Giải quyết tranh chấp đất đai khi có quyết định hành chính liên quan là quy trình tố tụng yêu cầu Tòa án phải xem xét đồng thời quyền sử dụng đất và tính hợp pháp của văn bản cá biệt. Thực tế, nhiều vụ kiện dân sự thường bị đình trệ do vướng mắc từ các quyết định cấp giấy hoặc thu hồi đất thiếu căn cứ. Người khởi kiện cần chủ động yêu cầu hủy bỏ các văn bản trái luật này để đảm bảo quyền lợi được khôi phục trọn vẹn. Để hỗ trợ Quý khách xử lý tình huống phức tạp này hiệu quả, Luật Long Phan PMT xin tư vấn chi tiết ngay sau đây.

Xác định đúng bản chất và quan hệ tranh chấp liên quan đến đất đai
Việc xác định đúng bản chất pháp lý và quan hệ tranh chấp là bước đầu trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến đất đai thường đan xen giữa yếu tố hành chính và dân sự, cần phải tách bạch rõ đối tượng tranh chấp để lựa chọn đúng cơ quan có thẩm quyền và thủ tục khởi kiện phù hợp.
Tranh chấp quyền sử dụng đất/tài sản gắn liền với đất
Về bản chất, tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất là tranh chấp nhằm xác định ai là người có quyền hợp pháp đối với đất đai, nhà ở, công trình xây dựng. Pháp luật đất đai xác định rõ tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên (khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024) và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự (khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Trong thực tiễn, không ít vụ việc phát sinh khi đã tồn tại quyết định hành chính về đất đai như quyết định cấp Giấy chứng nhận, quyết định cho phép hoặc không cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên, việc tồn tại quyết định hành chính không làm thay đổi bản chất dân sự của tranh chấp nếu đương sự không yêu cầu hủy quyết định hành chính đó, mà chỉ coi quyết định này là căn cứ làm phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất.
Pháp luật tố tụng dân sự cho phép Tòa án giải quyết vụ án dân sự kể cả trong trường hợp cần xem xét tính hợp pháp của quyết định cá biệt hoặc hành vi hành chính có liên quan (khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Tuy nhiên, cần tách bạch rõ giới hạn thẩm quyền của Tòa án dân sự. Theo nguyên tắc phân định giữa tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, Tòa án dân sự không có thẩm quyền tuyên hủy quyết định hành chính, vì thẩm quyền này chỉ phát sinh khi quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính. Dù vậy, để bảo đảm việc giải quyết tranh chấp đúng pháp luật, Tòa án dân sự vẫn được quyền xem xét, đánh giá quyết định hành chính như một chứng cứ trong vụ án, theo nguyên tắc đánh giá chứng cứ toàn diện, khách quan (Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Trong trường hợp qua xem xét, Tòa án nhận thấy quyết định hành chính có dấu hiệu trái pháp luật và ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án dân sự, Tòa án không tuyên hủy quyết định đó, nhưng có quyền kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định xem xét sửa đổi, hủy bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khiếu kiện tính hợp pháp của quyết định hành chính/ hành vi hành chính đất đai
Về bản chất pháp lý, khiếu kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của hoạt động quản lý nhà nước theo khoản 1, 2 , 3, 4 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015. Đối với các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi người sử dụng đất cho rằng quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai được ban hành trái quy định pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền không thực hiện, chậm thực hiện nghĩa vụ hành chính theo luật định, thì người khởi kiện phải khởi kiện vụ án hành chính.
Theo điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án khi giải quyết vụ án hành chính có quyền tuyên hủy quyết định hành chính trái pháp luật. Còn theo điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án có thể buộc cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện hành vi hành chính hoặc chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật.
Việc lựa chọn sai thủ tục còn tiềm ẩn nguy cơ hết thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính. Bởi theo Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015, thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Nếu người khởi kiện nộp đơn dân sự không đúng loại việc và bị trả đơn sau khi thời hiệu đã hết, thì quyền khởi kiện hành chính có thể không còn được bảo vệ.
