Trách nhiệm pháp lý khi tiền từ thiện kêu gọi quyên góp không sử dụng đúng mục đích

0
13 Tháng Mười, 2021

Trong thời gian gần đây, mạng xã hội lan truyền rất nhiều thông tin về trường hợp một số nghệ sĩ đứng ra kêu gọi người dân ủng hộ chương trình từ thiện do chính mình tổ chức, nhưng sau đó không sử dụng hết số tiền nhận được vào mục đích ban đầu. Như vậy, việc sử dụng tiền từ thiện không đúng với mục đích từ thiện thì hành vi này có vi phạm pháp luật hay không? Và trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm như thế nào? Bài viết sau đây, Công ty Luật Long Phan PMT sẽ phân tích những quy định pháp luật hiện hành để giải đáp những thắc mắc này.

Trách nhiệm pháp lý khi tiền từ thiện kêu gọi quyên góp không sử dụng đúng mục đích

>> Xem thêm: Người nhận tiền quyên góp từ thiện có nghĩa vụ phải công khai sao kê tài sản không?

Quyền kêu gọi quyên góp từ thiện

Theo Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP quy định không phải ai cũng được quyền kêu gọi quyên góp từ thiện mà chỉ bao gồm các tổ chức, đơn vị sau đây được tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ:

  • Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; cơ quan thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ các cấp ở địa phương.
  • Các quỹ xã hội, quỹ từ thiện quy định tại Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
  • Các tổ chức, đơn vị ở Trung ương được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phép; các tổ chức, đơn vị ở địa phương được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện cho phép.

Ngoài các tổ chức, đơn vị nêu trên, không một tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ.

  • Đối với các cơ quan, tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ của tập thể, cá nhân thuộc đơn vị mình đóng góp để cứu trợ đồng bào, các địa phương bị thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 64/2008/NĐ-CP

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 không chỉ các tổ chức, đơn vị được quy định tại Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP mới được tiếp nhận và phân phối tiền hàng cứu trợ, mà cá nhân, pháp nhân cũng có thể thực hiện việc này, cụ thể như sau:

Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

Về giao kết hợp đồng ủy quyền Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Như vậy, theo Bộ luật Dân sự 2015 pháp luật cho phép cá nhân, tổ chức có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện công việc nhất định nếu pháp luật không cấm, không trái với đạo đức xã hội.

Đối với hoạt động kêu gọi quyên góp từ thiện, đây là hoạt động không trái với điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó các cá nhân, pháp nhân có thể tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa bên kêu gọi quyên góp và bên quyên góp tiền từ thiện.

Hiện nay, Nghị định 64/2008/NĐ-CP và Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có sự thống nhất với nhau về đối tượng được quyền kêu gọi quyên góp từ thiện. Theo khoản 2, Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định “Trong thường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Do đó, vì Bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định nên trong trường hợp này áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Hơn nữa, nghị định 64/2008/NĐ-CP đã được ban hành cách đây 12 năm, cho nên việc Nghị định chưa thể dự trù hết tất cả các tình huống có thể xảy ra trong tương lai để đưa ra được hướng xử lý phù hợp từng thời điểm. Bộ luật Dân sự 2015 đã có quy định rõ về vấn đề này, thì chúng ta nên áp dụng Bộ luật Dân sự để thực hiện là phù hợp với thời điểm hiện tại và phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tổ chức có đủ tư cách pháp nhân hoàn toàn có thể nhận ủy quyền từ người quyên góp từ thiện để tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ.

>>>Xem thêm:
Thẻ Xanh Covid-19 Tấm Vé Pháp Lý Lưu Hành Sau Ngày 1/10/2021 Cho Người Dân TPHCM

Bản chất pháp lý trong giao dịch giữa người kêu gọi và người quyên góp từ thiện

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.”

Và Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

Đồng thời, tại Điều 3 và Điều 562 Bộ luật dân sự 2015 như đã phân tích ở trên, mối quan hệ giữa người kêu gọi và người quyên góp từ thiện là quan hệ đại diện theo ủy quyền.

