Căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ số 86/2026/AL là vấn đề Luật Long Phan PMT nhận được nhiều câu hỏi từ doanh nghiệp sau khi án lệ được công bố. Án lệ làm rõ một tình huống đặc thù trong thủ tục tố tụng dân sự, khi sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, phát hiện tình tiết mới liên quan đến hành vi của người đại diện theo pháp luật của bị đơn có khả năng làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án. Bài viết phân tích các căn cứ kháng nghị tái thẩm theo quy định pháp luật hiện hành và làm rõ giá trị, phạm vi áp dụng của Án lệ số 86/2026/AL đối với các vụ việc tương tự.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Quyết định khởi tố bị can đối với người đại diện theo pháp luật của bị đơn có thể là tình tiết mới làm phát sinh căn cứ kháng nghị tái thẩm, theo Điều 351, Điều 352 và khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị, theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Khi thụ lý lại vụ án, Tòa án phải tạm đình chỉ để chờ kết quả vụ án hình sự liên quan, theo điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Không phải mọi quyết định khởi tố đều là căn cứ kháng nghị tái thẩm — Án lệ 86/2026/AL chỉ áp dụng khi hành vi bị khởi tố gắn trực tiếp với nghĩa vụ đã tuyên trong bản án.
Bối cảnh vụ án làm phát sinh Án lệ 86/2026
Án lệ số 86/2026/AL xuất phát từ tranh chấp tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp, trong đó sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, Cơ quan điều tra phát hiện và khởi tố người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp về hành vi có liên quan trực tiếp đến khoản vay đang là đối tượng tranh chấp.
Ngày 21/3/2011, Ngân hàng Q và Công ty T ký hợp đồng tín dụng hạn mức với tổng mức cam kết tối đa 300 tỷ đồng (trong đó hạn mức bảo lãnh tối đa 200 tỷ đồng) để tài trợ vốn lưu động, mở L/C nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh thép, phôi thép và than. Phát sinh tranh chấp, Ngân hàng Q khởi kiện Công ty T. Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày 22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật, buộc Công ty T trả cho Ngân hàng Q số tiền 535.605.196.882 đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ông Đoàn Hồng D — người đại diện theo pháp luật của Công ty T — và bà Nguyễn Thị Thanh S về hành vi liên quan trực tiếp đến khoản vay nêu trên. Trên cơ sở này, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định kháng nghị tái thẩm số 23/2021/KN-KDTM ngày 10/12/2021, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử tái thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.
Nguồn của án lệ là Quyết định tái thẩm số 05/2022/KDTM-TT ngày 25/02/2022 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Án lệ số 86/2026/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21/5/2026 và công bố theo Quyết định 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Sự kiện pháp lý nào được Án lệ 86/2026 xác định là căn cứ xem xét kháng nghị tái thẩm?
Quyết định khởi tố bị can đối với người đại diện theo pháp luật của bị đơn, cùng văn bản, tài liệu kèm theo của Cơ quan điều tra, là sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026 đối với bản án dân sự, kinh doanh thương mại đã có hiệu lực buộc bị đơn trả nợ, khi hành vi bị khởi tố gắn trực tiếp với khoản nợ đã tuyên.
Theo nhận định của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại Quyết định tái thẩm số 05/2022/KDTM-TT, hành vi của người đại diện theo pháp luật của Công ty T được Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định là hành vi phạm tội — đây là tình tiết mới được phát hiện, có khả năng làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST, là căn cứ để kháng nghị vụ án theo thủ tục tái thẩm. Về mặt pháp lý, kết luận này dựa trên Điều 351, Điều 352 và khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 — các điều khoản quy định về tính chất, căn cứ và việc thông báo tình tiết mới của thủ tục tái thẩm.
Điểm cần lưu ý là Án lệ số 86/2026/AL không tạo ra một căn cứ tái thẩm mới ngoài các căn cứ do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Án lệ làm rõ việc áp dụng căn cứ “tình tiết mới được phát hiện” tại khoản 1 Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vào tình huống có sự đan xen giữa quan hệ tín dụng dân sự và dấu hiệu tội phạm hình sự của chính người đại diện bên có nghĩa vụ trả nợ.

Vì sao quyết định khởi tố bị can là “tình tiết mới” theo Điều 352 BLTTDS 2015?
