Cất giữ ma túy để sử dụng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Mục đích sử dụng cá nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự; chỉ cần cất giữ từ 0,1 gam Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 đã có thể bị xử lý theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Nội dung xác định trách nhiệm hình sự dưới đây giúp nhận diện ranh giới pháp lý, định lượng khởi tố và hướng xử lý cùng Luật Long Phan PMT.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
- Giữ ma túy để dùng cá nhân không làm mất trách nhiệm hình sự nếu đủ định lượng hoặc thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích.
- Heroine, Methamphetamine, Cocaine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 từ 0,1 gam đã có thể là căn cứ khởi tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt hành chính 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, nhưng có hành vi cất giữ thì rủi ro chuyển sang án tù.
- Tạm giữ ban đầu không quá 03 ngày, nhưng có thể gia hạn; gia đình cần sớm làm việc với luật sư để kiểm tra biên bản bắt giữ, kết quả giám định và hướng giảm nhẹ.
Bản chất pháp lý của hành vi cất giữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cá nhân
Cất giữ ma túy để dùng dần không làm thay đổi bản chất pháp lý của hành vi. Vấn đề cốt lõi không phải là “có bán ma túy hay không”, mà là người đó có cố ý chiếm giữ, quản lý trái phép chất ma túy hay không.
Khi bị kiểm tra phòng trọ, nhà ở, phương tiện giao thông, nơi làm việc hoặc trong người có ma túy, cơ quan tố tụng sẽ xem xét hành vi cất giữ. Nếu việc cất giữ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép, hành vi này được định danh theo tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cách hiểu “giữ để dùng nên không bị đi tù” là rủi ro pháp lý nghiêm trọng.
Ranh giới giữa tàng trữ trái phép và sử dụng trái phép chất ma túy
Hai hành vi này thường bị nhầm lẫn trong thực tế. Người chỉ sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị quản lý theo Luật Phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, nếu có hành vi cất giữ ma túy, vụ việc có thể chuyển sang trách nhiệm hình sự.
| Tiêu chí | Sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a) | Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249) |
| Hành vi khách quan | Là hành vi đưa chất ma túy vào cơ thể mình (hút, hít, tiêm, chích, uống…) và có kết quả xét nghiệm dương tính.
Hành vi này bị xử lý hình sự kèm theo điều kiện về nhân thân liên quan đến cai nghiện hoặc quản lý ma túy. |
Là hành vi nắm giữ, cất giấu, quản lý thực tế chất ma túy (trong người, ví, túi quần áo, cốp xe, phòng trọ, tủ cá nhân…) nhằm mục đích sử dụng dần mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất. |
| Hậu quả pháp lý | Xử lý hình sự (Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm) nếu thuộc một trong các trường hợp tại Điều 256a:
– Đang trong thời hạn cai nghiện (tự nguyện/bắt buộc) hoặc đang điều trị thay thế; – Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện hoặc quản lý người sử dụng; – Trong vòng 02 năm kể từ khi hết thời hạn quản lý hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện/điều trị thay thế; Tái phạm: Phạt tù từ 03 đến 05 năm. 2. Xử phạt hành chính (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền 1 triệu đến 2 triệu đồng theo Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP) nếu sử dụng ma túy nhưng không thuộc các trường hợp bị quản lý/cai nghiện nêu trên. |
Xử lý hình sự (Phạt tù từ 01 năm đến Chung thân):
– Chỉ cần khối lượng ma túy bị thu giữ đạt mức tối thiểu theo quy định (ví dụ: từ 0,1g đối với Heroine, Methamphetamine, Cocaine…). Không phụ thuộc vào việc đối tượng có đang bị quản lý hay cai nghiện hay không. |
| Bản chất pháp lý | Áp dụng chủ yếu vào nhóm đối tượng đang hoặc vừa mới được giáo dục, quản lý, cai nghiện nhưng vẫn cố tình tái phạm, nhằm mục đích răn đe nghiêm khắc hành vi tiêu thụ (giảm cầu). | Áp dụng nhằm thực hiện hành vi nắm giữ trái phép đối với ma túy, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. |
Điểm phân định nằm ở việc có tồn tại hành vi cất giữ hay không. Khi ma túy được phát hiện trong túi áo, cốp xe, phòng trọ hoặc tủ cá nhân, cần làm rõ ai là người quản lý thực tế và ai biết rõ về chất ma túy đó.