>>> Xem thêm: Trình tự kiện Quyết định hành chính về quản lý đất đai
Phương án giải quyết tranh chấp đất đai khi đã có quyết định hành chính liên quan
Khi tranh chấp đất đai phát sinh khi đã có quyết định hành chính liên quan, việc lựa chọn phương án giải quyết phù hợp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Trên thực tiễn, cần căn cứ bản chất yêu cầu tranh chấp (xác định quyền giữa các bên hay khiếu kiện tính hợp pháp của quyết định hành chính) để định hướng đúng con đường tố tụng dân sự hoặc tố tụng hành chính, tránh rủi ro bị trả đơn hoặc kéo dài thời gian giải quyết.
Khởi kiện dân sự
Việc khởi kiện dân sự đạt hiệu quả khi xác định được các yếu tố sau:
Áp dụng khi mục tiêu là xác định quyền giữa các bên
Hình thức khởi kiện vụ án dân sự được áp dụng trong trường hợp mục tiêu chính của người khởi kiện là xác định quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên (ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp, quyền đối với tài sản gắn liền với đất…), không yêu cầu Tòa án hủy quyết định hành chính đã ban hành. Cách tiếp cận này phù hợp với bản chất của tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Thẩm quyền
Về thẩm quyền theo lãnh thổ, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về bất động sản phải được giải quyết bởi Tòa án nơi có bất động sản. Theo khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, thẩm quyền sơ thẩm đối với loại tranh chấp này được xác định là Tòa án nhân dân khu vực nơi có đất.
Tiền tố tụng
Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định, tranh chấp đất đai mà các bên không tự hòa giải được thì phải gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã trước khi khởi kiện ra Tòa án, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc thiếu biên bản hòa giải không thành tại UBND cấp xã là một trong những căn cứ phổ biến để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đơn khởi kiện và chứng cứ đính kèm
Người khởi kiện cần chuẩn bị đơn khởi kiện số 23/DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2027/NQ-HĐTP, đáp ứng yêu cầu tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong đó:
- Không ghi yêu cầu hủy QĐHC hoặc yêu cầu buộc cơ quan nhà nước thực hiện hành vi hành chính;
- Xác định rõ quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất/tài sản gắn liền với đất.
Về chứng cứ, căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có nghĩa vụ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình, do đó cần chuẩn bị đầy đủ:
- Hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận (nếu có);
- Tài liệu thể hiện nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng ổn định;
- Hợp đồng, giấy tờ giao dịch liên quan;
- Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai (thuế, phí…).
Trình tự giải quyết
Sơ thẩm
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đối với tranh chấp đất đai, thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý, trường hợp phức tạp có thể được gia hạn nhưng không quá 02 tháng.
Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện các công việc tố tụng trọng yếu như:
- Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và phạm vi yêu cầu khởi kiện (Điều 68, Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Thu thập, xác minh chứng cứ theo Điều 97, Điều 98, Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: chứng cứ về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, hồ sơ địa chính, quyết định hành chính có liên quan;
- Triệu tập và tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Tiến hành hòa giải giữa các đương sự theo Điều 205 và Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Quyền kháng cáo
Theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án, niêm yết bản án (nếu đương sự không có mặt tại phiên tòa), đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Kháng cáo là căn cứ để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Phúc thẩm
Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành theo trình tự quy định tại Chương XII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (từ Điều 220 đến Điều 259).
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện:
- Xem xét toàn diện chứng cứ, lời trình bày của các bên, kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa (Điều 242, Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015);
- Tập trung làm rõ quyền sử dụng đất hợp pháp, căn cứ xác lập quyền (Nhà nước giao đất, nhận chuyển nhượng, thừa kế, sử dụng ổn định lâu dài…);
- Đánh giá vai trò của quyết định hành chính liên quan (nếu có) trong mối quan hệ với quyền dân sự đang tranh chấp nhưng không tuyên hủy hoặc sửa đổi quyết định hành chính trong bản án.
>>> Xem thêm: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Khởi kiện hành chính hành chính
Thủ tục khởi kiện hành chính được thực hiện như sau:
Áp dụng khi mục tiêu là hủy/ sửa quyết định hành chính
Khởi kiện vụ án hành chính được áp dụng khi mục tiêu trực tiếp của người khởi kiện là yêu cầu Tòa án hủy bỏ, sửa đổi quyết định hành chính hoặc buộc cơ quan nhà nước thực hiện/ khắc phục hành vi hành chính trái pháp luật trong quản lý đất đai (ví dụ: quyết định cho phép/không cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng đất sai mục đích…).