Để xác định quyết định khởi tố bị can có được xem là “tình tiết mới” làm căn cứ kháng nghị tái thẩm hay không, cần đối chiếu sự kiện này với các căn cứ tái thẩm được quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cụ thể, bốn nhóm căn cứ kháng nghị tái thẩm được phân biệt như sau:
Bốn nhóm căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Điều 352 BLTTDS 2015 — sự kiện thuộc nhóm nào?
Theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi thuộc một trong 4 nhóm căn cứ luật định, không được tự ý mở rộng ngoài phạm vi này.
| Căn cứ (Điều 352 BLTTDS 2015) | Nội dung |
| Khoản 1 | Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án |
| Khoản 2 | Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ |
| Khoản 3 | Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật |
| Khoản 4 | Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ |
Án lệ 86/2026 áp dụng đúng nhóm căn cứ khoản 1 Điều 352 — quyết định khởi tố bị can là tình tiết quan trọng mà tại thời điểm xét xử sơ thẩm, cả Tòa án lẫn Ngân hàng Q đều không thể biết được, vì Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chỉ ra quyết định khởi tố sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Hành vi gian dối trong trả nợ bị khởi tố về tội gì, vì sao làm thay đổi bản chất tranh chấp?
Trong vụ án nguồn của Án lệ số 86/2026/AL, ông Đoàn Hồng D và bà Nguyễn Thị Thanh S bị Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng khởi tố về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Cơ quan điều tra xác định ông Đoàn Hồng D có hành vi gian dối trong việc trả nợ, liên quan đến số tiền 86 tỷ đồng nợ gốc.
Điểm đáng chú ý là tại thời điểm giải quyết vụ án tín dụng, những tình tiết này chưa được biết đến. Sau khi bản án có hiệu lực, việc Cơ quan điều tra xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm và ban hành quyết định khởi tố cùng các tài liệu liên quan đã tạo ra một tình tiết mới có khả năng ảnh hưởng đến việc xác định bản chất và hậu quả pháp lý của quan hệ tranh chấp. Vì vậy, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định đây là tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án và là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Tuy nhiên, cần phân biệt “khởi tố” với “kết luận có tội”. Việc một người bị khởi tố không đồng nghĩa với việc người đó đã bị xác định có tội bằng bản án hình sự có hiệu lực. Giá trị của quyết định khởi tố trong trường hợp này, theo Án lệ số 86/2026/AL, nằm ở việc đây là sự kiện pháp lý mới làm phát sinh căn cứ xem xét kháng nghị tái thẩm, chứ không phải bản thân quyết định khởi tố đã thay thế hoặc phủ nhận ngay nghĩa vụ được xác định trong bản án dân sự trước đó.
Do đó, Án lệ số 86/2026/AL không tạo thêm một căn cứ tái thẩm ngoài Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, mà làm rõ cách áp dụng căn cứ “tình tiết mới được phát hiện” trong trường hợp sau khi bản án có hiệu lực mới xuất hiện quyết định khởi tố bị can và tài liệu của Cơ quan điều tra có liên quan trực tiếp đến nội dung tranh chấp.
Thủ tục kháng nghị tái thẩm được thực hiện như thế nào sau khi phát hiện sự kiện pháp lý mới?
Sau khi phát hiện tình tiết mới có khả năng làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực, đương sự hoặc cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản.
Ai có nghĩa vụ thông báo và ai có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm?
Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện tình tiết mới của vụ án có quyền thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị; trường hợp Viện kiểm sát, Tòa án phát hiện tình tiết mới thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 Bộ luật này.
Về thẩm quyền kháng nghị, khoản 1 và khoản 2 Điều 354 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2025, gắn với việc tổ chức lại hệ thống Tòa án theo mô hình hai cấp) quy định:
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và bản án, quyết định của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Doanh nghiệp cần lưu ý rằng cơ cấu thẩm quyền nêu trên là mô hình áp dụng từ 01/7/2025 trở đi, khác với thời điểm phát sinh vụ việc gốc của Án lệ 86/2026 (khi hệ thống Tòa án còn tổ chức theo cấp huyện và cấp cao); trước khi soạn văn bản đề nghị kháng nghị, nên xác định đúng cấp Tòa án đã ra bản án bị đề nghị xem xét lại để gửi đúng địa chỉ có thẩm quyền, tránh mất thời gian chuyển đơn.
Thời hạn kháng nghị tái thẩm là bao lâu?
