1. Thông tin chung về vụ án
- Số bản án: 728/2026/DS-PT, ngày tuyên án: 20/07/2026.
- Cơ quan xét xử: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hội đồng xét xử: Thẩm phán Trần Thị Hòa Hiệp (Chủ tọa phiên tòa), Thẩm phán Phạm Văn Công và Thẩm phán Ngô Mạnh Cường.
- Các đương sự chính:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H (sinh năm 1959, trú tại phường N, quận/thành phố Cần Thơ).
- Bị đơn: Bà Trần Thị S (sinh năm 1951, trú tại xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng – nay thuộc TP. Cần Thơ, là chị ruột của bà H).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Các con của bà S (ông Lê Minh T, bà Lê Thị N2, ông Lê Văn D2, bà Lê Thị H1), UBND huyện T, cùng một số cá nhân khác trong gia đình.
- Đối tượng tranh chấp: Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 121 (diện tích thực tế đo đạc là 4.257,1 m²) và Thửa đất số 122 (diện tích thực tế đo đạc là 10.521,3 m²) thuộc tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay thuộc xã P, thành phố Cần Thơ). Hai thửa đất này đứng tên hộ ông Lê Văn C (chồng bà S, đã chết năm 2023) trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do UBND huyện T cấp năm 2007.
2. Nội dung tranh chấp và lập luận của các bên
- Quan điểm của Nguyên đơn (bà H):
- Đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ đẻ (ông Trần Văn T2 và bà Đào Thị N4) giao cho bà H quản lý và sử dụng từ trước năm 1982. Đến năm 1995, bà H đi lấy chồng nên cho bà S mượn đất để ở và canh tác.
- Năm 2007, bà S mượn GCNQSDĐ (thực chất là làm thủ tục đứng tên hộ chồng là ông Lê Văn C để thế chấp vay tiền ngân hàng), thỏa thuận miệng sẽ trả lại tên cho bà H sau. Năm 2013, bà S hỏi mua lại đất với giá 400 triệu đồng nhưng sau đó không trả tiền và tiếp tục sử dụng.
- Tháng 02/2023, bà S trả lại bản gốc 2 GCNQSDĐ cho bà H tự đi làm thủ tục sang tên. Tuy nhiên, con dâu bà S sau đó can thiệp, yêu cầu phải chia đất mới chịu ký tên. Bà H có đoạn ghi âm làm bằng chứng việc bà S thừa nhận chỉ mượn đất.
- Yêu cầu khởi kiện (đã bổ sung): Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất hai thửa đất trên cho bà H. Do trên đất hiện có nhà cửa, cây trồng và do gia đình bà S đang quản lý ổn định nên bà H yêu cầu bà S và các con trả giá trị quyền sử dụng đất tương đương 1.424.209.900 đồng.
- Quan điểm của Bị đơn (bà S) và yêu cầu phản tố:
- Bà S không đồng ý đòi đất của bà H. Phía bị đơn cho rằng đất này vốn do cha mẹ cho bà H, nhưng đến năm 1991 khi bà H đi lấy chồng đã tặng cho lại vĩnh viễn cho vợ chồng bà S. Việc tặng cho được lập thành văn bản “Tờ cho đất vĩnh viễn” ngày 30/10/2006 có chữ ký đồng ý của ông Trần Vĩnh A (chồng bà H) và có xác nhận của chính quyền địa phương.
- Về việc bà H giữ 2 bản gốc GCNQSDĐ, bà S cho rằng bà H đã tự ý lấy trộm trong lúc đến nhà chơi nên bà S đã làm đơn báo mất.
- Yêu cầu phản tố: Buộc bà H phải trả lại bản gốc 2 GCNQSDĐ cho bà S.
3. Phán quyết của Bản án sơ thẩm (Số 47/2025/DS-ST ngày 03/09/2025 của TAND TP. Cần Thơ)
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Công nhận quyền sử dụng đất đối với 2 thửa đất tranh chấp cho bà Trần Thị H. Giao đất ổn định cho bà S và các con sử dụng, đồng thời buộc bà S cùng các con liên đới trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà H tổng cộng là 1.424.209.900 đồng.
- Bác yêu cầu hủy 2 GCNQSDĐ đứng tên hộ ông Lê Văn C.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Buộc bà H phải trả lại cho bà S bản gốc 2 GCNQSDĐ của hai thửa đất trên.
Không đồng ý với phán quyết này, bị đơn bà Trần Thị S đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
4. Nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm đánh giá quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm còn nhiều thiếu sót nghiêm trọng về mặt chứng cứ:
- Về đoạn ghi âm cuộc nói chuyện: Tòa án sơ thẩm đã dùng đoạn ghi âm này làm chứng cứ cốt lõi để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xác minh rõ đoạn ghi âm được thực hiện ở đâu, thời gian nào, chưa trưng cầu giám định để xác định giọng nói có bị cắt ghép chỉnh sửa hay có đúng là của bà S hay không. Điều này chưa đủ căn cứ theo quy định tại Điều 93, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Về “Tờ cho đất vĩnh viễn” ngày 30/10/2006: Tòa sơ thẩm bác bỏ tài liệu này vì lý do thời gian không phù hợp (cho đất năm 1991 nhưng đến năm 2006 mới lập giấy). Tòa phúc thẩm nhận định, việc cho đất bằng miệng trước đó rồi sau này mới lập văn bản để làm thủ tục cấp giấy là phù hợp thực tế. Ngoài ra, Tòa sơ thẩm chưa tiến hành thu thập lời khai của ông Trần Vĩnh A (chồng bà H – người ký tên đồng ý trong tờ cho đất) để đối chất.
- Tình tiết mới phát sinh: Tại cấp phúc thẩm, bà H có đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà và ông Trần Vĩnh A trong “Tờ cho đất vĩnh viễn”. Việc xem xét chứng cứ này có thể làm thay đổi hoàn toàn bản chất vụ án, cần phải chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại từ đầu để bảo đảm quyền lợi hợp pháp và quyền kháng cáo của các đương sự.
5. Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa phúc thẩm quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị S.
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 03/09/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án; bà Trần Thị S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Văn Bản Tiếng Việt:
Văn Bản Tiếng Anh:

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.