Bốn yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Để xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan tố tụng không chỉ dựa vào việc có ma túy tại hiện trường hay không. Việc đánh giá phải dựa trên chủ thể, lỗi, hành vi khách quan và quan hệ xã hội bị xâm phạm. Đây cũng là cơ sở để luật sư xem xét hướng bào chữa hoặc giảm nhẹ.
- Chủ thể phạm tội: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, theo Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về tội này theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
- Mặt chủ quan: Lỗi thường là lỗi cố ý. Người thực hiện hành vi biết rõ đó là ma túy nhưng vẫn cất giữ, chiếm giữ hoặc để trong phạm vi quản lý của mình. Điều 10 Bộ luật Hình sự 2015 là căn cứ để đánh giá lỗi cố ý trong trường hợp này.
- Mặt khách quan: Hành vi trọng tâm là cất giữ hoặc chiếm giữ trái phép chất ma túy. Việc cất giữ có thể diễn ra trong người, nhà ở, phòng trọ, phương tiện, nơi làm việc hoặc địa điểm khác do người phạm tội quản lý.
- Khách thể: Hành vi xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy.
Từ góc độ bào chữa, điểm cần chú ý kiểm tra là nhận thức chủ quan và quyền kiểm soát thực tế đối với ma túy. Nếu bị bắt trong không gian chung như phòng trọ hoặc xe chung, cần đánh giá chứng cứ về người cất giữ, người biết rõ nguồn gốc và người có quyền quản lý vật chứng.
Định lượng cất giữ ma túy để sử dụng đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự
Định lượng là căn cứ then chốt để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình sự. Với hành vi cất giữ ma túy để sử dụng, cơ quan tố tụng phải xác định đúng loại chất, khối lượng hoặc thể tích và tình trạng nhân thân của người vi phạm.
Việc đưa ra định lượng khởi tố không áp dụng chung cho mọi loại ma túy. Theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, từng nhóm chất có ngưỡng định lượng riêng để xác định trách nhiệm hình sự.
| Nhóm chất ma túy | Mức tối thiểu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự | Căn cứ pháp lý |
| Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 | Từ 0,1 gam | Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca | Từ 01 gam | Điểm b Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Lá cây côca, lá khát, lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa | Từ 01 kilôgam | Điểm d Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Quả thuốc phiện khô | Từ 05 kilôgam | Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Quả thuốc phiện tươi | Từ 01 kilôgam | Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Chất ma túy khác ở thể rắn | Từ 01 gam | Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Chất ma túy khác ở thể lỏng | Từ 10 mililít | Điểm h Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
| Có 02 chất ma túy trở lên. | Mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 |
Bảng định lượng này cần được đối chiếu với kết luận giám định. Chỉ dựa vào tên gọi thông thường như “đá”, “kẹo”, “ke” là chưa đủ để xác định tội danh và khung hình phạt.
Nguyên tắc xác định và phân loại danh mục chất ma túy hiện hành
Việc xác định chất ma túy phải dựa vào danh mục do Chính phủ ban hành. Từ ngày 19/01/2026, Nghị định số 28/2026/NĐ-CP có hiệu lực và thay thế các nghị định cũ về danh mục chất ma túy, tiền chất theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 28/2026/NĐ-CP.
Trong thực tế, tên gọi dân sự phải được chuyển sang tên pháp lý để xử lý. “Ma túy đá” thường được giám định theo Methamphetamine; “kẹo” có thể liên quan MDMA; “ke” cần đối chiếu danh mục để xác định đúng chất ma túy.