Cơ sở pháp lý xác định đối tượng khởi kiện được quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015. Theo đó, quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước là đối tượng khởi kiện hành chính.
Tiền tố tụng
Theo Điều 33 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện có quyền lựa chọn khiếu nại hành chính theo Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện trực tiếp vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền. Việc thực hiện khiếu nại trong trường hợp này không phải là điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý vụ án hành chính. Quy định này nhằm tránh kéo dài thời gian bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi đã xác định rõ quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính có dấu hiệu trái pháp luật. Tuy nhiên, người khởi kiện cần xác định rõ hướng đi tố tụng ngay từ đầu, bởi nếu đồng thời vừa khiếu nại vừa khởi kiện, Tòa án sẽ yêu cầu lựa chọn một cơ quan giải quyết theo đúng trình tự luật định.
Thời hiệu
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được xác định theo khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Theo đó, thời hiệu là 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện. Trên thực tiễn, mốc thời gian “biết được” thường được xác định thông qua các căn cứ như thời điểm nhận văn bản, thời điểm được công bố, niêm yết hoặc thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện hành vi hành chính tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
Thẩm quyền
Từ ngày 01/7/2025, thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính có yêu cầu hủy quyết định hành chính được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025. Theo đó, Tòa án nhân dân khu vực là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các khiếu kiện hành chính phát sinh trong lĩnh vực quản lý đất đai, trong đó bao gồm các tranh chấp liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính về chuyển mục đích sử dụng đất.
Đối với các khiếu kiện liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp xã hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp xã, thẩm quyền giải quyết sơ thẩm thuộc về Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan hoặc người bị kiện đóng trụ sở, được xác định theo phạm vi thẩm quyền lãnh thổ của Tòa án.
Trường hợp khiếu kiện phát sinh từ quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan này, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực được xác định theo các tiêu chí sau:
- Nếu người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng địa giới hành chính cấp tỉnh với người bị kiện thì Tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc đặt trụ sở có thẩm quyền giải quyết;
- Nếu người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng địa bàn cấp tỉnh với người bị kiện thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, trên thực tế thường là nơi có thửa đất liên quan đến tranh chấp.
Đơn khởi kiện và chứng cứ khuyến nghị đính kèm
Đơn khởi kiện tuân theo mẫu số: 01-HC ban hành kèm theo Nghị quyết 02/2017/NQ-HĐTP. Đồng thời, theo quy định tại Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đơn khởi kiện cần đặc biệt lưu ý các nội dung sau:
- Đối tượng khởi kiện:
- Đơn khởi kiện phải nêu cụ thể quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu kiện, bao gồm số, ký hiệu, ngày ban hành, cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính; hoặc
- Mô tả rõ hành vi hành chính cụ thể bị cho là trái pháp luật (ví dụ: hành vi không tiếp nhận hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất, hành vi chậm giải quyết, hoặc xác nhận sai hiện trạng sử dụng đất).
- Yêu cầu khởi kiện và phạm vi yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Người khởi kiện cần nêu rõ yêu cầu Tòa án tuyên hủy toàn bộ hoặc hủy một phần quyết định hành chính bị khởi kiện; yêu cầu Tòa án buộc cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện nghĩa vụ hành chính theo quy định pháp luật; hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật đang diễn ra.
- Trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đã gây thiệt hại, người khởi kiện cũng có thể đồng thời yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Bên cạnh đơn khởi kiện, để bảo đảm tính thuyết phục và tạo điều kiện cho Tòa án xem xét thụ lý, người khởi kiện nên chuẩn bị và đính kèm các tài liệu, chứng cứ liên quan, bao gồm::
- Bản sao quyết định hành chính bị khởi kiện hoặc tài liệu chứng minh hành vi hành chính;
- Giấy tờ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính, văn bản trả lời của cơ quan nhà nước…);
- Tài liệu chứng minh thời điểm nhận được hoặc biết được quyết định hành chính;
Văn bản giải quyết khiếu nại (nếu đã thực hiện khiếu nại trước đó).
