Khởi tố tội mua bán ma túy dựa vào lời khai bị cáo khác là tình huống không hiếm gặp trong thực tiễn điều tra các vụ án ma túy có đồng phạm, khi một người bị đưa vào diện nghi vấn chỉ vì bị một bị can, bị cáo khác khai ra tên, mà chưa có vật chứng hay chứng cứ trực tiếp nào được thu giữ từ chính người đó. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều người bị khởi tố trong hoàn cảnh này rơi vào tâm lý hoang mang, không rõ lời khai của người khác có đủ sức nặng pháp lý để buộc tội mình hay không. Bài viết dưới đây phân tích giá trị pháp lý của loại lời khai này theo thủ tục tố tụng hình sự hiện hành, nguyên tắc suy đoán vô tội và hướng xử lý cụ thể để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Lời khai của một bị can, bị cáo về hành vi của người khác không đương nhiên được coi là căn cứ duy nhất để khởi tố hoặc kết tội người bị khai ra.
- Pháp luật tố tụng hình sự bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, không thuộc về người bị buộc tội.
- Quyết định khởi tố bị can chỉ hợp pháp khi cơ quan điều tra đã có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội, không phải khi mới có nghi vấn từ một nguồn tin duy nhất.
- Người bị khởi tố có quyền mời luật sư, yêu cầu đối chất và khiếu nại quyết định tố tụng nếu cho rằng căn cứ khởi tố chưa đầy đủ theo quy định.
Lời khai của bị cáo khác có được xem là chứng cứ duy nhất để khởi tố, kết tội không?
Không thể mặc nhiên khởi tố hoặc kết tội một người chỉ vì bị can, bị cáo khác có lời khai buộc tội họ. Lời khai là một nguồn chứng cứ được pháp luật tố tụng hình sự thừa nhận, nhưng nội dung lời khai phải được thu thập hợp pháp, kiểm tra và đánh giá về tính khách quan, tính liên quan cũng như sự phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.
Theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định và được sử dụng để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cùng những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các nguồn chứng cứ được pháp luật công nhận, trong đó có lời khai, lời trình bày. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án hình sự.
Đặc biệt, theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án. Việc đánh giá chứng cứ phải đặt trong mối liên hệ với các chứng cứ khác đã được thu thập.
Vì vậy, khi một bị can hoặc bị cáo khai rằng người khác cùng tham gia mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc thực hiện hành vi liên quan đến ma túy, cơ quan tiến hành tố tụng phải kiểm tra nội dung lời khai đó và làm rõ những tình tiết có liên quan trước khi sử dụng làm căn cứ buộc tội.
Nguyên tắc suy đoán vô tội và trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tố tụng
Theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Bên cạnh đó, Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội.
Do đó, trong trường hợp một người bị buộc tội chủ yếu từ lời khai của người khác, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải kiểm tra, xác minh và thu thập chứng cứ theo quy định để làm rõ sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Những chứng cứ có thể được đối chiếu với lời khai trong vụ án ma túy
Tùy từng vụ án, lời khai của người liên quan có thể được kiểm tra, đối chiếu với các nguồn chứng cứ khác được thu thập hợp pháp, chẳng hạn:
- Vật chứng: Chất nghi là ma túy, phương tiện hoặc đồ vật có liên quan đến hành vi bị điều tra.
- Kết luận giám định: Kết quả xác định loại chất, khối lượng chất ma túy và các vấn đề chuyên môn khác cần giám định.
- Dữ liệu điện tử: Tin nhắn, lịch sử liên lạc, dữ liệu giao dịch và những dữ liệu điện tử khác được thu thập theo đúng quy định.
- Lời khai của người làm chứng và người liên quan: Dùng để kiểm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi và những tình tiết khác của vụ việc.
- Biên bản hoạt động tố tụng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám xét, thu giữ, niêm phong vật chứng và các biên bản tố tụng khác.
- Hình ảnh, camera và dữ liệu kỹ thuật: Có thể được sử dụng để xác minh sự xuất hiện, di chuyển hoặc diễn biến của những người có liên quan nếu được thu thập hợp pháp.
- Tài liệu về giao dịch: Chứng từ và dữ liệu tài chính có thể được đối chiếu khi nội dung buộc tội liên quan đến hoạt động giao nhận tiền.