Nếu người vi phạm cất giữ 02 chất ma túy trở lên, cơ quan tố tụng không tách rời từng chất một cách cơ học. Tổng khối lượng hoặc thể tích tương đương với định lượng luật định vẫn là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Vì vậy, vụ án có nhiều gói, nhiều viên hoặc nhiều loại chất cần được kiểm tra kỹ về niêm phong, mẫu giám định và kết luận khối lượng. Đây là điểm thường quyết định việc khởi tố, truy tố và khung hình phạt.
Ngoại lệ khởi tố đối với hành vi tàng trữ dưới mức định lượng
Không phải mọi trường hợp dưới mức định lượng đều an toàn về mặt hình sự. Pháp luật vẫn đặt ra ngoại lệ đối với người có tiền sự hoặc tiền án liên quan đến hành vi ma túy.
Người tàng trữ dưới mức tối thiểu vẫn có thể bị khởi tố nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này. Trường hợp đã bị kết án về tội này hoặc các tội tại Điều 248, 250, 251 và 252, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, trách nhiệm hình sự vẫn đặt ra theo Điểm a Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Rủi ro lớn nhất nằm ở nhân thân pháp lý của người bị bắt. Khi gia đình cho rằng “số lượng rất ít”, vẫn cần kiểm tra tiền án, tiền sự, quyết định xử phạt cũ và tình trạng xóa án tích trước khi đánh giá khả năng xử lý hành chính hay hình sự.

Khung hình phạt áp dụng đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Mức án đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy không chỉ phụ thuộc vào việc có ma túy hay không. Cơ quan tố tụng phải đối chiếu loại chất, khối lượng, số lần phạm tội và các tình tiết định khung.
Với hành vi cất giữ ma túy để sử dụng, nếu đủ căn cứ hình sự, người phạm tội không thể “đóng tiền để không đi tù”. Hình phạt chính của tội này là phạt tù, còn phạt tiền chỉ có thể là hình phạt bổ sung trong trường hợp luật định.
Các khung hình phạt tù chính theo khối lượng và tính chất vi phạm
Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thiết kế các khung hình phạt theo mức độ nguy hiểm tăng dần. Khi khối lượng ma túy càng lớn hoặc có tình tiết định khung, rủi ro hình phạt càng nghiêm khắc.
- Khung cơ bản: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm khi hành vi thuộc Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như nêu trên.
- Khung tăng nặng thứ nhất: Mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng khi có tình tiết như có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, lợi dụng chức vụ, sử dụng người dưới 16 tuổi, tái phạm nguy hiểm hoặc đạt khối lượng cao hơn theo Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
- Khung tăng nặng thứ hai: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm khi khối lượng ma túy đạt mức nghiêm trọng hơn theo Khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
- Khung tăng nặng đặc biệt: Mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng khi khối lượng ma túy đặc biệt lớn. Ví dụ, Heroine, Cocaine hoặc Methamphetamine từ 100 gam trở lên thuộc Khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Việc xác định đúng khung hình phạt có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bào chữa. Nếu kết luận giám định, cách cộng gộp khối lượng hoặc tình tiết định khung có sai lệch, mức án có thể bị đẩy lên khung nặng hơn.
Hình phạt bổ sung và rủi ro bị tịch thu tài sản
Hình phạt tiền trong tội tàng trữ trái phép chất ma túy không phải là cơ chế “nộp tiền thay án tù”. Đây là hình phạt bổ sung, được Tòa án xem xét bên cạnh hình phạt tù nếu có căn cứ áp dụng.
Theo Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.
Rủi ro tài sản thường phát sinh khi cơ quan tố tụng xác định tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, gia đình cần phân biệt rõ tài sản riêng hợp pháp, tài sản phục vụ sinh hoạt và tài sản bị cho là công cụ, phương tiện liên quan vụ án.