Cụ thể, trong hoạt động vận động kêu gọi quyên góp tiền từ thiện, bản chất pháp lý của người quyên góp là bên ủy quyền và người kêu gọi quyên góp tiền từ thiện là bên được ủy quyền để thực hiện công việc đưa tiền, hàng trao đến người đang cần cứu trợ.

Bản chất pháp lý trong giao dịch giữa người kêu gọi và người quyên góp từ thiện

>>>Xem thêm: Thủ tục tố giác hình sự khi bị lừa đảo chiếm đoạt tiền

Nghĩa vụ công khai, minh bạch tiền từ thiện

Theo Điều 565 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của bên được uỷ quyền (bên kêu gọi quyên góp từ thiện) như sau:

  • Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;
  • Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;
  • Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;
  • Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;
  • Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;
  • Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều này.

Và theo Khoản 1 Điều 568 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên ủy quyền (bên quyên góp từ thiện) có quyền yêu cầu bên được uỷ quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc uỷ quyền.

Theo đó, bên kêu gọi quyên góp tiền từ thiện (bên được ủy quyền) có trách nhiệm phải công khai minh bạch số tiền từ thiện cho người quyên góp (bên ủy quyền) khi thực hiện công việc phân phối tiền, hàng trao đến người có hoàn cảnh khó khăn.

Trách nhiệm pháp lý khi tiền từ thiện không được dùng để làm từ thiện

Trách nhiệm dân sự

Bản chất giao dịch giữa người kêu gọi quyên góp và người quyên góp từ thiện là giao kết hợp đồng ủy quyền theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, bên kêu gọi quyên góp (bên được ủy quyền) có nghĩa vụ sử dụng khoản tiền, hàng của người quyên góp từ thiện (bên ủy quyền) trao đến tay người cần cứu trợ.

Theo Khoản 2 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Trường hợp nếu người kêu gọi quyên góp có hành vi sử dụng tiền từ thiện không đúng mục đích dẫn đến không thực hiện đúng ý nguyện của người quyên góp từ thiện thì hành vi này là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng ủy quyền.

Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên kêu gọi từ thiện vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng thì bên quyên góp từ thiện (bên ủy quyền) có quyền hủy bỏ hợp đồng ủy quyền và không phải bồi thường thiệt hại.

Đối với hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng, theo Khoản 2 Điều 427 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản”.

Vì vậy, nếu tiền từ thiện không được sử dụng đúng mục đích thì bên quyên góp tiền có quyền yêu cầu bên kêu gọi quyên góp từ thiện hoàn trả lại tất cả những khoản tiền đã gửi và yêu cầu kèm theo lãi suất hoặc yêu cầu người kêu gọi quyên góp tiền từ thiện chuyển số tiền họ đã quyên góp kèm theo lãi suất cho cơ quan chức năng để làm từ thiện.

>>>Xem thêm:
Hợp Đồng Ký Với Chi Nhánh Của Công Ty Có Hiệu Lực Pháp Luật Không

Trách nhiệm hành chính

Xử phạt đối với hành vi sử dụng tiền cứu trợ sai mục đích quy định tại Nghị định 144/2013/NĐ-CP. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 8 Nghị định 144/2013/NĐ-CP người kêu gọi quyên góp từ thiện sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  • Để hư hỏng, thất thoát tiền, hàng cứu trợ;
  • Sử dụng, phân phối tiền, hàng cứu trợ không đúng mục đích, không đúng đối tượng của nhà tài trợ;
  • Chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ.

Ngoài ra buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm là chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ.

Trường hợp chiếm đoạt tiền của người khác quyên góp từ thiện để sử dụng vào mục đích cá nhân không thuộc hai trường hợp cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnTội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được trình bày ở dưới, thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng tới 2.000.000 đồng.