Việc có một hay nhiều nguồn chứng cứ không tự động quyết định một người có tội. Cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn bộ hệ thống chứng cứ và xác định liệu các chứng cứ có đủ hợp pháp, khách quan và thống nhất để chứng minh hành vi phạm tội hay không.
Người bị khởi tố nên làm gì khi căn cứ buộc tội chủ yếu là lời khai của người khác?
Khi hồ sơ thể hiện căn cứ buộc tội chủ yếu xuất phát từ lời khai của bị can hoặc bị cáo khác, người bị buộc tội và luật sư nên tập trung kiểm tra tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan của lời khai; đối chiếu lời khai qua các lần lấy cung với vật chứng, dữ liệu điện tử, kết luận giám định và những chứng cứ khách quan khác.
Nếu phát hiện mâu thuẫn, thiếu căn cứ hoặc chứng cứ chưa được kiểm tra đầy đủ, người bào chữa có thể thực hiện các quyền tố tụng theo quy định để đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh và đánh giá lại những nội dung có ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự.

Vì sao lời khai của đồng phạm cần được đánh giá thận trọng?
Trong vụ án ma túy có nhiều người cùng bị buộc tội, lời khai của một bị can về hành vi hoặc vai trò của người khác có thể là nguồn thông tin quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xác minh sự thật vụ án. Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào việc một đồng phạm khai bất lợi cho người khác để mặc nhiên xác định nội dung đó là đúng. Lời khai phải được kiểm tra về tính xác thực, tính phù hợp và được đối chiếu với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Pháp luật không mặc định lời khai của đồng phạm là thiếu khách quan
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không có quy định xác định lời khai của đồng phạm đương nhiên kém khách quan hoặc có giá trị chứng minh thấp hơn lời khai của người làm chứng.
Theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được liên quan đến vụ án.
Do đó, vấn đề không nằm ở tư cách “đồng phạm” của người khai mà nằm ở việc nội dung lời khai có được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng và chứng cứ khác hay không.
Tình tiết tích cực hợp tác có làm phát sinh động cơ khai bất lợi cho người khác không?
Theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” có thể được xem xét là có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đây là chính sách khoan hồng hợp pháp nhằm khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, không thể từ quy định này suy ra rằng người được hưởng hoặc mong muốn được hưởng tình tiết giảm nhẹ chắc chắn sẽ khai không đúng sự thật về người khác.
Ở góc độ đánh giá chứng cứ, khả năng một người có lợi ích liên quan đến kết quả giải quyết vụ án là một yếu tố thực tế mà luật sư có thể lưu ý khi kiểm tra độ tin cậy của lời khai. Nhưng muốn bác bỏ hoặc phản bác lời khai đó vẫn phải dựa trên chứng cứ, sự mâu thuẫn trong hồ sơ hoặc việc lời khai không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Không được lấy lời nhận tội làm chứng cứ duy nhất để kết tội
Một nguyên tắc có liên quan cần đặc biệt lưu ý là Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo quy định này, lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án và không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.
Quy định tại Điều 98 trực tiếp điều chỉnh lời nhận tội của chính bị can, bị cáo, vì vậy không nên diễn giải thành quy tắc rằng mọi lời khai của đồng phạm buộc tội người khác đều phải có một loại chứng cứ độc lập cụ thể mới có giá trị.
Tuy nhiên, kết hợp Điều 98 với nguyên tắc đánh giá chứng cứ tại Điều 108 cho thấy pháp luật tố tụng hình sự đặt ra yêu cầu thận trọng đối với việc chứng minh tội phạm: một nội dung buộc tội phải được xem xét trong tổng thể hệ thống chứng cứ, thay vì tách riêng một lời khai và mặc nhiên coi đó là sự thật đã được chứng minh.
Người bị khởi tố cần làm gì khi chỉ có lời khai của bị cáo khác buộc tội mình?
Khi cho rằng quyết định khởi tố chủ yếu dựa trên lời khai của một bị can, bị cáo khác mà chưa có chứng cứ kiểm chứng tương ứng, người bị khởi tố cần chủ động thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ mình. Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa được tham gia từ khi khởi tố bị can. Luật sư có thể hỗ trợ đánh giá căn cứ buộc tội, thu thập và cung cấp chứng cứ, đề nghị cơ quan tố tụng kiểm tra những tình tiết có lợi cho người bị buộc tội.
