Các tình tiết giảm nhẹ tội cố ý gây thương tích được áp dụng khi nào?

8
17 Tháng Mười Hai, 2019

Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật Việt Nam nhằm mục đích răn đe, giáo dục người phạm tội, giúp người phạm tội ăn năn, hối cải, thể hiện được tính nhân văn của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội. Vậy khi nào được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp phạm Tội cố ý gây thương tích? Công ty Luật Long Phan PMT sẽ giúp cho bạn đọc nắm được vấn đề đó qua bài viết sau đây.

Tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự là gì?

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội phạm giảm đi so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội đó. Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015:

>> Xem thêm: Bị Gây Thương Tích Nhiều Nhưng Mức Độ Nhẹ Yêu Cầu Xử Lý Hình Sự Được Không?

  • Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
  • Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; 
  • Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
  • Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
  • Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
  • Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
  • Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
  • Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
  • Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
  • Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
  • Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
  • Phạm tội do lạc hậu;
  • Người phạm tội là phụ nữ có thai;
  • Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
  • Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
  • Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
  • Người phạm tội tự thú;
  • Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
  • Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
  • Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
  • Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
  • Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Quy định pháp luật về Tội cố ý gây thương tích

Gây thương tích cho người khác

Tội cố ý gây thương tích là một trong những tội phạm phổ biến xảy ra ở nước ta. Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như sau:
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm“. Cụ thể:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây tổn hại cho nhiều người; 
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; 
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; 
  • Có tổ chức; 
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; 
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; 
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; 
  • Có tính chất côn đồ
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: 

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; 
  • Phạm tội 02 lần trở lên; 
  • Tái phạm nguy hiểm; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: 

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm: 

  • Làm chết người; 
  • Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. 

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: 

  • Làm chết 02 người trở lên; 
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. 
  • Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Người phạm tội cố ý gây thương tích có thể được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và khi quyết định hình phạt Tòa án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Tuy nhiên các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì KHÔNG ĐƯỢC COI LÀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ trong khi quyết định hình phạt.

Vai trò Luật sư hỗ trợ cho người phạm tội cố ý gây thương tích

Tầm quan trọng của Luật sư bào chữa – hỗ trợ bị can, bị cáo

Người phạm tội cố ý gây thương tích khi được Luật sư hỗ trợ sẽ giúp cho bị can, bị cáo những vấn đề sau:

  • Tìm được những chứng cứ quan trọng trong vụ việc;
  • Tìm các tình tiết được miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự;
  • Chuẩn bị và xây dựng luận cứ để bào chữa;
  • Giúp các bị can, bị cáo được giảm nhẹ mức án theo đề nghị của Viện kiểm sát hoặc yêu cầu điều tra bổ sung; hoặc được tuyên bố vô tội,…

Với đội ngũ Luật sư có nhiều kinh nghiệm qua thực tiễn các vụ án, Công ty Luật Long Phan PMT sẽ hỗ trợ tối đa cho khách hàng. Quý khách hàng có nhu cầu hãy liên hệ ngay đến Long Phan PMT qua hotline bên dưới. Xin cảm ơn.

Scores: 4.29 (7 votes)

Luật sư: Thạc Sĩ - Luật Sư Phan Mạnh Thăng

Thạc Sĩ – Luật Sư Phan Mạnh Thăng thành viên đoàn luật sư Tp.HCM. Founder Công ty luật Long Phan PMT. Chuyên tư vấn giải quyết các vấn đề về đất đai, hợp đồng thương mại ổn thỏa và nhanh nhất. Với 7 năm kinh nghiệm của mình đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý của khách hàng.

Trả lời

Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai.
Chúng tôi sẽ phản hồi giải đáp thông tin bình luận của bạn trên website, email, điện thoại, chậm nhất sau 24h tiếp nhận. Chân thành cảm ơn!

8 Bình luận

8 bình luận trên “Các tình tiết giảm nhẹ tội cố ý gây thương tích được áp dụng khi nào?

  1. Thưa luật sư. Em có vấn đề muốn hỏi luật sư.. Hiện tại chồng em có bị án phạt tù 1 năm và mới ra tù được 4 tháng. Và chồng em hiện tại. Có đi theo người em và đánh nhau gây tộn hại sức khỏe. Chồng em thì không đánh ạ. Nhưng vẫn bị tam giam vì có tiền án. Và có gửi giấy về nói rằng chồng em phạm tội cố ý gây thương tích. Vậy thưa luật sư cho em hỏi. Nếu như vậy chồng em có đi tù và sẻ bị phạ bao nhiêu năm ạ

    1. Chào bạn,
      Vấn đề này, tùy thuộc vào mức độ thương tích và án tích cũ của chồng chị và một số tình tiết khác mới có thể kết luân được.
      Chúng tôi kiến nghị bạn liên hệ với chúng tôi qua hotline bên dưới, cung cấp thông tin để luật sư có thể tư vấn chi tiết hơn.
      Trân trọng!

    1. chào bạn,
      heo đó, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về vấn đề này tại Điều 155 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

      “1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
      2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
      3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
      Do đó, khi bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án thì vụ án sẽ bị đình chỉ và không truy tố xét xử nữa.
      Trân trọng!

    1. Chào bạn, nội dung câu hỏi của bạn có những nội dung cần cụ thể, chi tiết hơn về thông tin thì mới có thể tư vấn được. Bạn vui lòng kết bạn qua số zalo: 0819700748 để trao đổi. Trân trọng./.

  2. em đang đi tren đường , bị nguoi ta đạp ngã xe, sau đó dùng đùi gỗ và sắt đập tới tấp vào người kết quả giám định thương tật 23%, nhưng bên phía công an bảo vụ việc kết thúc điều tra sau 3 tháng nũa, mặc dù mọi việc đã thu thập rõ chứng cứ điều tra, vậy cho em hỏi như vậy bên phía công an có phải bao che tội phạm không, và e cân phải làm gì

    1. Chào bạn, nội dung câu hỏi của bạn đã được chúng tôi phản hồi qua email. Bạn vui lòng xem mail để biết chi tiết.

  Hotline: 1900.63.63.87