Căn cứ pháp lý xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hành vi cất giữ ma túy để sử dụng
Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không phải là “chạy án ma túy”. Đây là việc chứng minh hợp pháp các tình tiết có lợi để Tòa án lượng hình đúng tính chất vụ án, nhân thân và thái độ khai báo.
Trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy, hướng xử lý cần tập trung vào chứng cứ, lời khai, kết quả giám định và tình trạng nhân thân. Các tình tiết giảm nhẹ phải được thể hiện bằng tài liệu cụ thể, không chỉ bằng lời trình bày của gia đình hoặc bị can.
- Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: Đây là tình tiết giảm nhẹ thường gặp khi người phạm tội thừa nhận hành vi, khai báo rõ nguồn gốc, hoàn cảnh cất giữ và không quanh co. Tình tiết này được ghi nhận tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
- Tích cực hợp tác với cơ quan tố tụng: Người phạm tội có thể được xem xét giảm nhẹ nếu hỗ trợ phát hiện tội phạm hoặc hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điểm t Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, đây là tình tiết có giá trị trong chiến lược xin giảm án.
- Tự thú hoặc tích cực giúp đỡ điều tra: Trường hợp người phạm tội chủ động khai nhận trước khi bị phát hiện hoặc cung cấp thông tin có ý nghĩa cho điều tra, Tòa án có thể xem xét trong nhóm tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
- Xin áp dụng mức án dưới khung: Khi có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ thuộc Khoản 1 Điều 51, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung đang áp dụng nhưng phải trong khung liền kề nhẹ hơn, theo Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015.
Quy trình tố tụng hình sự đối với vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy
Khi bị bắt vì tàng trữ trái phép chất ma túy, gia đình cần theo dõi chặt chẽ trình tự tố tụng ngay từ giai đoạn đầu. Sai lệch trong biên bản bắt giữ, niêm phong vật chứng hoặc giám định có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tội danh, khung hình phạt và khả năng giảm nhẹ.
Quy trình thông thường sẽ đi qua các bước: bắt giữ, tạm giữ, giám định, khởi tố, truy tố và xét xử. Mỗi giai đoạn đều có thời hạn và thẩm quyền riêng, nên không nên chỉ dựa vào thông tin truyền miệng.
Thẩm quyền bắt quả tang và thời hạn tạm giữ, tạm giam
Bắt quả tang thường là điểm khởi đầu trong các vụ án phát hiện ma túy trong người, phòng trọ, xe hoặc nơi làm việc. Theo Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
Sau khi tiếp nhận người bị bắt, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp tạm giữ. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày, có thể gia hạn không quá 03 ngày và trường hợp đặc biệt được gia hạn lần thứ hai không quá 03 ngày, theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tạm giam là biện pháp nghiêm khắc hơn tạm giữ. Theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giam để điều tra là 02 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội nghiêm trọng và 04 tháng đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Trong giai đoạn này, gia đình cần kiểm tra tình trạng pháp lý của người bị bắt. Việc xin bảo lĩnh hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn phải dựa trên nhân thân, nơi cư trú, tính chất vụ án và nguy cơ cản trở điều tra.
Trưng cầu giám định bắt buộc và trình tự khởi tố, truy tố
Kết luận giám định là căn cứ trọng yếu trong vụ án ma túy. Tên gọi dân sự như “đá”, “kẹo”, “ke” không đủ để xác định trách nhiệm hình sự nếu chưa có kết luận về loại chất, khối lượng hoặc thể tích.
- Trưng cầu giám định: Cơ quan tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định chất ma túy, theo Khoản 5 Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Khởi tố vụ án: Chỉ được khởi tố khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm qua tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố hoặc tự thú, theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Khởi tố bị can: Khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can theo Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Truy tố: Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định truy tố, theo Khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025.
- Thời hạn quyết định truy tố: Viện kiểm sát phải quyết định truy tố trong 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, theo Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Sau truy tố, vụ án được chuyển sang Tòa án có thẩm quyền xét xử. Theo Khoản 1, 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025, Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm vụ án có mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù; Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử các vụ án không thuộc thẩm quyền này hoặc có tình tiết phức tạp.