Trình tự giải quyết
Sau khi hoàn tất đơn khởi kiện và hồ sơ, chứng cứ kèm theo, người khởi kiện nộp hồ sơ đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Trình tự tiếp nhận, xem xét và thụ lý đơn khởi kiện được thực hiện theo các Điều 121, 122, 123 và Điều 125 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, với các bước cụ thể như sau:
Tiếp nhận đơn khởi kiện
Theo Điều 121 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện có thể nộp đơn khởi kiện bằng một trong các hình thức: nộp trực tiếp tại Tòa án, gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). Trường hợp nộp đơn trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện; đối với trường hợp nộp qua đường bưu chính hoặc hình thức trực tuyến, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện về việc đã nhận đơn.
Phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện
Căn cứ khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán để xem xét đơn. Việc phân công này nhằm bảo đảm trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong việc kiểm tra tính hợp lệ của đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Xem xét và xử lý đơn khởi kiện
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán có trách nhiệm xem xét đơn khởi kiện và ra một trong các quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015, bao gồm:
- Yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
- Thụ lý vụ án theo thủ tục chung;
- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền trong trường hợp xác định vụ án không thuộc thẩm quyền của mình; hoặc
- Trả lại đơn khởi kiện nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 124 Luật Tố tụng hành chính 2015.
Trường hợp yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn, Thẩm phán phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung và ấn định thời hạn thực hiện theo luật định.
Thụ lý vụ án hành chính
Theo Điều 125 Luật Tố tụng hành chính 2015, nếu xét thấy đơn khởi kiện hợp lệ và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Thẩm phán sẽ ra thông báo cho người khởi kiện về việc nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp người khởi kiện thuộc diện được miễn hoặc không phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự và nộp lại biên lai thu tiền cho Tòa án. Ngày Tòa án nhận được biên lai thu tiền tạm ứng án phí được xác định là ngày thụ lý vụ án; đối với trường hợp được miễn nộp án phí, ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán ra thông báo thụ lý vụ án.
Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính
Theo Điều 130 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử được xác định như sau:
- Đối với các vụ án khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính (bao gồm các vụ kiện liên quan đến quản lý đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã), thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án.
- Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần; thời gian gia hạn không quá 02 tháng.
- Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết, thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật.
Quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án
Theo Điều 204 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án được bảo đảm cho các chủ thể gồm: đương sự trong vụ án hành chính; người đại diện hợp pháp của đương sự; và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã khởi kiện vụ án hành chính.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án; trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 205 Luật Tố tụng hành chính 2015.
Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Theo Điều 220 Luật Tố tụng hành chính 2015, sau khi nhận được hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra thông báo thụ lý vụ án phúc thẩm. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp, Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định gia hạn một lần nhưng không quá 01 tháng. Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ (nếu cần thiết) và thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm làm rõ nội dung kháng cáo.
Phạm vi và nội dung xét xử phúc thẩm
Theo Điều 220, Điều 241 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và các vấn đề có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị. Trên cơ sở kết quả xét xử, Tòa án phúc thẩm có thể ra một trong các quyết định: giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm; hủy bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại; hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định phúc thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và là căn cứ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thi hành theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại Chương XV, Chương XVI Luật Tố tụng hành chính 2015.
>> Xem thêm: Khởi kiện hành chính quyết định giải quyết tranh chấp đất đai

Xử lý tình huống chồng chéo về trình tự tố tụng trong tranh chấp đất đai
Tạm đình chỉ vụ án dân sự để chờ kết quả hành chính:
- Khi một vụ án dân sự đang giải quyết mà phát hiện sự tồn tại của một Quyết định hành chính ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung tranh chấp, việc xác định tính đúng đắn của quyết định đó là điều kiện tiên quyết. Theo điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi cần đợi kết quả giải quyết vụ án hành chính hoặc văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền về tính hợp pháp của Quyết định hành chính.
- Kết quả của vụ án hành chính (quyết định đó đúng hay sai) sẽ là chứng cứ quan trọng để Tòa án dân sự tiếp tục giải quyết vụ án, xác định ai là người thực sự có quyền sử dụng đất.
