Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng theo quy định hiện hành

Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng vẫn được xác định theo đúng khung hình phạt của tội tàng trữ tiền giả, bởi hành vi này đã cấu thành tội phạm ngay từ thời điểm người mua cất giữ tiền giả trong tay, không phụ thuộc việc đã đưa tiền giả ra sử dụng hay chưa. Luật Long Phan PMT nhận thấy nhiều khách hàng nhầm tưởng rằng chỉ khi tiêu tiền giả mới bị xử lý, dẫn đến chậm trình báo và bỏ lỡ cơ hội được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây phân tích căn cứ pháp lý, mức phạt cụ thể và hướng xử lý khi lỡ mua, giữ tiền giả.

Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng theo Điều 207 Bộ luật Hình sự.
Hành vi tàng trữ tiền giả có thể bị xử lý hình sự dù tiền giả chưa được đưa vào sử dụng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Hành vi tàng trữ tiền giả bị xử lý hình sự ngay cả khi chưa đưa vào sử dụng, theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
  • Mức phạt tù thấp nhất đối với hành vi này là 03 năm tù, không có mức xử phạt hành chính thay thế một khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Người mua, giữ tiền giả chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi biết rõ đó là tiền giả, do tội danh này chỉ được thực hiện với lỗi cố ý theo cấu thành tội phạm quy định tại Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Người mua, giữ tiền giả chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi biết rõ đó là tiền giả, do tội danh này chỉ được thực hiện với lỗi cố ý theo cấu thành tội phạm quy định tại Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.

Mua tiền giả nhưng chưa sử dụng có bị coi là phạm tội không?

Có. Pháp luật hình sự Việt Nam coi tàng trữ là một trong bốn hành vi bị xử lý độc lập, tội phạm được coi là đã hoàn thành ngay khi người mua cất giữ tiền giả, không phụ thuộc việc tiền giả đã được đưa vào mua bán, trao đổi hay thanh toán hay chưa.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả đều bị xử lý hình sự với cùng một khung hình phạt cơ bản. Về mặt khách quan, “tiền giả” được hiểu là vật phẩm có một hoặc hai mặt mô phỏng hình ảnh, hoa văn, màu sắc, kích thước của tiền Việt Nam nhằm để được chấp nhận như tiền thật, theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 87/2023/NĐ-CP quy định về phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam. Một doanh nghiệp hoặc cá nhân mua một số tờ tiền giả rồi cất trong ví, trong két hoặc gửi người khác giữ hộ, dù chưa từng đem ra chi tiêu, đã hoàn thành đầy đủ dấu hiệu của hành vi tàng trữ.

04 hành vi bị xử lý theo Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015: làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành

Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) liệt kê bốn dạng hành vi khách quan độc lập với nhau: làm (sản xuất) tiền giả, tàng trữ (cất giữ) tiền giả, vận chuyển tiền giả và lưu hành tiền giả. Người thực hiện chỉ một trong bốn hành vi này đã đủ căn cứ để bị xử lý theo điều luật, không cần chứng minh đồng thời cả bốn hành vi.

Điểm cần phân biệt rõ là tàng trữ khác với lưu hành. Tàng trữ chỉ đơn thuần là hành vi cất giữ tiền giả ở bất kỳ hình thức, địa điểm nào, trong khi lưu hành là hành vi đưa tiền giả vào các giao dịch mua bán, trao đổi hoặc thanh toán thực tế. Người mua tiền giả rồi giữ lại một chỗ, chưa từng dùng để giao dịch, vẫn thuộc trường hợp tàng trữ theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015, không cần đợi đến khi có hành vi lưu hành mới bị xử lý.

Vì sao mua tiền giả nhưng chưa sử dụng không phải là giai đoạn chuẩn bị phạm tội?

Nhiều người lầm tưởng rằng khi chưa dùng tiền giả để mua bán, giao dịch thì hành vi của mình mới chỉ dừng ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, được hưởng mức phạt nhẹ hơn theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là cách hiểu sai vị trí của hành vi tàng trữ trong cấu trúc tội phạm.