>>> Xem thêm: Có nên thuê luật sư bào chữa tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy không ?

Câu hỏi thường gặp về trách nhiệm hình sự đặt ra đối với hành vi cất giữ ma túy để sử dụng
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy ranh giới định tội danh đối với hành vi “cất giữ ma túy để sử dụng” thường phát sinh nhiều tình tiết phức tạp nằm ngoài các nguyên tắc định lượng cơ bản. Việc thiếu hiểu biết về yếu tố lỗi cố ý, trách nhiệm khi cầm hộ hay các ngoại lệ đối với người chưa thành niên có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Các giải đáp chuyên sâu dưới góc độ luật sư bào chữa sẽ làm rõ những rủi ro ngách mà người vi phạm và gia đình thường xuyên vướng mắc.
1. Làm sao để xin được mức án dưới khung thấp nhất của tội tàng trữ ma túy?
Người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, căn cứ theo Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015.
2. Bị công an kiểm tra phòng trọ phát hiện ma túy thì ai là người chịu trách nhiệm?
Người cất giữ, chiếm giữ trái phép chất ma túy sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy cấu thành khi người đó có hành vi cất giữ ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất, căn cứ mô tả hành vi tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Nếu đủ định lượng luật định, hành vi này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Trường hợp chưa đủ 16 tuổi mà tàng trữ ma túy thì xử lý thế nào?
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249) nếu phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015.
Do đó, việc xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi tàng trữ ma túy sẽ chia làm các trường hợp sau:
KHÔNG bị xử lý hình sự: Nếu họ tàng trữ ma túy thuộc Khoản 1 Điều 249 (Tội phạm nghiêm trọng – mức hình phạt đến 05 năm tù).
VẪN BỊ xử lý hình sự: Nếu họ tàng trữ ma túy thuộc các Khoản 2, 3, 4 Điều 249 (Tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng – mức hình phạt từ trên 07 năm tù đến Chung thân, ví dụ: tàng trữ khối lượng lớn, tàng trữ tái phạm nguy hiểm…).
Tóm lại về hình sự: Trẻ em từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vẫn có thể bị đi tù về tội Tàng trữ ma túy nếu số lượng ma túy tàng trữ đạt định lượng cấu thành khung hình phạt tại Khoản 2 Điều 249 trở lên.
Trong trường hợp người chưa đủ 16 tuổi tàng trữ ma túy nhưng chưa đến mức bị xử lý hình sự (ví dụ: người dưới 14 tuổi, hoặc từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng chỉ phạm tội thuộc Khoản 1 Điều 249), họ sẽ bị xử lý hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính
4. Trường hợp bị bắt quả tang đang sử dụng ma túy nhưng không cất giữ thì bị phạt bao nhiêu?
Kể từ ngày 01/7/2025, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị hình sự hóa trở lại thông qua Điều 256a BLHS. Do đó, khi một người bị bắt quả tang đang sử dụng ma túy (dù không cất giữ tang vật), việc xác định mức phạt không còn đơn thuần là phạt hành chính mà phải chia thành hai trường hợp rõ rệt dựa trên nhân thân và diện quản lý của người đó:
Trường hợp 1: Bị xử lý hình sự (Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm)
Nếu người bị bắt quả tang đang sử dụng ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (bổ sung năm 2025), họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy với mức phạt tù từ 02 đến 05 năm (khung cơ bản), cụ thể gồm:
- Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy (tự nguyện hoặc bắt buộc) hoặc đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
- Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
- Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc tự ý chấm dứt việc cai nghiện, điều trị thay thế.
Lưu ý: Nếu thuộc trường hợp tái phạm, mức hình phạt sẽ từ 03 năm đến 05 năm tù.