Trách nhiệm hình sự

Trường hợp mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu sài cá nhân xuất hiện trước khi người đó nhận được tiền quyên góp từ thiện với số tiền từ 2.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng theo quy định khác thì hành vi này có dấu hiệu cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Người nhận tiền quyên góp từ thiện sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến tù chung thân tùy theo mức độ lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu sài cá nhân xuất hiện sau khi người đó nhận được tiền quyên góp từ thiện với số tiền từ 4.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 theo quy định khác thì hành vi này có dấu hiệu cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm tùy theo mức độ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trách nhiệm pháp lý khi tiền từ thiện không được sử dụng đúng mục đích

* Thông tin báo chí: Bộ công an đang yêu cầu chính quyền các tỉnh Miền Trung cung cấp chứng cứ về quá trình làm từ thiện của một số nghệ sĩ

Theo các trang báo Lao động, Thanh niên, Công an TP.HCM, vừa qua Bộ Công an nhận được tin báo tố giác tội phạm và tin báo liên quan đến một số cá nhân nghệ sĩ trong hoạt động gây quỹ quyên góp từ thiện trong thời gian bão lũ miền Trung năm 2020.

Bộ Công an đã chỉ đạo Cục Cảnh sát hình sự thụ lý, kiểm tra, xác minh các nguồn tin. Hiện nay Cục Cảnh sát hình sự đang phối hợp với các ngân hàng để rà soát, xác định tài khoản đã huy động từ thiện để làm rõ việc tiếp nhận, quyên góp, quá trình giải ngân.

Cục Cảnh sát hình sự phối hợp UBND và MTTQ Việt Nam các cấp ở 7 tỉnh miền trung Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi để xác minh số tiền mà cá nhân tiến hành cứu trợ tại các địa phương.

Cơ quan công an đã mời một số cá nhân, tổ chức đề nghị cung cấp thông tin có liên quan để sớm có kết luận chính xác về vấn đề này. Cục Cảnh sát hình sự đã chỉ đạo lực lượng cảnh sát hình sự một số địa phương rà soát, nắm tình hình hoạt động từ thiện diễn ra ở một số địa bàn để nắm thông tin một số cá nhân, tổ chức lợi dụng các hoạt động từ thiện để trục lợi, chiếm đoạt tài sản. Để biết thêm chi tiết, vui lòng xem các link đính kèm:

Thông tin liên hệ Công ty Luật Long Phan PMT

Các bạn hãy lưu thông tin và liên hệ với chúng tôi khi cần hỗ trợ vấn đề pháp luật.

Hãy liên lệ với chúng tôi – Công ty Luật Long Phan PMT

Nơi cung cấp dịch vụ pháp lý một cách “Tận tâm – Uy tín – Hiệu quả

  • Hotline: 1900 63 63 87
  • Website: luatlongphan.vn
  • Email: pmt@luatlongphan.vn
  • Zalo: 0819 700 748

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về Trách nhiệm pháp lý khi tiền từ thiện kêu gọi quyên góp không sử dụng đúng mục đích? Nếu quý đọc giả còn thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này hoặc có nhu cầu cần TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ hỗ trợ hoặc cần tìm LUẬT SƯ DÂN SỰ, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE: 1900.63.63.87. Luật sư của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Xin cảm ơn!

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.

Scores: 4.9 (35 votes)

: Luật Long Phan PMT

Công Ty Long Phan PMT hướng đến trở thành một CÔNG TY LUẬT uy tín hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực TƯ VẤN PHÁP LUẬT, cung cấp DỊCH VỤ LUẬT SƯ pháp lý. Luật Long Phan PMT hoạt động với phương châm ☞ "lấy chữ tín lên hàng đầu", "xem khách hàng như người thân", làm việc nhanh chóng, hiệu quả. Điều hành bởi Thạc sĩ – Luật sư Phan Mạnh Thăng nỗ lực không ngừng để trở thành một địa chỉ đáng tin cậy của mọi cá nhân, tổ chức.

Trả lời

Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai.
Chúng tôi sẽ phản hồi giải đáp thông tin bình luận của bạn trên website, email, điện thoại, chậm nhất sau 24h tiếp nhận. Chân thành cảm ơn!

  Hotline: 1900.63.63.87