Giải quyết tranh chấp hành chính trước khi xử lý dân sự:
- Trong nhiều trường hợp, việc cấp Giấy chứng nhận hoặc thu hồi đất bị sai phạm dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Lúc này, thủ tục hành chính phải được ưu tiên. Tòa án sẽ tập trung xem xét tính đúng đắn của hành vi hành chính hoặc Quyết định hành chính. Nếu trong quá trình này phát sinh tranh chấp dân sự (như tranh chấp ranh giới, thừa kế), Tòa án hành chính vẫn tiếp tục giải quyết phần hành chính.
- Sau khi Quyết định hành chính bị hủy, nếu các bên vẫn không thỏa thuận được về quyền lợi, họ sẽ tiến hành khởi kiện dân sự. Lúc này, bản án hành chính có hiệu lực pháp luật là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, giúp vụ án dân sự diễn ra thuận lợi hơn.
Chiến lược hồ sơ giải quyết hành chính trước, dân sự sau:
- Tạo tiền đề cho yêu cầu bồi thường thiệt hại: Khi Tòa án hành chính tuyên hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính trái pháp luật hoặc xác định hành vi hành chính là trái luật, phán quyết này có giá trị xác lập rõ ràng yếu tố hành vi trái pháp luật để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Thu hẹp đáng kể phạm vi tranh chấp trong vụ án dân sự: Việc giải quyết dứt điểm tính hợp pháp của quyết định hành chính ở giai đoạn hành chính giúp vụ án dân sự sau đó chỉ tập trung vào các vấn đề còn lại như: xác định thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại, cũng như mức bồi thường phù hợp.
- Tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tố tụng và chi phí pháp lý: Trên thực tế, nếu khởi kiện dân sự ngay khi quyết định hành chính vẫn đang có hiệu lực, người khởi kiện thường gặp khó khăn trong việc chứng minh yếu tố trái pháp luật, dẫn đến nguy cơ bị bác yêu cầu hoặc kéo dài quá trình giải quyết do phải song song tiến hành khiếu kiện hành chính.
- Gia tăng khả năng thương lượng, hòa giải ở giai đoạn sau: Một bản án hành chính có hiệu lực pháp luật tuyên hủy quyết định hành chính trái luật là tài liệu không cần chứng minh. Do đó, việc giải quyết tranh chấp có thể chuyển hướng thương lượng, thỏa thuận bồi thường thiệt hại mà không cần thiết phải tiếp tục tranh chấp kéo dài tại Tòa án dân sự.
>>> Xem thêm: Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là bao lâu?
Dịch vụ Luật sư Giải quyết tranh chấp đất đai khi có quyết định hành chính liên quan
Tranh chấp đất đai có liên quan đến quyết định hành chính (như cấp Giấy chứng nhận sai đối tượng, quyết định thu hồi đất trái luật…) thường rất phức tạp vì đan xen giữa quan hệ dân sự và quan hệ hành chính. Luật Long Phan PMT cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên sâu, giúp khách hàng vừa giải quyết tranh chấp đất đai vừa yêu cầu hủy bỏ các văn bản sai trái của cơ quan công quyền thông qua các hạng mục công việc cụ thể sau:
- Tư vấn pháp lý và đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính:
- Rà soát trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính (Quyết định cấp sổ đỏ, quyết định xử phạt, quyết định giao đất…) để đánh giá các sai phạm về hình thức và/ hoặc nội dung (nếu có).
- Hướng dẫn khách hàng thu thập hồ sơ địa chính, trích lục các tờ trình, biên bản xét duyệt nguồn gốc đất tại cơ quan lưu trữ để củng cố chứng cứ chứng minh quyết định hành chính là trái luật.
- Đại diện thực hiện thủ tục khiếu nại và đối thoại:
- Soạn thảo đơn khiếu nại lần đầu, lần hai gửi đến người có thẩm quyền yêu cầu xem xét lại và hủy bỏ/ sửa đổi quyết định hành chính.
- Đại diện khách hàng tham gia các buổi đối thoại trực tiếp với cơ quan hành chính, sử dụng các căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi và yêu cầu cơ quan chức năng giải trình rõ ràng.
- Soạn thảo văn bản kiến nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính trong thời gian giải quyết tranh chấp để ngăn chặn hậu quả khó khắc phục.
- Đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án:
- Soạn thảo Đơn khởi kiện tranh chấp đất đai.
- Tham gia tranh tụng tại phiên tòa bảo vệ quyền sử dụng đất dân sự của khách hàng.
