tài từ chối chỉ định Trọng tài viên, mà các bên không có thỏa thuận thay thế.
- Các bên thỏa thuận giải quyết tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại chọn quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác mà điều lệ của Trung tâm trọng tài đã chọn không cho phép áp dụng, và các bên không thỏa thuận được quy tắc thay thế.
Đối với trường hợp mâu thuẫn giữa Trung tâm trọng tài được chọn và quy tắc tố tụng áp dụng, doanh nghiệp nên rà soát kỹ điều lệ của Trung tâm trọng tài được nêu trong hợp đồng trước khi xác định căn cứ phản đối, vì mỗi Trung tâm trọng tài có quy định riêng về việc cho phép hay không cho phép áp dụng quy tắc tố tụng của tổ chức khác.
>>> Xem thêm: Phân tích hiệu lực pháp lý khi thỏa thuận trọng tài ký sai thẩm quyền
Thủ tục phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài khi bị kiện
Thủ tục này trải qua ba bước chính: nêu căn cứ phản đối trong bản tự bảo vệ, chờ hội đồng trọng tài ra quyết định, và khiếu nại lên Tòa án nếu không đồng ý với quyết định đó. Mỗi bước gắn với một thời hạn luật định mà bị đơn cần tuân thủ nghiêm ngặt.
- Nêu căn cứ phản đối trong bản tự bảo vệ. Theo khoản 2 và khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác, bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo. Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó ngay trong bản tự bảo vệ.
- Hội đồng trọng tài xem xét và ra quyết định về thẩm quyền. Theo khoản 1 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại 2010, hội đồng trọng tài xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, khả năng thực hiện và thẩm quyền của mình trước khi đi vào nội dung tranh chấp. Nếu xác định thuộc thẩm quyền, hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết; nếu không, hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ và thông báo ngay cho các bên.
- Khiếu nại quyết định của hội đồng trọng tài lên Tòa án có thẩm quyền. Theo khoản 1 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, bên không đồng ý có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại quyết định đó và phải đồng thời thông báo việc khiếu nại cho Hội đồng trọng tài. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và quyết định của Hội đồng trọng tài. Theo khoản 4 Điều 44, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết; trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét, quyết định. Quyết định của Tòa án là cuối cùng.
Theo điểm c khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010, đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được hoặc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định.
Khi xác định cơ quan Tòa án có thẩm quyền trong thực tế, doanh nghiệp cần đồng thời đối chiếu quy định hiện hành về tổ chức và phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân sau khi hệ thống Tòa án nhân dân khu vực được thành lập từ ngày 01/7/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 39 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 thì thẩm quyền thuộc về Toà án nhân dân khu vực nơi có Hội đồng trọng tài ra quyết định.
Trong khi Tòa án giải quyết khiếu nại, hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục giải quyết tranh chấp theo khoản 5 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010. Doanh nghiệp cần chuẩn bị đồng thời phương án tố tụng tại trọng tài song song với việc khiếu nại tại Tòa án, tránh bị động nếu phiên họp giải quyết tranh chấp diễn ra trước khi Tòa án kịp ra quyết định.

Hậu quả pháp lý nếu không phản đối thẩm quyền kịp thời
Bỏ lỡ thời hạn nêu phản đối khiến bị đơn mất quyền phản đối tại cả Trọng tài và Tòa án về sau, đồng thời có thể phải chấp nhận toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài dù ban đầu có căn cứ để chấm dứt vụ việc từ giai đoạn đầu.
Mất quyền phản đối tại trọng tài và tòa án
Theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010, trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng mà không phản đối vi phạm trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án.
Quy định này không chỉ áp dụng đối với vấn đề thẩm quyền mà còn có thể áp dụng đối với các vi phạm khác trong quá trình tố tụng trọng tài. Do đó, bị đơn không nên chỉ kiểm tra thỏa thuận trọng tài mà cần rà soát toàn bộ hồ sơ và quá trình tố tụng để kịp thời nêu ý kiến đối với những vấn đề mà mình cho rằng có vi phạm.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi trường hợp không phản đối trong thời hạn đều đương nhiên dẫn đến mất quyền phản đối. Việc áp dụng Điều 13 cần xem xét các điều kiện mà điều luật đặt ra, trong đó có việc bên đó phải biết về vi phạm và vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng mà không phản đối trong thời hạn luật định.
Hậu quả khi Tòa án xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền trọng tài
Theo khoản 6 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010, trường hợp Tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.
Nếu các bên không có thỏa thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp tại Tòa án. Thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Tòa án ra quyết định thụ lý không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Quy định này nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của các bên trong trường hợp tranh chấp không thể được giải quyết bằng Trọng tài. Tuy nhiên, về mặt thực tế, việc vụ tranh chấp đã được đưa ra Trọng tài trước khi chuyển sang Tòa án có thể làm phát sinh thêm thời gian và chi phí tố tụng. Vì vậy, việc rà soát thẩm quyền và phản đối đúng thời điểm có ý nghĩa quan trọng đối với bị đơn ngay từ khi nhận được hồ sơ khởi kiện.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ doanh nghiệp phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài
Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư trọng tài thương mại hỗ trợ doanh nghiệp khi bị khởi kiện tại Trọng tài và có căn cứ cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Luật sư tham gia từ giai đoạn rà soát hồ sơ ban đầu, xác định căn cứ phản đối, chuẩn bị bản tự bảo vệ đến khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài tại Tòa án có thẩm quyền.
