Lái xe tông chết người có thể phát sinh trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ bồi thường dân sự. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp tai nạn chết người đều bị phạt tù. Việc xác định lỗi, nguyên nhân tai nạn và trách nhiệm của người điều khiển phương tiện cần được đánh giá dựa trên hồ sơ, chứng cứ cụ thể. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết hành vi lái xe tông chết người, hỗ trợ xác định trách nhiệm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Lái xe tông chết người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và hành vi đó có quan hệ nhân quả với hậu quả chết người xảy ra.
- Trường hợp lỗi hoàn toàn thuộc về người bị hại, người điều khiển phương tiện không đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người.
- Việc đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân không đương nhiên miễn trách nhiệm hình sự, nhưng là căn cứ quan trọng để xem xét miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt trong các trường hợp pháp luật cho phép.
- Trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại được giải quyết song song, độc lập với nhau, người bị tuyên hình phạt tù vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo bản án.
Lái xe tông chết người phải đối mặt với những loại trách nhiệm pháp lý nào theo quy định hiện hành?
Một người điều khiển ô tô không chú ý quan sát khi rẽ tại giao lộ đã tông trúng người đi bộ đang sang đường đúng vạch kẻ, khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Với hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông dẫn đến hậu quả chết người như trên, người lái xe có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đồng thời còn phải đối mặt với trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự phát sinh song song.
Trách nhiệm hình sự đối với người điều khiển phương tiện gây tai nạn chết người
Không phải cứ lái xe gây tai nạn làm chết người là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xử lý theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), cơ quan có thẩm quyền phải xác định người điều khiển phương tiện có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông, có lỗi và hành vi đó có quan hệ nhân quả với hậu quả chết người.
- Theo điểm a khoản 1 Điều 260, trường hợp vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm chết 01 người, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Mức hình phạt có thể tăng lên từ 03 năm đến 10 năm tù nếu vụ việc thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 260. Chẳng hạn, người điều khiển không có giấy phép lái xe theo quy định; trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn vượt mức quy định; có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông, hoặc làm chết 02 người.
- Trường hợp làm chết 03 người trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo khoản 3 Điều 260.
- Ngoài ra, khoản 4 Điều 260 còn quy định trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thuộc khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 nhưng hậu quả chưa xảy ra. Mức phạt trong trường hợp này là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 5 Điều 260.
Vì vậy, khi giải quyết vụ tai nạn chết người, không nên chỉ căn cứ vào hậu quả để xác định trách nhiệm hình sự. Cần xem xét toàn bộ diễn biến vụ việc, quy tắc giao thông bị vi phạm, mức độ lỗi của người điều khiển, lỗi của người bị hại và mối quan hệ giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xác định người lái xe có bị truy cứu trách nhiệm hình sự và nếu có thì thuộc khung hình phạt nào.
Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân
Bên cạnh trách nhiệm hình sự, vụ tai nạn làm chết người còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự. Việc xác định người có nghĩa vụ bồi thường phải căn cứ vào nguyên nhân gây thiệt hại, lỗi của các bên và quy định về trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ.
Theo khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trường hợp chủ sở hữu đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người được giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đối với thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, khoản 1 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các khoản thiệt hại được bồi thường gồm thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng và thiệt hại khác do luật quy định.
Ngoài ra, người có trách nhiệm bồi thường còn phải bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết. Nếu không có những người này thì khoản bồi thường được xác định cho người mà người chết đã trực tiếp nuôi dưỡng hoặc người đã trực tiếp nuôi dưỡng người chết. Mức bồi thường trước hết do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở theo khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015.
Cần lưu ý, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường dân sự là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Việc người điều khiển phương tiện không bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn nghĩa vụ bồi thường nếu theo quy định dân sự vẫn phát sinh trách nhiệm. Ngược lại, việc đã bồi thường hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi giải quyết trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt theo quy định pháp luật.
Trách nhiệm hành chính khi hành vi không cấu thành tội phạm
Trường hợp người điều khiển phương tiện gây tai nạn nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xem xét hành vi có vi phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay không. Nếu có vi phạm hành chính, người điều khiển phương tiện có thể bị xử phạt theo quy định pháp luật.