Giai đoạn chuẩn bị phạm tội tại khoản 4 Điều 207 chỉ áp dụng cho người đang chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc thỏa thuận để thực hiện hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả nhưng chưa nhận được tiền giả trên thực tế, ví dụ đã đặt cọc mua tiền giả nhưng chưa nhận hàng. Một khi người mua đã thực tế nhận và cất giữ tiền giả, dù chỉ một tờ và chưa từng sử dụng thì tội phạm đã hoàn thành theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015, không còn ở giai đoạn chuẩn bị. Đối với trường hợp này, nên chủ động trình báo và hợp tác ngay với cơ quan có thẩm quyền, vì thời điểm và thái độ khai báo là yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc xem xét tình tiết giảm nhẹ khi xử lý vụ việc.

>>> Xem thêm: Sử dụng tiền giả có bị xử lý hình sự ?

Điều kiện để bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi mua, giữ tiền giả

Hai điều kiện bắt buộc phải cùng thỏa mãn để một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi mua, giữ tiền giả: người đó biết rõ đây là tiền giả tại thời điểm thực hiện hành vi, và người đó đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả chỉ được thực hiện với lỗi cố ý, tức người phạm tội nhận thức được tính chất giả của đồng tiền nhưng vẫn cố tình mua, giữ. Về độ tuổi, Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trong khi người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự với các tội danh cụ thể được liệt kê tại khoản 2 Điều 12.

Yếu tố biết rõ là tiền giả: ranh giới giữa cố ý phạm tội và nhận nhầm

Yếu tố “biết rõ là tiền giả” là ranh giới quan trọng nhất phân biệt hành vi cố ý phạm tội theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 với trường hợp nhận nhầm tiền giả một cách khách quan, ví dụ nhận tiền thối lại từ giao dịch mà không biết đó là tiền giả. Cơ quan điều tra thường căn cứ vào nguồn gốc số tiền, mức giá mua so với mệnh giá thật, cách thức giao dịch (công khai hay lén lút, qua kênh chính thống hay qua mạng xã hội, hội nhóm chuyên mua bán tiền giả) để xác định người mua có biết rõ hay không.

Trường hợp thực sự không biết đó là tiền giả khi nhận, người đó không bị coi là phạm tội theo Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015, nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ giao nộp ngay khi phát hiện ra sự việc, được trình bày cụ thể ở phần sau của bài viết. Với trường hợp ngoại lệ này, nên giữ lại toàn bộ chứng cứ liên quan đến việc nhận tiền (tin nhắn giao dịch, hóa đơn, người làm chứng) và trình báo ngay khi phát hiện dấu hiệu tiền giả, vì đây là cơ sở quan trọng để chứng minh không có lỗi cố ý nếu sự việc bị xem xét.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi mua, giữ tiền giả

Chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua, giữ tiền giả. Theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Trong khi đó, khoản 2 Điều 12 chỉ liệt kê một số tội danh cụ thể mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, và Điều 207 không nằm trong danh mục này.

Như vậy, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi mua, giữ tiền giả không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này, dù hành vi khách quan có thể giống hệt trường hợp của người đã đủ 16 tuổi. Đây là điểm khác biệt cần lưu ý khi vụ việc liên quan đến người chưa thành niên, vì hướng xử lý khi đó sẽ chuyển sang các biện pháp giáo dục, xử lý hành chính theo quy định riêng dành cho người chưa thành niên thay vì truy cứu hình sự.

Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự khi mua, giữ tiền giả theo quy định hiện hành.
Việc xử lý hình sự hành vi mua, giữ tiền giả phụ thuộc vào yếu tố biết rõ tiền giả và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng theo trị giá quy đổi

Mức phạt tù đối với hành vi mua, giữ tiền giả tăng dần theo trị giá tiền giả quy đổi, từ 03 năm tù đến tù chung thân, và mức phạt này không phụ thuộc việc tiền giả đã được sử dụng hay chưa vì tội phạm đã hoàn thành ngay khi tàng trữ.

Theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), khung hình phạt cụ thể như sau:

Khung Trị giá tiền giả Mức phạt
Khoản 1 Không phân biệt trị giá (đã tàng trữ) Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm
Khoản 2 Từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm
Khoản 3 Từ 50.000.000 đồng trở lên Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân
Khoản 4 (chuẩn bị phạm tội) — Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm
Khoản 5 (hình phạt bổ sung) — Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Cần lưu ý rằng “trị giá tương ứng” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 được xác định theo mệnh giá danh nghĩa mà tờ tiền giả thể hiện, không phải theo chi phí sản xuất hay giá mua bán thực tế trên thị trường tiền giả. Đây là bản Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực thi hành, khung hình phạt tại Điều 207 chưa bị sửa đổi.

Trường hợp cơ quan điều tra đã mời làm việc hoặc đã tiến hành thu giữ tang vật liên quan đến vụ việc, quý khách nên có luật sư đồng hành ngay từ buổi làm việc đầu tiên để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trong suốt quá trình điều tra.

>>> Xem thêm: Hình phạt tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

Trường hợp vô tình nhận phải tiền giả: nghĩa vụ giao nộp và rủi ro bị xử phạt hành chính

Người không biết là tiền giả khi nhận nhưng phát hiện ra sau đó có nghĩa vụ giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền; nếu không giao nộp, người đó bị xử phạt hành chính chứ không đương nhiên bị xử lý hình sự vì thiếu yếu tố lỗi cố ý.

Nghĩa vụ giao nộp và mức xử phạt trong trường hợp này được quy định tại Điều 8 Nghị định 87/2023/NĐ-CP quy định về phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 02/02/2024, thay thế Quyết định 130/2003/QĐ-TTg) và Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 20 Điều 1 Nghị định 143/2021/NĐ-CP).

Nghĩa vụ giao nộp tiền giả cho cơ quan có thẩm quyền

Theo quy định tại Điều 4 và Điều 8 Nghị định 87/2023/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân phát hiện mình đang có tiền giả phải giao nộp cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước nơi gần nhất, hoặc giao nộp cho cơ quan công an, cơ quan có thẩm quyền của quân đội, hải quan để các cơ quan này chuyển về Ngân hàng Nhà nước xử lý. Việc giao nộp phải được lập thành văn bản, ghi rõ loại tiền, số lượng, mệnh giá và vần seri tiền giả giao nộp.

Mức xử phạt hành chính nếu không giao nộp, không thông báo

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 20 Điều 1 Nghị định 143/2021/NĐ-CP), hành vi không thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện có dấu hiệu tàng trữ, lưu hành, vận chuyển tiền giả hoặc không giao nộp tiền giả theo quy định bị xử phạt bằng hình thức cảnh cáo. Trường hợp nghiêm trọng hơn, theo điểm a khoản 2 Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP, hành vi phát hiện tiền giả mà không thu giữ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Mức phạt tiền nêu trên áp dụng cho cá nhân; theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 88/2019/NĐ-CP, mức phạt đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt áp dụng cho cá nhân đối với cùng hành vi vi phạm.

Kinh nghiệm xử lý thực tế các vụ mua, giữ tiền giả

Trong thực tế xử lý các vụ việc tương tự, một sai lầm phổ biến mà khách hàng thường gặp là giữ lại tiền giả “để xem cho biết”, để đối chiếu với người bán hoặc chờ trả lại người đã đưa tiền giả cho mình, thay vì giao nộp hoặc trình báo ngay. Tâm lý “chưa xài nên chưa phạm tội” là nhận thức sai phổ biến nhất, khiến nhiều người vô tình kéo dài thời gian tàng trữ và làm mất đi tình tiết có thể được xem xét giảm nhẹ nếu tự nguyện khai báo sớm.

Qua các hồ sơ đã tiếp nhận, cơ quan điều tra thường xem xét kỹ nguồn gốc số tiền giả (mua ở đâu, của ai, qua kênh nào), số lượng và mệnh giá tiền giả đang giữ, thời điểm và cách thức cất giữ, cũng như lời khai của người liên quan ngay tại thời điểm bị phát hiện. Một chi tiết dễ bị bỏ qua là việc lưu giữ chứng cứ giao dịch: nếu người mua có thể chứng minh mình mua với giá gần bằng mệnh giá thật (dấu hiệu không biết là tiền giả) hay mua với giá rẻ bất thường (dấu hiệu biết rõ là tiền giả), kết quả đánh giá lỗi cố ý sẽ khác nhau đáng kể.

