Hướng dẫn phân tích các căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung 

Bị can, bị cáo có thể đối mặt với nguy cơ bị kéo dài thời gian giải quyết vụ án nếu không nhận diện đúng căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung ngay từ giai đoạn truy tố hoặc chuẩn bị xét xử. Khi hồ sơ còn thiếu chứng cứ buộc tội, xuất hiện dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, bỏ sót đồng phạm hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc đề nghị trả hồ sơ đúng lúc là cách bảo vệ quyền bào chữa, ngăn xét xử vội vàng và tạo cơ sở thu thập thêm tài liệu gỡ tội; trong nhiều trường hợp, Quý khách nên sớm trao đổi với luật sư qua dịch vụ Tư vấn thủ tục tố tụng hình sự để xác định đúng hướng xử lý. Từ các căn cứ luật định đó, bài viết dưới đây sẽ phân tích rõ từng trường hợp áp dụng và cách bảo vệ quyền lợi cùng Luật Long Phan PMT.

Tổng quan quy định về căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung vụ án hình sự.
Tóm tắt quy định pháp luật về thẩm quyền, thời hạn và các căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng trả hồ sơ điều tra thêm

Quy định chung về việc trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là cơ chế tố tụng dùng để khắc phục khoảng trống chứng cứ hoặc sai sót thủ tục trước khi vụ án được giải quyết tiếp. Bản chất của cơ chế này không phải lặp lại toàn bộ quá trình điều tra, mà buộc cơ quan tiến hành tố tụng bổ sung đúng phần còn thiếu để bảo đảm việc truy tố, xét xử dựa trên hồ sơ khách quan và đầy đủ. Căn cứ theo Điều 1 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017, đây là hoạt động phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Về thực tiễn, cơ chế này có ý nghĩa trực tiếp với bị can, bị cáo và người bào chữa. Nếu hồ sơ bị đẩy sang giai đoạn xét xử khi chứng cứ chưa rõ hoặc thủ tục điều tra có sai phạm, nguy cơ xét xử thiếu căn cứ sẽ tăng lên. Ngược lại, khi áp dụng đúng, việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giúp sửa sai kịp thời và hạn chế nguy cơ buộc tội hoặc gỡ tội trên nền hồ sơ chưa hoàn chỉnh.

04 nhóm căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung cốt lõi theo luật định

Căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung chỉ phát sinh khi hồ sơ đang tồn tại thiếu sót mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án không thể bỏ qua. Căn cứ theo Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 245 và Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, các nhóm căn cứ này được giới hạn khá chặt. Điều đó có nghĩa là không phải cứ có tranh luận về nội dung vụ án thì đương nhiên được trả hồ sơ. Người bào chữa muốn kiến nghị hiệu quả phải chỉ ra đúng khoảng trống chứng cứ, đúng sai phạm tố tụng hoặc đúng dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt người phạm tội.

Thiếu chứng cứ quan trọng dùng để chứng minh các vấn đề của vụ án

Thiếu chứng cứ là căn cứ được viện dẫn nhiều nhất, nhưng không phải mọi thiếu sót đều dẫn đến trả hồ sơ. Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 245 và Điểm a Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Sau đây gọi tắt là BLTTHS), chỉ khi chứng cứ còn thiếu liên quan đến các vấn đề phải chứng minh theo Điều 85 BLTTHS và Viện kiểm sát hoặc Tòa án không thể tự bổ sung thì mới phát sinh quyền trả hồ sơ. Vì vậy, người bào chữa cần chứng minh rằng khoảng trống này làm vụ án không thể được giải quyết khách quan, toàn diện.

Các nhóm chứng cứ thường làm phát sinh việc trả hồ sơ gồm:

  • Chứng cứ về việc có hay không có hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và tình tiết xảy ra hành vi phạm tội.
  • Chứng cứ xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội.
  • Chứng cứ về lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
  • Chứng cứ về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân.
  • Chứng cứ về tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
  • Chứng cứ về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, nếu vụ án liên quan pháp nhân.