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo Điều 355 Bộ luật này. Doanh nghiệp cần theo dõi sát tiến độ vụ án hình sự liên quan để đề nghị kháng nghị kịp thời trong mốc thời gian này, vì mốc 01 năm được tính từ thời điểm người có thẩm quyền biết được tình tiết mới, không phải từ ngày bản án dân sự có hiệu lực.
Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền quyết định những gì?
Theo Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tái thẩm có ba thẩm quyền:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại;
- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong vụ việc làm phát sinh Án lệ 86/2026/AL, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 23/2021/KN-KDTM, hủy toàn bộ Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Vụ án dân sự được xử lý ra sao khi vụ án hình sự liên quan đang được điều tra?
Khi thụ lý lại vụ án sau khi bản án bị hủy theo thủ tục tái thẩm, nếu kết quả giải quyết vụ án hình sự có liên quan trực tiếp và cần thiết cho việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Khi lý do tạm đình chỉ không còn, Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án. Quy định này được đặt tại điểm d khoản 1 Điều 214 và Điều 216 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Theo Nhận định số [3] của Án lệ 86/2026/AL, khi thụ lý lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần căn cứ điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án, chờ kết quả giải quyết vụ án hình sự đối với các bị can liên quan. Nếu hành vi phạm tội và khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng được xử lý theo pháp luật hình sự bằng bản án, quyết định có hiệu lực, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 — điểm g khoản 1 Điều 217 dẫn chiếu các trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 192 sang áp dụng cho vụ án đã được Tòa án thụ lý.
Đối với doanh nghiệp là đương sự, cần lưu ý rằng việc bản án bị hủy để xét xử lại không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể tiếp tục ngay quá trình giải quyết tranh chấp. Nếu vụ án hình sự liên quan trở thành căn cứ phải chờ, thời gian giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có thể kéo dài theo tiến độ xử lý của vụ án hình sự. Trong thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc khắc phục lý do dẫn đến tạm đình chỉ để đưa vụ án ra giải quyết trong thời gian sớm nhất.

Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi rơi vào tình huống tương tự Án lệ 86/2026?
Doanh nghiệp là bên có quyền lợi trong bản án dân sự, kinh doanh, thương mại đã có hiệu lực cần chủ động theo dõi các diễn biến mới có liên quan đến giao dịch, khoản nợ và hành vi của bên đối tác. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu hình sự liên quan trực tiếp đến nội dung bản án, doanh nghiệp nên lưu giữ và cung cấp đầy đủ tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền, đồng thời đánh giá liệu sự kiện mới có đáp ứng điều kiện kháng nghị tái thẩm theo Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn áp dụng tại Án lệ số 86/2026/AL hay không.
Khi phát hiện đối tụng/bị đơn có dấu hiệu hình sự sau khi đã thắng kiện dân sự, doanh nghiệp cần làm gì?
Doanh nghiệp nên chủ động cung cấp thông tin, phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát khi phát hiện dấu hiệu tội phạm liên quan trực tiếp đến khoản nợ đã được tuyên trong bản án dân sự, đồng thời lưu giữ đầy đủ tài liệu chứng minh mối liên hệ giữa hành vi hình sự và nội dung bản án để làm cơ sở đề nghị xem xét kháng nghị theo khoản 1 Điều 353, Điều 354, Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Nếu có căn cứ cho rằng đã xuất hiện tình tiết mới thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, doanh nghiệp có quyền thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị theo Điều 353 Bộ luật này. Việc thông báo cần kèm theo tài liệu chứng minh tình tiết mới và phân tích mối liên hệ giữa tình tiết đó với nội dung bản án đã có hiệu lực.
Doanh nghiệp cũng cần theo dõi thời điểm người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị, bởi theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ thời điểm này.
Giới hạn áp dụng của Án lệ 86/2026 — không phải mọi vụ khởi tố đều là căn cứ tái thẩm
Án lệ chỉ xác lập nguyên tắc khi quyết định khởi tố bị can gắn trực tiếp với hành vi làm phát sinh nghĩa vụ đã tuyên trong bản án và có khả năng làm thay đổi cơ bản nội dung bản án đó; đơn tố giác hoặc tin báo tội phạm chưa dẫn đến khởi tố không đương nhiên là căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026.