Mức phạt và hình thức xử lý phụ thuộc vào hành vi vi phạm cụ thể, chẳng hạn vi phạm quy tắc nhường đường, không chú ý quan sát, không chấp hành tín hiệu giao thông hoặc các quy định khác về an toàn giao thông. Việc tai nạn làm chết người không đồng nghĩa với việc mọi hành vi vi phạm đều bị xử phạt theo cùng một mức; cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác hành vi và căn cứ xử phạt tương ứng.
Ngược lại, nếu kết quả xác minh cho thấy người điều khiển không có hành vi vi phạm quy định giao thông và không có căn cứ xác định lỗi, thì không có cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính đối với người này chỉ vì tai nạn đã xảy ra.
Lưu ý: Nếu hành vi ban đầu có dấu hiệu tội phạm nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng quyết định không khởi tố, hồ sơ có thể được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét xử lý vi phạm hành chính nếu hành vi đó có đủ dấu hiệu vi phạm hành chính.
Quy trình cơ quan chức năng giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả chết người diễn ra như thế nào?
Quy trình giải quyết một vụ lái xe tông chết người trải qua nhiều giai đoạn tố tụng, mỗi giai đoạn có thời hạn luật định riêng tùy thuộc vào việc vụ án bị xử lý theo khung hình phạt nào của Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015. Việc nắm rõ trình tự và thời hạn từng giai đoạn giúp gia đình người bị tạm giữ, bị can chủ động chuẩn bị chứng cứ và thực hiện quyền của mình đúng thời điểm.
Cảnh sát giao thông lập hồ sơ, khám nghiệm hiện trường và đánh giá ban đầu về tính chất pháp lý
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, lực lượng Cảnh sát giao thông có mặt tại hiện trường lập biên bản, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lấy lời khai người liên quan và trưng cầu giám định pháp y để xác định nguyên nhân tử vong. Đây là bước thu thập chứng cứ ban đầu, làm cơ sở đánh giá vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không.
Chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra khi phát hiện dấu hiệu tội phạm
Nếu trong quá trình giải quyết vụ tai nạn phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, hồ sơ vụ việc phải được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để xem xét, giải quyết.
Theo khoản 1 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, khi xem xét vụ việc để quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Sau khi tiếp nhận và kiểm tra nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Nếu có đủ căn cứ xác định vụ việc có dấu hiệu của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Sau khi xác định một người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm và có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành khởi tố bị can đối với người đó.
Do đó, cần phân biệt khởi tố vụ án với khởi tố bị can. Khởi tố vụ án nhằm xác định một sự việc có dấu hiệu tội phạm cần được điều tra, còn khởi tố bị can nhằm xác định người cụ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Giai đoạn điều tra và thời hạn điều tra vụ án hình sự
Theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
- Đối với trường hợp làm chết 01 người thuộc khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù nên đây là tội phạm nghiêm trọng. Thời hạn điều tra ban đầu không quá 03 tháng.
- Đối với trường hợp thuộc khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, mức hình phạt cao nhất lần lượt là 10 năm và 15 năm tù, thuộc tội phạm rất nghiêm trọng. Thời hạn điều tra ban đầu không quá 04 tháng.
Trường hợp vụ án phức tạp, Cơ quan điều tra được gia hạn điều tra theo thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Giai đoạn truy tố và thời hạn Viện kiểm sát quyết định việc truy tố
Sau khi kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định bị can đã thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra lập bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Theo khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại Tòa án
Sau khi nhận hồ sơ và cáo trạng, Tòa án có thẩm quyền tiến hành thụ lý và chuẩn bị xét xử.
Theo khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong thời hạn 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những chủ thể có quyền kháng cáo theo luật định có thể kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị. Nếu có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp lái xe tông chết người không bị xử lý hình sự
Không phải mọi vụ tai nạn giao thông có người tử vong đều dẫn đến việc người điều khiển phương tiện bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông, có lỗi và có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả chết người hay không.