Theo Điểm a, c, d, e, g, h, i và n Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, đây là các nhóm vấn đề cốt lõi phải được làm rõ. Trong thực tiễn, thiếu biên bản đối chất khi lời khai mâu thuẫn, thiếu thực nghiệm hiện trường, thiếu giám định lại nồng độ cồn hoặc thiếu định giá lại thiệt hại đều có thể làm hồ sơ chưa đủ căn cứ giải quyết. Khi đó, việc yêu cầu trả hồ sơ không nhằm kéo dài vụ án, mà nhằm ngăn việc kết luận dựa trên suy đoán thay vì chứng cứ kiểm tra được.

>>> Xem thêm: Hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ “lập công chuộc tội”

Có căn cứ khởi tố bị can về tội phạm khác hoặc phát hiện đồng phạm mới

Một hồ sơ có thể đầy đủ về hành vi, nhưng vẫn phải trả để điều tra bổ sung nếu xuất hiện dấu hiệu pháp lý mới. Căn cứ theo Điểm b, c Khoản 1 Điều 245 và Điểm b, c Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc trả hồ sơ được đặt ra khi có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác, hoặc phát hiện đồng phạm, người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa bị khởi tố. Đây là cơ chế ngăn bỏ lọt tội phạm và ngăn truy tố sai phạm vi trách nhiệm hình sự.

Mặt khác ở góc độ bào chữa, đây cũng là điểm cần theo dõi chặt. Nếu hành vi bị quy kết có dấu hiệu thuộc tội danh khác nhẹ hơn hoặc cấu thành pháp lý chưa rõ, luật sư phải chỉ ra rằng hồ sơ hiện tại chưa đủ căn cứ để giữ nguyên hướng truy tố. Ngược lại, nếu cơ quan tố tụng đang bỏ sót người tham gia phạm tội hoặc bỏ sót vai trò từng người, việc không điều tra bổ sung có thể khiến trách nhiệm bị dồn sai vào một bị can. Khi kiến nghị, cần nêu rõ dấu hiệu của tội danh khác, vai trò đồng phạm, tài liệu cần thu thập thêm và hậu quả pháp lý nếu không làm rõ ngay ở giai đoạn này.

Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không dừng ở lỗi hình thức. Theo quy định tại Điểm Điểm o, Khoản 1, Điều 4, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, đây là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

Các vi phạm điển hình có thể dẫn đến trả hồ sơ gồm:

  • Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra không được Viện kiểm sát phê chuẩn trong trường hợp pháp luật bắt buộc phải có phê chuẩn.
  • Không chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội trong trường hợp thuộc diện bắt buộc.
  • Xác định sai tư cách tham gia tố tụng, làm xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
  • Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nhưng lại không có yêu cầu hợp lệ.
  • Không bố trí người phiên dịch, dịch thuật cho người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt.
  • Có căn cứ cho thấy việc bức cung, nhục hình làm lời khai của bị can không đúng sự thật.

Theo Điểm a, b, c, d, h, o Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, các sai phạm này không thể xem nhẹ. Trường hợp chứng minh được vi phạm này, yêu cầu trả hồ sơ sẽ là giải pháp kỹ thuật để phục hồi đúng trình tự tố tụng trước khi tranh luận về nội dung buộc tội.

Khi Tòa án xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn

Căn cứ theo Khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi Tòa án xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, Tòa án không được tự mở rộng ngay phạm vi xét xử nếu hồ sơ chưa đủ nền tảng tố tụng tương ứng. Việc trả hồ sơ lúc này nhằm bảo đảm bị cáo được biết đầy đủ căn cứ buộc tội, được thực hiện quyền bào chữa và được điều tra, truy tố đúng theo tội danh mới dự kiến áp dụng.

Về thực tiễn, đây là điểm đặc biệt nhạy cảm vì nó liên quan trực tiếp đến nguy cơ tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu không yêu cầu làm rõ thủ tục ở giai đoạn này, bị cáo có thể rơi vào thế bất lợi khi phải đối diện một hướng buộc tội nặng hơn trên cơ sở hồ sơ chưa được điều chỉnh đầy đủ.