Do đó, trường hợp doanh nghiệp mới chỉ gửi đơn tố giác, tin báo về tội phạm hoặc cơ quan có thẩm quyền mới đang xác minh, điều tra thì không thể mặc nhiên kết luận đã có căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026/AL. Cần xem xét cụ thể tính chất của thông tin mới, mức độ xác thực của tài liệu, mối liên hệ với nội dung bản án và khả năng làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết vụ án theo Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Kinh nghiệm thực tế xử lý các vụ việc có đan xen tố tụng dân sự và hình sự
Qua các hồ sơ tố tụng dân sự có yếu tố hình sự đan xen mà Luật Long Phan PMT từng tham gia bảo vệ quyền lợi cho bên được thi hành án, điểm cơ quan có thẩm quyền thường soi kỹ nhất không phải là việc có quyết định khởi tố hay không, mà là mức độ gắn kết giữa hành vi bị khởi tố với chính khoản nghĩa vụ đã tuyên trong bản án dân sự — nếu hồ sơ đề nghị kháng nghị không chứng minh rõ được mối liên hệ này bằng tài liệu cụ thể (quyết định khởi tố, kết luận điều tra, văn bản xác minh của cơ quan điều tra viện dẫn đúng số hợp đồng, số tiền, thời điểm phát sinh nghĩa vụ), người có thẩm quyền kháng nghị thường yêu cầu bổ sung hoặc trả hồ sơ, kéo dài thêm thời gian xử lý.
Một sai lầm khác khiến hồ sơ bị kéo dài là doanh nghiệp tự đánh giá “hành vi gian dối rõ ràng” dựa trên cảm nhận chủ quan mà không có văn bản chính thức của Cơ quan điều tra, trong khi Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu việc thông báo tình tiết mới phải bằng văn bản và có căn cứ xác minh cụ thể. Khác biệt giữa quy định trên giấy và cách áp dụng thực tế còn thể hiện ở việc nhiều doanh nghiệp không lường trước bước tạm đình chỉ theo điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sau khi vụ án được thụ lý lại, dẫn đến kỳ vọng sai về thời điểm thực sự thu hồi được tài sản.
>>> Xem thêm: Mẫu đơn đề nghị xét xử tái thẩm vụ án dân sự [CẬP NHẬT 2026]
Dịch vụ luật sư hỗ trợ thủ tục tái thẩm tại Luật Long Phan PMT
Luật Long Phan PMT hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ việc liên quan đến Án lệ 86/2026/AL, đặc biệt khi bản án dân sự đã có hiệu lực nhưng sau đó phát sinh tình tiết mới liên quan đến vụ án hình sự của đối tác hoặc người đại diện theo pháp luật của bị đơn.
Các công việc luật sư thực hiện gồm:
- Rà soát bản án và hồ sơ vụ án: Kiểm tra bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực và đối chiếu với diễn biến, tài liệu của vụ án hình sự liên quan.
- Đánh giá căn cứ kháng nghị tái thẩm: Phân tích quyết định khởi tố, hành vi bị khởi tố và mức độ liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ đã được tuyên trong bản án để xác định khả năng áp dụng Điều 352 BLTTDS 2015 và Án lệ 86/2026/AL.
- Xác định và chuẩn bị tình tiết mới: Rà soát quyết định khởi tố, tài liệu của Cơ quan điều tra và các chứng cứ liên quan; đánh giá khả năng chứng minh đây là tình tiết quan trọng có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án.
- Soạn văn bản thông báo tình tiết mới: Soạn văn bản thông báo gửi người có thẩm quyền kháng nghị, trình bày diễn biến vụ việc, căn cứ pháp lý và tài liệu chứng minh theo Điều 353, Điều 354 BLTTDS 2015.
- Theo dõi thời hạn kháng nghị: Theo dõi thời hạn 01 năm kể từ khi người có thẩm quyền biết được căn cứ kháng nghị và cập nhật tiến độ xem xét hồ sơ để hạn chế nguy cơ bỏ lỡ thời hạn.
- Đại diện làm việc với cơ quan có thẩm quyền: Đại diện hoặc hỗ trợ doanh nghiệp làm việc với Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan liên quan trong quá trình xem xét kháng nghị và giải quyết vụ án theo thủ tục tái thẩm.
- Tư vấn xử lý vụ án sau khi được chấp nhận kháng nghị: Phân tích khả năng bản án được giữ nguyên, hủy để xét xử lại hoặc đình chỉ; đồng thời tư vấn phương án bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết tiếp theo.