Nếu người điều khiển phương tiện đã tuân thủ các quy tắc giao thông, không có lỗi và hậu quả xảy ra hoàn toàn do hành vi của người bị hại hoặc nguyên nhân khách quan khác, thì không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người điều khiển về hậu quả đó.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đối với hành vi thuộc khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260, đây là tội phạm rất nghiêm trọng, nên không thể áp dụng khoản 3 Điều 29 chỉ dựa trên căn cứ người phạm tội đã bồi thường và được gia đình nạn nhân đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Nội dung dịch vụ luật sư tư vấn, bào chữa cho vụ việc lái xe tông chết người
Luật Long Phan PMT hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc lái xe tông chết người với năm nhóm công việc trọng tâm, bám sát từng giai đoạn tố tụng của vụ án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ một cách xuyên suốt.
- Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc, kết luận giám định pháp y, biên bản hiện trường và các tài liệu liên quan để đánh giá.
- Xây dựng phương án bảo vệ, bào chữa tối ưu.
- Tư vấn hướng giải quyết trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc.
- Soạn thảo văn bản, đơn từ trong quá trình giải quyết vụ việc như: đơn xin cứu xét, đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn kháng cáo và các văn bản pháp lý cần thiết khác trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Hỗ trợ thân chủ xác minh, thu thập chứng cứ.
- Nhận bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Quy trình cung cấp dịch vụ pháp lý tại Luật Long Phan PMT diễn ra theo các bước nào?
Để bảo đảm quyền lợi khách hàng được bảo vệ kịp thời ngay từ giai đoạn đầu vụ việc, Luật Long Phan PMT triển khai dịch vụ theo quy trình sau:
- Tiếp nhận thông tin, hồ sơ ban đầu và đánh giá sơ bộ tính chất pháp lý của vụ việc.
- Trao đổi trực tiếp với khách hàng để làm rõ diễn biến sự việc, xác định giai đoạn tố tụng hiện tại.
- Xây dựng phương án bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi, thống nhất phạm vi công việc và chi phí dịch vụ với khách hàng.
- Luật sư trực tiếp làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án theo từng giai đoạn tố tụng.
- Cập nhật tiến độ giải quyết vụ việc thường xuyên cho khách hàng đến khi có kết quả cuối cùng.

Hướng bào chữa của luật sư khi lái xe tông chết người đối mặt với trách nhiệm hình sự
Tùy vào tính chất, mức độ lỗi và các tình tiết cụ thể của từng vụ việc, luật sư xây dựng một trong các hướng bào chữa sau đây nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của thân chủ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Đề nghị miễn trách nhiệm hình sự khi đủ điều kiện luật định
Đối với trường hợp người điều khiển phương tiện bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi thuộc khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự, luật sư có thể đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét miễn trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, người phạm tội phải thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe, đồng thời đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Việc đã bồi thường và được gia đình bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự không làm phát sinh quyền đương nhiên được miễn. Cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đánh giá đầy đủ các điều kiện theo khoản 3 Điều 29 và tình tiết cụ thể của vụ án.
Đề nghị Tòa án xem xét cho hưởng án treo
Trường hợp người phạm tội bị Tòa án tuyên phạt tù nhưng mức hình phạt không quá 03 năm, luật sư có thể đề nghị xem xét cho hưởng án treo nếu người phạm tội đáp ứng các điều kiện luật định.
Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, Tòa án xem xét nhiều yếu tố như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định và việc xét thấy không cần thiết phải bắt người phạm tội chấp hành hình phạt tù.
Do đó, luật sư có thể hỗ trợ thu thập các tài liệu chứng minh nhân thân, hoàn cảnh gia đình, nơi cư trú hoặc làm việc ổn định, quá trình chấp hành pháp luật, việc bồi thường và các tình tiết giảm nhẹ khác để đề nghị Tòa án xem xét áp dụng án treo nếu đủ điều kiện.
Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt
Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, tùy trường hợp có thể xem xét các tình tiết khác như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định pháp luật.
Luật sư có thể hỗ trợ thân chủ chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại trong khả năng thực tế và thu thập tài liệu chứng minh các tình tiết giảm nhẹ để đề nghị Tòa án cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Trường hợp có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, Tòa án còn có thể xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ có tình tiết giảm nhẹ thì đương nhiên được xử dưới mức khởi điểm của khung hình phạt.
Đấu tranh về tội danh, khung hình phạt khi cơ quan buộc tội chưa phù hợp với hồ sơ vụ án
Đây là một trong những hướng bào chữa quan trọng đối với các vụ án tai nạn giao thông gây chết người.