Chi tiết 04 nhóm căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các trường hợp thiếu chứng cứ, vi phạm tố tụng hoặc xuất hiện tội phạm mới dẫn đến việc trả hồ sơ để điều tra lại.

Thẩm quyền và trình tự ra quyết định trả hồ sơ của Viện kiểm sát và Tòa án

Không phải mọi chủ thể trong tố tụng đều có quyền ra quyết định trả hồ sơ. Mỗi giai đoạn tố tụng gắn với một chủ thể có thẩm quyền riêng và một loại văn bản tương ứng. Nắm đúng thẩm quyền giúp người bào chữa gửi đúng kiến nghị, tránh mất thời gian và tránh để vụ án đi qua thời điểm cần can thiệp.

Giai đoạn Chủ thể có thẩm quyền Nội dung quyết định Biểu mẫu, căn cứ
Giai đoạn truy tố Viện kiểm sát Ra quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung khi có căn cứ luật định Khoản 2 Điều 41, Khoản 5 Điều 236 BLTTHS 2015; Mẫu số 30-HS theo Nghị quyết 05/2017/NQ-HĐTP
Giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Khoản 1 Điều 280 BLTTHS 2015; Mẫu số 33-HS theo Nghị quyết 05/2017/NQ-HĐTP
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử Ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu xét thấy cần thiết Khoản 6 Điều 490 BLTTHS 2015; Mẫu số 34-HS theo Nghị quyết 05/2017/NQ-HĐTP
Chức năng của Tòa án sơ thẩm Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm Thực hiện nhiệm vụ trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung Điểm i Khoản 2 Điều 23 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024

Sau khi có quyết định trả hồ sơ, cơ quan nhận hồ sơ phải thực hiện đúng phần việc được yêu cầu bổ sung, thay vì điều tra tràn lan ngoài phạm vi thiếu sót. Về mặt kỹ thuật tố tụng, luật sư cần đọc kỹ nội dung quyết định để xác định: phần chứng cứ nào phải làm rõ, vi phạm thủ tục nào phải khắc phục, và sau điều tra bổ sung thì hồ sơ sẽ quay lại bằng kết luận điều tra bổ sung hay bằng cáo trạng mới. Cách theo dõi này giúp kiểm soát được việc điều tra bổ sung có thực hiện đúng yêu cầu hay chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Quy định về thời hạn và giới hạn số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Thời hạn điều tra bổ sung là vấn đề mà bị can, bị cáo và gia đình thường quan tâm nhất vì nó liên quan trực tiếp đến thời gian vụ án bị kéo dài. Ngoài yếu tố thời gian, đây còn là cơ sở để đánh giá có dấu hiệu kéo dài tố tụng hay không.

Trường hợp trả hồ sơ Thời hạn điều tra bổ sung Giới hạn số lần
Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung Không quá 02 tháng Quý khách hàng cần theo dõi chặt lý do và phạm vi yêu cầu điều tra bổ sung
Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung Không quá 01 tháng Thẩm phán 01 lần, Hội đồng xét xử 01 lần
Hồ sơ quay lại sau điều tra bổ sung Thời hạn chuẩn bị xét xử bị gián đoạn và tính lại từ đầu sau khi Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ Không được lạm dụng việc trả hồ sơ để làm kéo dài giải quyết vụ án

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nếu việc điều tra bổ sung kéo dài mà không xuất hiện kết quả làm rõ chứng cứ hoặc sửa sai thủ tục, bị can, bị cáo có cơ sở để kiến nghị về tiến độ giải quyết và về biện pháp ngăn chặn đang áp dụng. Trong các vụ án có yếu tố định giá tài sản, giám định hoặc lời khai mâu thuẫn, việc kiểm soát thời hạn đặc biệt cần thiết để tránh tình trạng hồ sơ bị treo kéo dài nhưng không tạo ra giá trị chứng minh mới.

