Người nhận tiền quyên góp từ thiện có nghĩa vụ phải công khai sao kê tài khoản không?

0
10 Tháng Chín, 2021

Hiện nay một số các nghệ sĩ Việt vì những lý do khác nhau mà chưa hoặc không công khai sao kê tài khoản sau khi kêu gọi quyên góp từ thiện kết thúc. Điều này khiến cho công chúng hoài nghi về sự minh bạch trong hoạt động quyên góp từ thiện của nhiều nghệ sĩ. Vậy theo quy định pháp luật Việt Nam nghĩa vụ phải công khai sao kê tài khoản được quy định như thế nào? Người nghệ sĩ có được giữ lại tiền từ thiện sau khi kết thúc chương trình từ thiện không? Bài viết dưới đây sẽ áp dụng những quy định pháp lý để làm rõ những vấn đề này.

Tư vấn nghĩa vụ sao kê tài khoản ngân hàng làm từ thiện

Ai được quyền kêu gọi quyên góp từ thiện?

Theo Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP quy định không phải ai cũng được quyền kêu gọi quyên góp từ thiện mà chỉ bao gồm các tổ chức, đơn vị sau đây được tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ:

  • Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam; cơ quan thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ các cấp ở địa phương.
  • Các quỹ xã hội, quỹ từ thiện quy định tại Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
  • Các tổ chức, đơn vị ở Trung ương được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phép; các tổ chức, đơn vị ở địa phương được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện cho phép.

Ngoài các tổ chức, đơn vị nêu trên, không một tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ.

  • Đối với các cơ quan, tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ của tập thể, cá nhân thuộc đơn vị mình đóng góp để cứu trợ đồng bào, các địa phương bị thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 64/2008/NĐ-CP

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 không chỉ các tổ chức, đơn vị được quy định tại Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP mới được tiếp nhận và phân phối tiền hàng cứu trợ, mà cá nhân cũng có thể thực hiện việc này, cụ thể như sau:

Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

Về giao kết hợp đồng ủy quyền Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Như vậy, theo Bộ luật Dân sự 2015 pháp luật cho phép cá nhân, tổ chức có thể ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện công việc nhất định nếu pháp luật không cấm. Đối với hoạt động quyên góp từ thiện, đây là hoạt động không trái với điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên cá nhân có thể tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các bên.

Hiện nay, Nghị định 64/2008/NĐ-CP và Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có sự thống nhất với nhau về đối tượng được quyền kêu gọi quyên góp từ thiện. Theo khoản 2, Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định “Trong thường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Do đó, vì Bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định nên trong trường hợp này áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Hơn nữa, nghị định 64/2008/NĐ-CP đã được ban hành cách đây 12 năm, cho nên việc Nghị định chưa thể dự trù hết tất cả các tình huống có thể xảy ra trong tương lai để đưa ra được hướng xử lý phù hợp từng thời điểm. Bộ luật Dân sự 2015 đã có quy định rõ về vấn đề này, thì chúng ta nên áp dụng Bộ luật Dân sự để thực hiện là phù hợp với thời điểm hiện tại và phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tổ chức có đủ tư cách pháp nhân hoàn toàn có thể nhận ủy quyền, nhận tiền để làm từ thiện.

Đối tượng được kêu gọi quyên góp từ thiện

Quan hệ giữa người ủng hộ và người quyên góp làm từ thiện về bản chất pháp lý là gì?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.”

Đồng thời, tại Điều 3 và Điều 562 Bộ luật dân sự 2015 như đã phân tích ở trên, quan hệ quyên góp, ủng hộ từ thiện giữa người ủng hộ và người quyên góp làm từ thiện là quan hệ đại diện theo ủy quyền. Cụ thể, người ủng hộ bản chất pháp lý là bên ủy quyền và người quyên góp làm từ thiện là bên được ủy quyền để thực hiện công việc đưa tiền, quà của người ủng hộ đến người đang cần cứu trợ.

Quyền và Nghĩa vụ của hai bên ra sao?

Quyền và nghĩa vụ của bên được ủy quyền (người quyên góp làm từ thiện)

Theo Điều 565 Bộ luật dân sự 2015 quy định Nghĩa vụ của bên được uỷ quyền như sau:

  • Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;
  • Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;
  • Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;
  • Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;
  • Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;
  • Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều này.

Theo Điều 566 Bộ luật dân sự 2015 quy định Quyền của bên được uỷ quyền như sau:

  • Yêu cầu bên uỷ quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc uỷ quyền;
  • Được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc uỷ quyền; hưởng thù lao, nếu có thỏa thuận.

Quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền (người ủng hộ)

Theo Điều 567 Bộ luật dân sự 2015 quy định Nghĩa vụ của bên uỷ quyền như sau:

  • Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được uỷ quyền thực hiện công việc;
  • Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được uỷ quyền thực hiện trong phạm vi uỷ quyền;
  • Thanh toán chi phí hợp lý mà bên được uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được uỷ quyền; trả thù lao cho bên được uỷ quyền, nếu có thoả thuận về việc trả thù lao.

Theo Điều 568 Bộ luật dân sự 2015 quy định Quyền của bên uỷ quyền như sau:

  • Yêu cầu bên được uỷ quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc uỷ quyền;
  • Yêu cầu bên được uỷ quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc uỷ quyền, trừ trường hợp có thoả thuận khác;
  • Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 565 của Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, theo quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên đối với quan hệ đại diện theo ủy quyền trong hoạt động từ thiện có thể giải đáp được câu hỏi trọng tâm của bài viết này về người nhận tiền quyên góp từ thiện có nghĩa vụ công khai sao kê hay không?

Có thể thấy rõ, bên được ủy quyền (người quyên góp làm từ thiện) được quyền giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền, bao gồm cả việc sử dụng số tiền từ thiện như thế nào đối với những người không liên quan theo quy định tại Khoản 4 điều 565 Bộ luật Dân sự 2015 nêu trên. Cụ thể, những người không phải là người ủy quyền (người không ủng hộ tiền tự thiện) không có quyền yêu cầu bên được ủy quyền (bên quyên góp làm từ thiện) công khai sao kê tiền từ thiện. Bên được ủy quyền (người quyên góp làm từ thiện) chỉ có nghĩa vụ công khai nếu bên ủy quyền (người ủng hộ) yêu cầu và ngược lại, chỉ người ủng hộ mới có quyền yêu cầu người quyên góp làm từ thiện báo cáo về công việc đó.

Có được phép chỉ trích người kêu gọi quyên góp trên mạng xã hội?

Theo Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định, bất cứ ai cũng có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của mình, bao gồm cả việc chỉ trích, phê phán những việc làm sai trái. Tuy nhiên, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, việc chỉ trích người khác trên mạng xã hội cần phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền nhân thân, danh dự, uy tín, nhân phẩm, không đưa những thông tin sai sự thật mang tính chất vu khống, bôi nhọ, làm nhục người khác theo Khoản 1, Điều 21 Hiến pháp 2013.

Vì vậy, tự do ngôn luận không đồng nghĩa với việc được phép chỉ trích người khác thích bất cứ điều gì mà tự do ngôn luận phải trong khuôn khổ, giới hạn không làm ảnh hưởng đến các quyền và giá trị khác cũng được Hiến pháp bảo vệ. Các giới hạn này được thể hiện ở các hành vi bị nghiêm cấm trong Nghị định 167/2013/NĐ-CP, Nghị định 15/2020/NĐ-CP, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và Bộ luật Dân sự 2015.

Tùy vào mức độ chỉ trích ảnh hưởng đến quyền nhân thân, danh dự, uy tín, nhân phẩm mà người vi phạm sẽ bị phạt hành chính ở những mức tiền khác nhau như sau:

  • Theo điểm a, khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP nếu có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
  • Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyên điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, các hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng.
  • Theo Khoản 2, Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP trường hợp tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Người vi phạm còn phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm.

Thậm chí việc chỉ trích người khác trên mạng xã hội mang tính xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác trên mạng xã hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm với tình tiết định khung là “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống theo Điều 156 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tình tiết định khung “bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.”

Ngoài ra, người có hành vi vi phạm còn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị xúc phạm, ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm nếu có thiệt hại xảy ra theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Mức thiệt hại được quy định chi tiết tại Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015.

Vừa qua, ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định số 874/QĐBTTTT ban hành “Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội”. Bộ Quy tắc này được ban hành nhằm múc đích xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh tại Việt Nam.

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 8 Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đã được Công văn 2177/BTTTT-PC đính chính lại hiệu lực pháp lý của Bộ Quy tắc chỉ mang tính khuyến nghị. Mặc dù vậy, khi xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật, các tổ chức, cá nhân sai phạm sẽ bị xử lý theo các quy định của pháp luật.

Có được chỉ trích người kêu gọi từ thiện

Nghệ sĩ có được giữ lại tiền từ thiện đã nhận quyên góp sau khi kết thúc chương trình từ thiện?

Theo Khoản 3 Điều 7 nghị định 64/2008/NĐ-CP ngày 14/5/2008 quy định “Thời gian phân phối tiền, hàng cứu trợ được thực hiện ngay trong quá trình vận động đóng góp và kết thúc chậm nhất không quá 20 ngày, kể từ ngày kết thúc thời gian vận động đóng góp”. Cụ thể, việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, quy định thời gian phân phối tiền hàng cứu trợ không quá 20 ngày.