Các công việc luật sư thực hiện gồm:
- Rà soát đơn khởi kiện, hợp đồng, phụ lục hợp đồng và toàn bộ thỏa thuận trọng tài giữa các bên.
- Đánh giá tranh chấp có thuộc phạm vi được giải quyết bằng Trọng tài thương mại hay không.
- Kiểm tra hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Kiểm tra thẩm quyền của người ký kết thỏa thuận trọng tài, đặc biệt đối với hợp đồng do chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc người quản lý ký.
- Rà soát giấy ủy quyền, điều lệ doanh nghiệp và hồ sơ đại diện tại thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài.
- Kiểm tra hình thức của thỏa thuận trọng tài và khả năng đáp ứng quy định pháp luật.
- Đánh giá trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật.
- Kiểm tra trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được do Trung tâm trọng tài chấm dứt hoạt động, Trọng tài viên không thể tham gia hoặc có mâu thuẫn về quy tắc tố tụng.
- Đánh giá căn cứ phản đối theo từng trường hợp để tránh viện dẫn căn cứ không phù hợp với hồ sơ thực tế.
- Tư vấn thời hạn và cách thức phản đối thẩm quyền ngay từ khi doanh nghiệp nhận đơn khởi kiện.
- Soạn thảo bản tự bảo vệ, trong đó nêu rõ căn cứ phản đối thẩm quyền theo đúng thời hạn tố tụng.
- Chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không thể thực hiện hoặc tranh chấp nằm ngoài thẩm quyền của Trọng tài.
- Đại diện hoặc tham gia cùng doanh nghiệp làm việc với Trung tâm trọng tài và Hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết.
- Theo dõi quyết định của Hội đồng trọng tài về hiệu lực thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
- Soạn đơn khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền gửi Tòa án có thẩm quyền trong thời hạn luật định 05 ngày làm việc.
- Tư vấn xác định đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thẩm quyền trọng tài.
Quý doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về hướng dẫn phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài khi bị kiện
Dưới đây là một số câu hỏi doanh nghiệp thường đặt ra khi cân nhắc phản đối thẩm quyền trọng tài. Các câu trả lời dựa trên quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 và văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
1. Thời hạn phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài là bao lâu?
Bị đơn phải nêu căn cứ phản đối trong bản tự bảo vệ, gửi trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo, theo khoản 2 và khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010. Nếu các bên có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quy định khác về thời hạn này thì áp dụng theo thỏa thuận hoặc quy tắc đó.
2. Không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài về thẩm quyền thì làm gì?
Bên không đồng ý có quyền gửi đơn khiếu nại đến Tòa án có thẩm quyền trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của hội đồng trọng tài, đồng thời thông báo việc khiếu nại cho hội đồng trọng tài, theo khoản 1 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010. Quá thời hạn này, quyền khiếu nại có thể không còn được chấp nhận.
3. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thẩm quyền trọng tài?
Về nguyên tắc, đó là Tòa án nơi hội đồng trọng tài ra quyết định, theo điểm c khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010. Do hệ thống Tòa án đã tổ chức lại từ ngày 01/7/2025 theo Luật số 81/2025/QH15, phần lớn việc này hiện thuộc Tòa án nhân dân khu vực nơi hội đồng trọng tài ra quyết định, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc vẫn do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
4. Trong khi chờ Tòa án giải quyết khiếu nại, hội đồng trọng tài có tiếp tục giải quyết vụ việc không?
Có. Theo khoản 5 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010, trong khi Tòa án giải quyết đơn khiếu nại, hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục giải quyết tranh chấp. Do đó doanh nghiệp cần chuẩn bị đồng thời phương án tố tụng tại trọng tài, không nên chỉ chờ kết quả từ Tòa án.
5. Không phản đối thẩm quyền kịp thời có mất quyền phản đối không?
Có. Theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu một bên biết có vi phạm quy định của Luật hoặc thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng mà không phản đối trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án. Vì vậy, doanh nghiệp nên rà soát các căn cứ phản đối ngay khi nhận được đơn khởi kiện và nêu ý kiến trong thời hạn áp dụng cho vụ việc.
6. Quyết định của Tòa án về khiếu nại thẩm quyền trọng tài có bị kháng cáo không?
Không. Theo khoản 4 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại 2010, quyết định của Tòa án giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài là quyết định cuối cùng, các bên không có quyền kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định này.
Kết luận
Phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài là quyền quan trọng nhưng gắn với thời hạn rất ngắn, đòi hỏi doanh nghiệp phải rà soát căn cứ và hành động ngay từ khi nhận đơn khởi kiện thay vì chờ đến gần hết thời hạn tự bảo vệ. Việc xác định đúng nhóm căn cứ phản đối, tuân thủ trình tự nêu ý kiến trong bản tự bảo vệ và khiếu nại đúng thời hạn quyết định phần lớn kết quả bảo vệ quyền lợi của bị đơn. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp rà soát thỏa thuận trọng tài và tư vấn phương án phản đối thẩm quyền hội đồng trọng tài phù hợp với từng hồ sơ cụ thể. Quý doanh nghiệp cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Luật Trọng tài thương mại 2010
- Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bản tự bảo vệ, khiếu nại quyết định trọng tài, mất quyền phản đối trọng tài, Phản đối thẩm quyền trọng tài, Thẩm quyền Hội đồng trọng tài, Thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện, Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thời hạn 30 ngày, thời hạn khiếu nại 5 ngày, thời hạn phản đối trọng tài, Tố tụng trọng tài thương mại, Tòa án có thẩm quyền

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.