>>> Xem thêm: Thời hạn điều tra vụ án hình sự khoảng bao lâu?

Câu hỏi thường gặp về các căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung

Việc nhận diện chính xác căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung đóng vai trò then chốt giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo trước những thiếu sót về chứng cứ hoặc sai phạm của cơ quan tố tụng. Những giải đáp chuyên sâu dưới đây tập trung tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn về thời hạn, thẩm quyền và giải pháp xử lý khi hồ sơ vụ án xuất hiện các khoảng trống pháp lý nghiêm trọng.

1. Bị can có được thay đổi biện pháp ngăn chặn như bảo lĩnh khi hồ sơ bị trả để điều tra bổ sung không?

Căn cứ Điều 110 và Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nếu xét thấy việc tạm giam không còn cần thiết hoặc bị can đáp ứng đủ các điều kiện về nhân thân, cơ quan tố tụng có thể thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Khi hồ sơ bị trả để điều tra bổ sung theo Khoản 2 Điều 174, nếu quá trình này kéo dài mà không làm rõ được chứng cứ mới hoặc không khắc phục được vi phạm thủ tục, người bào chữa có quyền căn cứ Điều 73 để gửi đơn kiến nghị yêu cầu thay đổi biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm quyền lợi cho bị can.

2. Làm thế nào khi có căn cứ cho thấy bị can bị bức cung, nhục hình dẫn đến lời khai sai sự thật?

Yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung là giải pháp kỹ thuật bắt buộc khi có căn cứ xác định lời khai của bị can không khách quan do bị bức cung, nhục hình. Đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo Điểm o Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP.

3. Trường hợp nào việc thiếu người phiên dịch dẫn đến phải trả hồ sơ điều tra bổ sung?

Hồ sơ phải được trả để điều tra bổ sung nếu cơ quan tố tụng không bố trí người phiên dịch cho người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt, hoặc họ là người có nhược điểm về thể chất (câm, điếc, mù) theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo Điểm h Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2017, đây là sai phạm xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

4. Viện kiểm sát có thẩm quyền trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra trong giai đoạn nào?

Viện kiểm sát thực hiện quyền trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung ngay trong giai đoạn truy tố khi phát hiện các thiếu sót mà mình không thể tự bổ sung. Thẩm quyền này được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 41 và Khoản 5 Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

5. Cách thức xác định việc thiếu chứng cứ quan trọng để kiến nghị trả hồ sơ là gì?

Chứng cứ được coi là thiếu khi đó là những tài liệu quan trọng dùng để chứng minh các vấn đề tại Điều 85 BLTTHS 2015 (như hành vi phạm tội, lỗi, động cơ, thiệt hại…) mà nếu thiếu chúng, vụ án không thể giải quyết khách quan. Căn cứ Điều 245 và Điều 280 BLTTHS 2015, việc trả hồ sơ thực hiện khi có mâu thuẫn lớn trong hệ thống chứng cứ hoặc có căn cứ cho rằng bị can phạm tội khác, có đồng phạm khác mà không thể làm rõ trong giai đoạn truy tố hoặc tại tòa.

6. Tại sao cần trả hồ sơ khi phát hiện có đồng phạm mới chưa bị khởi tố?

Việc trả hồ sơ khi có đồng phạm mới giúp ngăn chặn bỏ lọt tội phạm và đảm bảo trách nhiệm hình sự được xác định đúng người, đúng tội, không dồn sai áp lực pháp lý vào một cá nhân duy nhất. Căn cứ này được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 245 và Điểm c Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Luật sư Luật Long Phan PMT hỗ trợ thủ tục yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung

Sai một căn cứ, gửi sai chủ thể có thẩm quyền hoặc kiến nghị không bám đúng hồ sơ đều có thể làm mất thời điểm bảo vệ quyền lợi. Với những vụ án có dấu hiệu thiếu chứng cứ, bỏ sót đồng phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc sử dụng luật sư hình sự là giải pháp an toàn để xây dựng đúng căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung và kiểm soát rủi ro tố tụng.