Cần làm gì ngay khi phát hiện mình đang giữ tiền giả?

Ngừng cất giữ hoặc sử dụng số tiền nghi giả, đồng thời trình báo cho cơ quan có thẩm quyền càng sớm càng có lợi cho việc xem xét trách nhiệm của người đang giữ tiền giả, theo quy định về giao nộp tiền giả tại Điều 4, Điều 8 Nghị định 87/2023/NĐ-CP và quy định về tiếp nhận tin báo tội phạm tại Điều 144, Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).

  1. Ngừng ngay việc sử dụng, chuyển nhượng hoặc cất giữ số tiền nghi giả ở nơi có thể bị coi là che giấu hành vi.
  2. Giữ nguyên hiện trạng tiền nghi giả, không viết, vẽ hoặc làm biến dạng thêm để phục vụ việc giám định sau này.
  3. Thu thập, lưu giữ chứng cứ liên quan đến nguồn gốc số tiền (tin nhắn, hóa đơn, người làm chứng nếu có).
  4. Giao nộp cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Điều 8 Nghị định 87/2023/NĐ-CP.
  5. Trình bày trung thực toàn bộ diễn biến sự việc khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền, có luật sư hỗ trợ nếu vụ việc có dấu hiệu phức tạp.
Các bước xử lý khi phát hiện đang giữ tiền giả và thực hiện giao nộp theo quy định.
Khi phát hiện đang giữ tiền nghi giả, cần bảo toàn hiện trạng, lưu chứng cứ và giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền.

Rủi ro pháp lý cần lưu ý liên quan đến hành vi mua, giữ tiền giả

Mua số lượng lớn hoặc mua nhiều lần từ cùng một nguồn có thể khiến cơ quan điều tra xem xét thêm dấu hiệu đồng phạm với người làm hoặc lưu hành tiền giả, theo quy định về đồng phạm tại Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015. Bên cạnh đó, việc thiếu bằng chứng chứng minh nguồn gốc “nhận nhầm” khiến người giữ tiền giả khó tách biệt tình huống của mình với hành vi cố ý mua, giữ theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.

  • Rủi ro bị đánh giá là đồng phạm nếu có liên hệ thường xuyên, có trao đổi thông tin với người sản xuất hoặc lưu hành tiền giả.
  • Rủi ro bị áp dụng khung hình phạt cao hơn nếu tổng trị giá tiền giả các lần mua cộng dồn vượt ngưỡng 5.000.000 đồng hoặc 50.000.000 đồng theo khoản 2, khoản 3 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Rủi ro về tang vật, phương tiện bị tịch thu theo hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015, kể cả khi số tiền giả bị thu giữ chưa được đưa vào sử dụng.

Thông tin liên hệ

Nếu Quý khách còn vướng mắc về mức phạt mua, giữ tiền giả, cách xác định yếu tố lỗi cố ý hay thủ tục giao nộp, trình báo khi lỡ giữ tiền giả, Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ đánh giá tính chất vụ việc, thu thập chứng cứ chứng minh yếu tố lỗi và đại diện làm việc với cơ quan có thẩm quyền.

Tham khảo ngay: Dịch vụ luật sư hình sự

📞 Hotline: 1900 636 387

✉️ Email: pmt@luatlongphan.vn

💬 Zalo: 0939 846 973

📍 TRỤ SỞ CÔNG TY: Phòng A1, tầng 14, tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng tư vấn: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Văn phòng giao dịch tại Thủ Đức: Tầng trệt lửng, Lô thương mại TM7, số 17 đường số 3, Phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

📍 Chi nhánh tại Hà Nội: Tầng 6 Tòa nhà MD Complex, số 68 Nguyễn Cơ Thạch, Phường Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email hoặc Zalo nêu trên để được đánh giá sơ bộ.

☎ GỌI HOTLINE

💬 LIÊN HỆ ZALO

✉ GỬI EMAIL

Câu hỏi thường gặp về mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng

Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi lỡ mua, giữ tiền giả nhưng chưa kịp sử dụng. Các câu trả lời dựa trên quy định hiện hành của Bộ luật Hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến phòng, chống tiền giả.