Bên cạnh việc mời luật sư, bị can có thể cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật và đưa ra yêu cầu theo quyền tố tụng của mình. Nếu lời khai buộc tội mâu thuẫn với lời khai khác hoặc chứng cứ khách quan, người bào chữa có thể đề nghị đối chất, thu thập thêm chứng cứ hoặc tiến hành hoạt động tố tụng cần thiết. Việc đánh giá trách nhiệm hình sự phải dựa trên tổng thể chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá, không nên chỉ suy luận từ một lời khai riêng lẻ.
Quyền đề nghị đối chất khi lời khai có mâu thuẫn
Theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hoặc nhiều người mà các biện pháp điều tra khác chưa giải quyết được thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Như vậy, đối chất là hoạt động điều tra được thực hiện khi đáp ứng điều kiện luật định, không phải cứ có yêu cầu của bị can thì cơ quan điều tra bắt buộc phải tiến hành.
Theo điểm g khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), người bào chữa có quyền đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng; đồng thời có quyền có mặt khi đối chất theo quy định. Khi lời khai buộc tội có mâu thuẫn đáng kể với chứng cứ hoặc lời khai khác, luật sư có thể đề nghị đối chất và yêu cầu kiểm tra, đánh giá các chứng cứ liên quan để làm rõ sự thật vụ án.
Quyền khiếu nại quyết định khởi tố bị can khi cho rằng thiếu căn cứ
Theo Điều 469 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, bị can có thể thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định khởi tố bị can nếu cho rằng quyết định đó không có căn cứ hoặc không đúng pháp luật.
Theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà mình cho rằng có vi phạm pháp luật. Trường hợp có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì khoảng thời gian tồn tại lý do đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Khi khiếu nại, người bị khởi tố nên tập trung chỉ ra căn cứ cho rằng quyết định khởi tố chưa được chứng minh bằng hệ thống chứng cứ khách quan, đồng thời cung cấp hoặc đề nghị thu thập chứng cứ có lợi, kiểm tra lời khai buộc tội và giải quyết các mâu thuẫn trong hồ sơ.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần được xác định theo chủ thể đã ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi tố tụng và giai đoạn tố tụng cụ thể, thay vì mặc định gửi đến một cơ quan duy nhất.
>>> Xem thêm: Thời hạn giải quyết khiếu nại trong các vụ án hình sự

Dịch vụ luật sư bào chữa khi bị khởi tố tội mua bán trái phép chất ma túy từ lời khai của người khác
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng bị khởi tố tội mua bán trái phép chất ma túy dựa trên lời khai của bị cáo khác với các công việc sau:
- Rà soát hồ sơ, quyết định khởi tố bị can và đối chiếu với căn cứ pháp luật hiện hành.
- Đánh giá giá trị chứng cứ của lời khai buộc tội và xác định các nguồn chứng cứ độc lập cần được củng cố.
- Tham gia bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra, có mặt trong các buổi lấy lời khai, hỏi cung và đối chất.
- Soạn thảo đơn khiếu nại quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ cho rằng việc khởi tố thiếu chứng cứ hợp pháp.
- Thu thập, cung cấp chứng cứ ngoại phạm, chứng cứ gỡ tội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
- Đại diện khách hàng làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về thắc mắc có bị khởi tố tội mua bán ma túy dựa vào lời khai bị cáo khác?
Dưới đây là một số câu hỏi thường được đặt ra khi một người bị khởi tố tội mua bán ma túy chỉ dựa vào lời khai của bị cáo khác.
1. Lời khai của một bị can khai ra người khác có được xem là chứng cứ duy nhất để khởi tố không?
Không. Theo khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Lời khai này chỉ có giá trị chứng minh khi phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp theo Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu chưa có chứng cứ độc lập nào củng cố, giá trị chứng minh của lời khai vẫn còn hạn chế.
2. Nếu chỉ có lời khai của đồng phạm, cơ quan điều tra có được khởi tố bị can không?
Cơ quan điều tra chỉ được ra quyết định khởi tố bị can khi đã có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội, theo khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu duy nhất có lời khai của một bị can khác mà chưa có bất kỳ chứng cứ nào khác củng cố, tính đầy đủ của căn cứ khởi tố cần được xem xét lại. Đây là cơ sở để người bị khởi tố hoặc luật sư yêu cầu đánh giá lại quyết định tố tụng.