  • Nghiên cứu, sao chụp và đối chiếu toàn bộ hồ sơ vụ án để xác định khoảng trống giữa lời khai, vật chứng, tài liệu giám định và các vấn đề phải chứng minh theo Điều 85 BLTTHS.
  • Kiểm tra chuỗi quyết định tố tụng để phát hiện trường hợp thiếu phê chuẩn của Viện kiểm sát, sai thẩm quyền ký, sai tư cách tham gia tố tụng hoặc thiếu bảo đảm quyền bào chữa.
  • Đánh giá tính hợp pháp của biên bản thực nghiệm hiện trường, biên bản đối chất, kết luận định giá tài sản và trưng cầu giám định để xác định có cần điều tra bổ sung hay không.
  • Soạn thảo đơn kiến nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung gửi đúng Thẩm phán, Hội đồng xét xử hoặc cơ quan có thẩm quyền ở từng giai đoạn tố tụng.
  • Xây dựng bản luận cứ bào chữa chỉ ra rõ chứng cứ buộc tội còn thiếu, chứng cứ gỡ tội bị bỏ qua và hậu quả pháp lý nếu vẫn đưa vụ án ra xét xử.
  • Thực hiện khiếu nại đối với quyết định tố tụng trái pháp luật hoặc việc kéo dài điều tra bổ sung không đúng phạm vi, không đúng thời hạn.
  • Tìm kiếm nhân chứng, thu thập tài liệu, đồ vật và dữ liệu có giá trị ngoại phạm hoặc có giá trị làm rõ vai trò thực tế của từng người trong vụ án.
  • Tranh tụng trực tiếp với Kiểm sát viên tại phiên tòa để thuyết phục Hội đồng xét xử rằng hồ sơ chưa đủ căn cứ buộc tội hoặc đang tồn tại sai phạm tố tụng phải khắc phục.
  • Chuẩn bị hồ sơ và lập luận xin thay đổi biện pháp ngăn chặn, như bảo lĩnh hoặc đặt tiền, khi thời gian điều tra bổ sung làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo.
Luật sư Luật Long Phan PMT hỗ trợ thủ tục yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung chuyên nghiệp.
Luật sư hỗ trợ nghiên cứu hồ sơ vụ án và soạn thảo văn bản kiến nghị trả hồ sơ nhằm bảo vệ quyền lợi tối ưu cho khách hàng.

Kết luận

Việc nhận diện đúng căn cứ yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung giúp Quý khách biết khi nào hồ sơ thật sự chưa đủ điều kiện để truy tố hoặc xét xử, đồng thời tạo cơ sở yêu cầu làm rõ chứng cứ, khắc phục sai phạm tố tụng và ngăn nguy cơ buộc tội trên nền hồ sơ còn thiếu sót. Nếu bỏ qua giai đoạn này, bị can hoặc bị cáo có thể mất cơ hội bảo vệ quyền bào chữa, bị kéo dài thời gian giải quyết vụ án hoặc phải đối diện với bất lợi tố tụng khó khắc phục về sau. Để được rà soát hồ sơ, xác định đúng căn cứ pháp lý và xây dựng phương án kiến nghị hiệu quả, Quý khách nên liên hệ ngay Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được luật sư hình sự hỗ trợ kịp thời.

Tags: , , , , ,

Luật sư Cộng sự Hà Ngọc Tuyền

Luật sư Hà Ngọc Tuyền- thành viên đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh, trưởng Văn phòng luật sư Hà Tuyền, Luật sư cộng sự tại công ty Luật Long Phan PMT. Với kinh nghiệm lâu năm tham gia các vụ án hình sự, Luật sư Hà Ngọc Tuyền đã và đang trực tiếp tham gia tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các vụ án hình sự là một trong những luật sư kỳ cựu, nhận được rất nhiều kỳ vọng của khách hàng.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87