Trường hợp 2: Bị xử phạt hành chính ( phạt cảnh cáo hoặc Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng)
Nếu người bị bắt quả tang sử dụng ma túy không thuộc các trường hợp bị quản lý, cai nghiện nêu tại Điều 256a BLHS (ví dụ: vi phạm lần đầu, người bình thường chưa từng bị lập hồ sơ quản lý sử dụng/cai nghiện), thì lúc này mới áp dụng hình thức xử phạt hành chính: Mức phạt: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.
Biện pháp kèm theo: Sau khi bị xử phạt, người này sẽ bị lập hồ sơ đưa vào diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương theo Luật Phòng, chống ma túy 2021 (để nếu họ tiếp tục vi phạm trong thời gian này thì lần sau sẽ bị xử lý hình sự theo Trường hợp 1).
Dịch vụ luật sư bào chữa vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy tại Luật Long Phan PMT
Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy thường phức tạp vì phụ thuộc vào kết luận giám định, lời khai, biên bản bắt giữ và nhân thân bị can. Tư vấn pháp lý khẩn cấp khi bị bắt giữ về hành vi tàng trữ ma túy giúp hạn chế rủi ro khai báo bất lợi ngay từ giai đoạn đầu. Luật Long Phan PMT tham gia với vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp và xây dựng chiến lược bào chữa phù hợp.
- Tư vấn quyền im lặng và cách khai báo đúng pháp luật khi bị bắt quả tang, bị tạm giữ hoặc làm việc với Cơ quan điều tra.
- Đánh giá tính chất pháp lý của hành vi để xác định vụ việc thuộc xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Trực tiếp tham gia hỏi cung, lấy lời khai nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can trong giai đoạn điều tra.
- Rà soát biên bản bắt giữ, niêm phong vật chứng và kết luận giám định để phát hiện sai sót ảnh hưởng đến tội danh hoặc khung hình phạt.
- Soạn đơn kiến nghị giám định lại hàm lượng ma túy khi có căn cứ nghi ngờ kết quả giám định ban đầu chưa khách quan.
- Thu thập tài liệu chứng minh tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình hoặc yếu tố hợp tác điều tra.
- Xây dựng luận cứ bào chữa tại phiên tòa nhằm đề nghị hạ khung hình phạt, áp dụng mức án nhẹ hơn hoặc xem xét án treo khi đủ điều kiện.
- Hỗ trợ gia đình soạn đơn xin bảo lĩnh, đơn thăm gặp, đơn xin giảm nhẹ hình phạt và theo dõi tiến trình giải quyết vụ án.
Người bị bắt hoặc gia đình có thể gửi hồ sơ vụ việc qua Email: pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo: 0939.846.973 để Luật Long Phan PMT đánh giá sơ bộ hướng xử lý.
Kết luận
Cất giữ ma túy để sử dụng là rủi ro hình sự nghiêm trọng khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đặc biệt khi đạt định lượng hoặc thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích. Việc xử lý đúng cần dựa trên loại chất, khối lượng, kết luận giám định, biên bản bắt giữ và các tình tiết giảm nhẹ hợp pháp. Chậm rà soát hồ sơ có thể làm mất cơ hội bảo vệ quyền lợi từ giai đoạn điều tra; liên hệ Hotline 1900.63.63.87 để Luật Long Phan PMT hỗ trợ bào chữa kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:
- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
- Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025
- Luật Phòng, chống ma túy 2021
- Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình
- Nghị định số 28/2026/NĐ-CP quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất
- Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Long Phan PMT qua Hotline 1900.63.63.87 để được cập nhật tư vấn pháp lý mới nhất.
Tags: Bào chữa hành vi cất giữ ma túy để sử dụng, cách khai báo giai đoạn điều tra, Đại diện tranh tụng tại phiên tòa án ma túy, khung hình phạt tàng trữ ma túy, mức phạt hành chính sử dụng ma túy, ranh giới định lượng khởi tố, thủ tục xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.