3. Người bị khởi tố có quyền yêu cầu đối chất với người khai buộc tội mình không?
Người bị khởi tố không có quyền tự mình quyết định tổ chức đối chất, nhưng có quyền thông qua người bào chữa đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng này theo điểm g khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Việc đối chất được Điều tra viên tiến hành khi có mâu thuẫn trong lời khai theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Kết quả đối chất được lập thành biên bản, trở thành một phần hồ sơ vụ án
4. Khi nào nên mời luật sư nếu bị khởi tố dựa trên lời khai của người khác?
Nên mời luật sư ngay khi nhận được quyết định khởi tố bị can hoặc ngay khi biết mình bị nêu tên trong lời khai của người khác, không nên chờ đến khi vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố. Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa có thể tham gia tố tụng từ giai đoạn khởi tố. Việc tham gia sớm giúp luật sư đánh giá kịp thời tính hợp pháp của căn cứ buộc tội và có mặt trong các hoạt động điều tra quan trọng.
5. Có thể khiếu nại quyết định khởi tố bị can ở đâu, trong thời hạn bao lâu?
Người bị khởi tố có quyền khiếu nại quyết định khởi tố bị can theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nếu có căn cứ cho rằng quyết định đó trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của mình. Thời hạn khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định, theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đơn khiếu nại cần nêu rõ căn cứ pháp lý và gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
6. Nếu sau này người khai rút lại lời khai, vụ án có bị đình chỉ không?
Việc rút lại lời khai không đương nhiên dẫn đến đình chỉ vụ án, vì cơ quan tố tụng vẫn có trách nhiệm đánh giá toàn diện các chứng cứ đã thu thập theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, nếu lời khai đó là căn cứ chính hoặc duy nhất để khởi tố và nay đã bị rút lại mà không có chứng cứ khác thay thế, đây là tình tiết quan trọng để yêu cầu xem xét lại toàn bộ căn cứ buộc tội. Từng trường hợp cụ thể cần được luật sư đánh giá dựa trên toàn bộ hồ sơ vụ án.
Kết luận
Khởi tố tội mua bán ma túy dựa vào lời khai bị cáo khác là tình huống đòi hỏi người bị buộc tội phải hiểu rõ giá trị pháp lý thực sự của loại lời khai này để có phản ứng đúng đắn và kịp thời. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam không cho phép dùng một lời khai đơn lẻ làm căn cứ duy nhất để khởi tố, kết tội, đồng thời bảo đảm quyền được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ đánh giá hồ sơ, tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bào chữa giai đoạn điều tra, chứng cứ vụ án ma túy, kết luận giám định ma túy, Khiếu nại quyết định khởi tố, khởi tố tội mua bán ma túy, lời khai bị cáo khác, lời khai đồng phạm, luật sư bào chữa vụ án ma túy, người bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội, ối chất trong tố tụng hình sự, Quyền của bị can, Tội phạm ma túy, vụ án ma túy

Nếu như 2 lời khai của 2 người họ bị ép cung là phải khai tôi bán ma túy cho họ thì sao
Kính chào Quý Khách! Cảm ơn Quý Khách đã liên hệ. Quý Khách vui lòng trình bày cụ thể hơn sự việc để Chúng tôi có thể tư vấn được chính xác. Hoặc có thể để lại số điện thoại, chuyên viên tư vấn của Chúng tôi sẽ sớm liên hệ tư vấn.
Thưa luật sư cho em hỏi với ạ . Trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép ma túy bị cáo đã khai ra mua của em . Nhưng em không gặp mặt để đưa ma túy hay nhận tiền mặt mà em bảo họ chuyển vào số tài khoản mà e đã thuê trên mạng 5 năm chước . Sđt dùng để liên lạc ngày hôm ý cũng không phải là số chính chủ của em . Vậy luật sư cho em hỏi đã đủ căn cứ vào tội mua bán chưa ạ . *
Kính chào Quý Khách! Cảm ơn Quý Khách đã liên hệ. Quý Khách vui lòng để ý điện thoại, chuyên viên tư vấn của Chúng tôi sẽ sớm liên hệ tư vấn. Để được nhận tư vấn ngay, Quý khách có thể liên hệ đến hotline 1900636387 hoặc nhắn qua zalo 0939 846 973.