1. Mua tiền giả nhưng chưa kịp sử dụng có bị đi tù không?

Có. Theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), hành vi tàng trữ tiền giả đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không cần chờ đến khi tiền giả được đưa vào sử dụng. Mức phạt thấp nhất của khung này là 03 năm tù. Việc chưa sử dụng tiền giả không phải là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ là một tình tiết có thể được cơ quan xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt.

2. Không biết đó là tiền giả khi mua thì có bị xử lý hình sự không?

Không, nếu chứng minh được người mua thực sự không biết đó là tiền giả tại thời điểm giao dịch, vì tội danh tại Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 chỉ được thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, ngay khi phát hiện ra mình đang giữ tiền giả, người đó có nghĩa vụ giao nộp theo Điều 8 Nghị định 87/2023/NĐ-CP. Không giao nộp trong trường hợp này có thể bị xử phạt hành chính theo khoản 1 Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP.

3. Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng cao nhất là bao nhiêu?

Mức phạt cao nhất theo khoản 3 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng khi trị giá tiền giả tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần, toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015.

4. Nhặt được hoặc vô tình nhận tiền giả mà không giao nộp thì bị phạt gì?

Người phát hiện tiền giả mà không thu giữ, không giao nộp bị xử phạt hành chính theo Điều 31 Nghị định 88/2019/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 143/2021/NĐ-CP). Cụ thể, hành vi không giao nộp bị phạt cảnh cáo theo khoản 1, còn hành vi phát hiện mà không thu giữ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo điểm a khoản 2 Điều 31 Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt cá nhân theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 88/2019/NĐ-CP.

5. Người dưới 18 tuổi mua, giữ tiền giả có bị xử lý hình sự không?

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này vì đã đủ 16 tuổi theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Ngược lại, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này vì Điều 207 không thuộc danh mục tội danh áp dụng cho độ tuổi này tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Trường hợp người chưa thành niên phạm tội, mức hình phạt cụ thể còn được xem xét theo các quy định riêng dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội.

6. Mua số lượng nhỏ tiền giả để “xem cho biết” có bị xử lý không?

Có, vì Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 không đặt ra ngưỡng số lượng hay trị giá tối thiểu để xác định hành vi tàng trữ có cấu thành tội phạm hay không; số lượng, trị giá tiền giả chỉ ảnh hưởng đến việc xác định khung hình phạt cụ thể theo khoản 2, khoản 3 Điều 207. Việc mua dù chỉ một tờ tiền giả với mục đích cá nhân, không nhằm đưa vào lưu hành, vẫn có thể bị xử lý theo khoản 1 Điều 207 nếu người mua biết rõ đó là tiền giả. Trong thực tế, đây là nhận thức sai phổ biến khiến nhiều người chủ quan giữ lại tiền giả thay vì giao nộp ngay.

Kết luận

Mức phạt mua tiền giả nhưng không sử dụng không nhẹ hơn so với trường hợp đã đưa tiền giả vào lưu hành, bởi hành vi tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 207 Bộ luật Hình sự 2015 ngay từ thời điểm cất giữ. Việc xác định đúng yếu tố lỗi, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chủ động thực hiện nghĩa vụ giao nộp là những yếu tố quyết định đến hướng xử lý và mức độ trách nhiệm của người liên quan. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng đánh giá vụ việc cụ thể và tư vấn phương án xử lý phù hợp; quý khách cần tư vấn có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi 2025)
  • Nghị định 87/2023/NĐ-CP quy định về phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Nghị định 88/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 143/2021/NĐ-CP).
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.

Tags: , , , , , , , , , , , ,

Vũ Viết Năng

Luật sư Vũ Viết Năng nguyên là Chánh án, Thẩm phán TAND huyện Hải Hậu, Nam Định. Hiện là Luật sư Cộng sự của Công ty Luật Long Phan PMT. Luật sư có 35 năm kinh nghiệm trong công tác xét xử, chuyên môn trong các lĩnh vực Hành chính, dân sự, hợp đồng. Luật sư luôn sẵn sàng tư vấn pháp lí miễn phí cho các đối tượng khó khăn và là điểm tựa để thân chủ đặt niềm tin khi đang gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

  Miễn Phí: 1900.63.63.87