Tags: case study, dự án đất nền, Huy động vốn trái phép
Dưới đây là tóm tắt nội dung Bản án phúc thẩm số 1211/2026/DS-PT ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Thông tin chung về vụ án
- Loại vụ án: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hình thành trong tương lai.
- Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc C.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần P1, Công ty TNHH C2 và Công ty Cổ phần T2.
2. Tóm tắt nội dung tranh chấp
- Vào ngày 13/11/2019, ông C đã ký 4 hợp đồng giữ chỗ và hợp tác đầu tư với Công ty P1 để nhận chuyển nhượng 4 nền đất thuộc dự án Khu nhà ở N. Dự án này do Công ty C2 làm chủ đầu tư và đã ủy quyền cho Công ty P1 thực hiện các công việc liên quan.
- Ông C đã thanh toán cho Công ty P1 số tiền cọc là 1.352.000.000 đồng và nộp cho Công ty T2 số tiền chênh lệch dự án là 1.625.000.000 đồng.
- Sau khi đặt cọc, các công ty không bàn giao nền đất do dự án chưa đủ điều kiện để đưa vào giao dịch, chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép huy động vốn.
- Ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng vô hiệu, buộc các công ty P1, C2, T2 liên đới trả lại tiền gốc tổng cộng 2.977.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả.
3. Kết quả xét xử sơ thẩm và kháng cáo
- Bản án sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 06/01/2026 đã tuyên các hợp đồng trên là vô hiệu. Tòa sơ thẩm buộc Công ty P1 và C2 liên đới trả tiền gốc (1.352.000.000 đồng) và lãi; đồng thời buộc Công ty T2 và C2 liên đới trả tiền gốc (1.625.000.000 đồng) và lãi tính từ thời điểm ký hợp đồng.
- Sau đó, Công ty P1 và Công ty C2 đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
4. Nhận định và Quyết định của Tòa án phúc thẩm
- Nhận định: Tòa phúc thẩm xác định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật vì dự án chưa đủ điều kiện huy động vốn. Tuy nhiên, Tòa sơ thẩm tính tiền lãi chậm trả từ thời điểm ký hợp đồng là chưa phù hợp. Thời điểm tính lãi phải bắt đầu từ ngày 07/9/2023 (ngày UBND tỉnh B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi huy động vốn trái phép của Công ty P1).
- Quyết định (Tuyên xử):
- Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty P1 và Công ty C2, sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tính tiền lãi.
- Tuyên bố 4 Hợp đồng giữ chỗ và hợp tác đầu tư lập ngày 13/11/2019 là vô hiệu.
- Buộc Công ty P1 và Công ty C2 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông C tổng cộng 1.660.652.397 đồng (Bao gồm tiền đặt cọc đã nhận: 1.352.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả: 308.652.397 đồng).
- Buộc Công ty T2 và Công ty C2 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông C tổng cộng 2.003.535.959 đồng (Bao gồm tiền chênh lệch dự án đã nhận: 1.625.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả: 378.535.959 đồng).
- Quy định cụ thể về án phí sơ thẩm và phúc thẩm mà các bên phải chịu.
Văn Bản Tiếng Việt:
Văn Bản Tiếng Anh:

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.