Quý doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Câu hỏi thường gặp về căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026/AL: Sự kiện pháp lý mới?
Dưới đây là một số câu hỏi doanh nghiệp thường đặt ra khi tìm hiểu căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026. Các câu trả lời dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và nội dung án lệ đã được công bố.
1. Án lệ 86/2026/AL có bắt buộc áp dụng đối với các vụ án tương tự không?
Có. Theo Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, khi giải quyết vụ việc tương tự, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự phải được giải quyết thống nhất. Tuy nhiên, không phải cứ có phát sinh một vụ án hình sự liên quan đến cùng một bên đương sự thì đương nhiên áp dụng Án lệ số 86/2026/AL. Tòa án cần đối chiếu tình huống pháp lý cụ thể của vụ án với tình huống trong án lệ, đặc biệt là mối liên hệ giữa sự kiện hình sự mới phát sinh với nghĩa vụ, giao dịch hoặc quan hệ pháp luật đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực.
2. Ai có quyền thông báo tình tiết mới để làm căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026?
Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện tình tiết mới có quyền thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát hoặc Tòa án phát hiện tình tiết mới thì có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản.
3. Nếu quá thời hạn 01 năm mà chưa kịp đề nghị kháng nghị tái thẩm thì doanh nghiệp còn cách nào khác không?
Theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị. Đây là thời hạn đối với việc thực hiện quyền kháng nghị, không phải thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật..
4. Vụ án dân sự có bị hủy bỏ toàn bộ khi Tòa án chấp nhận kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026/AL không?
Không nhất thiết. Theo Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tái thẩm có thể không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại, hoặc hủy bản án và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong vụ án làm phát sinh Án lệ số 86/2026/AL, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Đây là cách giải quyết của vụ án nguồn và không có nghĩa mọi vụ án tương tự đều phải được giải quyết theo cùng một kết quả.
5. Trong thời gian Tòa án tạm đình chỉ vụ án dân sự để chờ kết quả vụ án hình sự, doanh nghiệp có được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản không?
Có. Việc Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án không làm mất quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự. Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án mà đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn có trách nhiệm xem xét, quyết định. Doanh nghiệp có thể yêu cầu biện pháp phù hợp để bảo vệ tài sản hoặc bảo đảm khả năng thi hành án, nhưng việc có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào chứng cứ cụ thể chứng minh nguy cơ tại từng vụ việc; doanh nghiệp nên chuẩn bị sẵn hồ sơ chứng minh tình trạng tài sản ngay từ giai đoạn thụ lý lại vụ án.
6. Doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ gì để đề nghị kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026/AL?
Hồ sơ cần có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can (hoặc văn bản xác nhận của Cơ quan điều tra về việc đã khởi tố), cùng tài liệu chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa hành vi bị khởi tố với khoản nghĩa vụ đã tuyên trong bản án. Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, văn bản thông báo tình tiết mới cần nêu rõ căn cứ pháp lý và tài liệu kèm theo để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét.
Kết luận
Căn cứ kháng nghị tái thẩm theo Án lệ 86/2026 mở ra hướng xử lý quan trọng cho doanh nghiệp khi bản án dân sự đã có hiệu lực nhưng sau đó phát sinh dấu hiệu hình sự liên quan trực tiếp đến khoản nghĩa vụ đã tuyên, song không phải mọi trường hợp khởi tố đều đương nhiên đủ điều kiện áp dụng. Doanh nghiệp cần xác định đúng mối liên hệ giữa hành vi bị khởi tố với nội dung bản án, theo dõi sát thời hạn 01 năm và chuẩn bị hồ sơ thông báo tình tiết mới đầy đủ căn cứ pháp lý. Luật Long Phan PMT sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá hồ sơ và tư vấn phương án kháng nghị tái thẩm phù hợp. Quý doanh nghiệp cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636387 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Án lệ số 86/2026/AL
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- Bộ luật Hình sự 2015
- Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Biện pháp khẩn cấp tạm thời, căn cứ kháng nghị tái thẩm, kháng nghị tái thẩm, quyết định khởi tố bị can, Tạm đình chỉ vụ án dân sự, thời hạn kháng nghị tái thẩm, thông báo tình tiết mới, thủ tục tái thẩm, tình tiết mới, tình tiết mới được phát hiện, tranh chấp tín dụng, vụ án dân sự có yếu tố hình sự, xét xử tái thẩm.

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.