Luật sư cần kiểm tra toàn bộ chứng cứ để xác định người điều khiển phương tiện có thực sự vi phạm quy định về tham gia giao thông hay không, mức độ lỗi như thế nào và hành vi vi phạm có phải là nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người hay không.
Trường hợp hồ sơ chưa đủ căn cứ xác định lỗi hoặc có căn cứ cho thấy lỗi thuộc về người bị hại, luật sư có thể đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá lại quan hệ nhân quả giữa hành vi của người lái xe và hậu quả xảy ra.
Nếu đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng việc áp dụng tình tiết định khung chưa phù hợp, luật sư có thể đề nghị xác định lại khung hình phạt. Chẳng hạn, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng khoản 2 Điều 260 nhưng chứng cứ không đủ chứng minh tình tiết định khung tương ứng, luật sư có thể đưa ra lập luận và chứng cứ để đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 260 nếu phù hợp với bản chất vụ án.
Câu hỏi thường gặp về trách nhiệm pháp lý khi lái xe tông chết người
Dưới đây là một số câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi lái xe tông chết người. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.
1. Lái xe tông chết người bị đi tù bao nhiêu năm?
Mức án cụ thể phụ thuộc vào tình tiết định khung của từng vụ việc. Theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, làm chết 01 người mà không có tình tiết tăng nặng định khung thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm hoặc hình phạt nhẹ hơn. Nếu thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác, bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn, làm chết 02 người… thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm theo khoản 2 Điều 260.
2. Người gây tai nạn có được tại ngoại trong quá trình điều tra không?
Việc tạm giam hay cho tại ngoại do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, không phải mọi trường hợp đều bị tạm giam. Trong một số trường hợp, nếu không cần thiết phải tạm giam, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp khác như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Nếu lái xe không phải chủ xe thì ai phải bồi thường thiệt hại?
Theo Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại; nếu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người được giao phải bồi thường, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì trách nhiệm bồi thường được xác định theo khoản 4 Điều 601.Trách nhiệm bồi thường này độc lập với trách nhiệm hình sự của người trực tiếp điều khiển phương tiện gây tai nạn.
4. Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe cơ giới chi trả tối đa bao nhiêu?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 67/2023/NĐ-CP, giới hạn trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do xe cơ giới gây ra là 150.000.000 đồng cho một người trong một vụ tai nạn. Phần thiệt hại vượt quá mức chi trả bảo hiểm, chủ xe hoặc người điều khiển phương tiện có trách nhiệm bồi thường thêm theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
5. Lái xe tông chết người có bị tước giấy phép lái xe không?
Không phải mọi trường hợp lái xe gây tai nạn chết người đều đương nhiên bị tước giấy phép lái xe. Nếu hành vi cấu thành tội phạm, Tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 nếu xét thấy cần thiết.
Ngoài ra, trong giai đoạn xác minh ban đầu, cơ quan chức năng có thể tạm giữ giấy phép lái xe theo quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP để phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc.
6. Ngoài bồi thường dân sự, gia đình nạn nhân có quyền yêu cầu gì khác?
Ngoài quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, gia đình nạn nhân với tư cách bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại có quyền tham gia tố tụng, trình bày ý kiến, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án về phần dân sự hoặc hình phạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Gia đình bị hại cũng có quyền tự nguyện hòa giải hoặc từ chối hòa giải với người gây tai nạn.
Kết luận
Lái xe tông chết người là vụ việc kéo theo đồng thời trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, tùy thuộc vào lỗi, nguyên nhân và tình tiết cụ thể của vụ tai nạn. Việc xác định đúng mức độ lỗi, tình tiết định khung và tận dụng các cơ chế miễn, giảm trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật là yếu tố quyết định đến kết quả cuối cùng của vụ án. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ khách hàng đánh giá vụ việc và xây dựng phương án bào chữa, bảo vệ quyền lợi phù hợp. Quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
- Bộ luật Dân sự 2015
- Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, giảm nhẹ hình phạt, kháng cáo vụ án giao thông, khởi tố vụ án giao thông, Luật sư bào chữa các tội xâm phạm an toàn công cộng, luật sư bào chữa tai nạn giao thông, Miễn trách nhiệm hình sự, nguồn nguy hiểm cao độ, Trách nhiệm hình sự tai nạn giao thông, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.