- Tư vấn và hỗ trợ pháp lý trong giai đoạn thi hành án, yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện thủ tục cấp lại hoặc chỉnh lý biến động đất đai theo nội dung bản án đã có hiệu lực.

Câu hỏi liên quan (FAQs) về Giải quyết tranh chấp đất đai khi có quyết định hành chính liên quan
Khi giải quyết tranh chấp đất đai có liên quan đến quyết định hành chính, người dân thường lúng túng trong việc xác định thẩm quyền và quy trình tố tụng. Dưới đây là những giải đáp cho các thắc mắc thường gặp nhất.
Tôi đang kiện đòi đất nhưng phát hiện đối phương đã được UBND cấp sổ đỏ (Giấy chứng nhận) trái luật, tôi phải làm sao?
Quý khách cần làm đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó ngay trong vụ án dân sự đang giải quyết. Theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền (bao gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nếu quyết định đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Cơ quan ban hành quyết định hành chính (UBND) có phải tham gia phiên tòa không?
Có. Cơ quan ban hành quyết định hành chính phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong vụ án dân sự) hoặc người bị kiện (trong vụ án hành chính). Sự tham gia của đại diện UBND là bắt buộc để trình bày về quy trình, căn cứ cấp Giấy chứng nhận hoặc ban hành quyết định thu hồi đất. Nếu đại diện UBND vắng mặt, họ phải có văn bản trình bày ý kiến.
Nếu Tòa án tuyên hủy sổ đỏ thì tôi có đương nhiên được cấp sổ mới không?
Không. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tuyên hủy sổ đỏ cũ, Quý khách phải mang bản án đó đến Văn phòng Đăng ký đất đai để làm thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận mới theo quy định. Bản án của Tòa án là cơ sở pháp lý để cơ quan hành chính thực hiện thủ tục cấp giấy. Tòa án không trực tiếp cấp sổ đỏ mà chỉ tuyên hủy sổ đỏ sai và công nhận quyền sử dụng đất cho Quý khách. Quý khách cần thực hiện tiếp thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước để hoàn tất việc đứng tên trên sổ đỏ.
Tòa án có tạm đình chỉ vụ án dân sự để chờ kết quả giải quyết khiếu nại hành chính không?
Có thể. Nếu việc giải quyết khiếu nại hành chính hoặc vụ án hành chính khác có liên quan trực tiếp đến kết quả của vụ án dân sự, Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.
Ai có nghĩa vụ chứng minh Sổ đỏ (Giấy chứng nhận) là cấp sai pháp luật trong vụ án dân sự?
Nghĩa vụ chứng minh ban đầu thuộc về người khởi kiện, nhưng cơ quan ban hành quyết định có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu để chứng minh tính hợp pháp của quyết định đó. Theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ. Quý khách phải chỉ ra được Sổ đỏ cấp sai ở điểm nào (sai diện tích, sai đối tượng, chồng lấn ranh giới…). Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 96, cơ quan, tổ chức lưu trữ tài liệu (cơ quan cấp giấy) có trách nhiệm cung cấp hồ sơ gốc cho Tòa án khi Tòa án có yêu cầu.
Kết luận
Việc giải quyết tranh chấp đất đai gắn liền với quyết định hành chính là quy trình tố tụng phức tạp. Đương sự cần yêu cầu hủy bỏ quyết định cá biệt trái luật song song với việc xác định quyền sử dụng đất để đảm bảo kết quả giải quyết triệt để. Mọi sai sót về trình tự đều có thể khiến vụ án bị đình chỉ hoặc kéo dài không mong muốn. Luật Long Phan PMT hiện cung cấp giải pháp qua Dịch vụ luật sư đất đai và Dịch vụ luật sư khởi kiện vụ án hành chính. Hãy liên hệ ngay với Luật Long Phan PMT qua hotline 1900636387 để được tư vấn.
Tags: Hủy quyết định hành chính về đất đai, Khởi kiện quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tạm đình chỉ vụ án dân sự, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án, Thủ tục khởi kiện đòi lại đất, Tranh chấp đất đai có sổ đỏ

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của Luật Long Phan PMT chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng quy định pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến pháp lý cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Luật Long Phan PMT sẽ là nơi hỗ trợ pháp lý đáng tin cậy của Quý khách hàng.