Bên cạnh đó, Điều 21 Nghị định này quy định về việc khen thường và xử lý vi phạm như sau:

  • Khen thưởng: tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước có thành tích trong việc vận động đóng góp; ủng hộ, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn cứu trợ hỗ trợ nhân dân trong và ngoài nước và các địa phương bị thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng gây ra, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo được khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng.
  • Xử lý vi phạm: các tổ chức, cá nhân huy động, quản lý và phân phối sử dụng tiền, hàng cứu trợ trái với quy định tại Nghị định 64/2008/NĐ-CP thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Theo đó, nếu các tổ chức, cá nhân huy động, quản lý và phân phối sử dụng tiền, hàng cứu trợ trái với quy định tại Nghị định 64/2008/NĐ-CP thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo Khoản 1, Điều 1 Nghị định 64/2008/NĐ-CP chỉ điều chỉnh việc tổ chức, vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp của các cá nhân trong và ngoài nước trong các quỹ được nhà nước quy định. Còn cá nhân ủy quyền gửi tiền, hàng cho người khác đi làm từ thiện cứu trợ thì không thể áp dụng. Do đó, việc nghệ sĩ được giữ lại tiền từ thiện đã nhận vượt quá 20 ngày kể từ ngày kết thúc thời gian vận động đóng góp chưa đủ cơ sở để khẳng định nghệ sĩ vi phạm thời gian phân phối tiền, hàng cứu trợ.

Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh thời gian vận động đóng góp, tiếp nhận và phân phối tiền, hàng cứu trợ đối với cá nhân. Do đó, khó có thể xác định rõ ràng người quyên góp làm từ thiện có được giữ lại tiền từ thiện đã nhận quyên góp sau khi kết thúc chương trình từ thiện hay không.

Nhưng khi xét đến Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ của người được ủy quyền (người quyên góp làm từ thiện) đã được phân tích ở trên, nếu người quyên góp tiền từ thiện chưa chuyển tiền cho người cần được cứu trợ trong một thời gian dài và cũng không thông báo trên phương tiện truyền thông cho mọi người biết thì đã không thực hiện đúng ý nguyện của những người ủng hộ từ thiện và vi phạm thỏa thuận với họ. Việc kéo dài thời gian làm từ thiện đã khiến cho mức độ hoàn cảnh cần được cứu trợ thay đổi thay đổi từ khẩn cấp sang bình ổn sẽ khiến cho ý nghĩa và mục tiêu ban đầu của các bên tham gia hoạt động từ thiện thay đổi.

Trong trường hợp nghệ sĩ giữ lại tiền từ thiện đã nhận quyên góp sau khi kết thúc chương trình từ thiện mà có dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thể bị xử về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điều 174 Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015, hoặc “lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản” theo điều 175 Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015, là các tội danh có khung hình phạt rất cao, tối đa là tù chung thân hoặc 20 năm.

Quan điểm của Luật sư Long Phan PMT về việc sao kê tài khoản ngân hàng làm từ thiện

Mặc dù việc sao kê tài khoản ngân hàng làm từ thiện không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với nghệ sĩ nếu người ủng hộ không yêu cầu. Tuy nhiên, các nghệ sĩ nhận được tiền từ các mạnh thường quân nên công khai, minh bạch số tiền đã nhận. Việc đó sẽ gửi một thông điệp rất tích cực đến ba nhóm người: mạnh thường quân, người hâm mộ và người thụ hưởng. Còn với trách nhiệm minh bạch giải trình thì sao kê không phải là tất cả. Nghệ sĩ sẽ phải làm rất nhiều việc hơn là tung lên mạng tờ sao kê. Ít nhất là quy ước thu chi (từ trước khi quyên góp), sao kê nguồn tiền vào, thống kê nguồn tiền ra… Bởi hai lý do sau:

  • Thứ nhất, việc làm này sẽ đảm bảo rằng nghệ sĩ sử dụng đồng tiền từ thiện đúng mục đích;
  • Thứ hai, về việc sao kê tài khoản ngân hàng làm từ thiện cũng đồng thời giúp đảm bảo uy tín cho nghệ sĩ Việt và làm tròn nguyện vọng của mạnh thường quân đã gửi gắm cho họ.

Trong thời gian sắp tới hi vọng Nhà nước sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này. Còn hiện nay tất cả đều trao cho nhau trên cơ sở niềm tin và sự gửi gắm. Trừ khi người nhận biến mất, hoặc dùng số tiền đã vận động và không có thực hiện sứ mệnh được tin tưởng thì có thể bị khởi tố hình sự về tội chiếm đoạt tài sản.

Quan điểm của Luật sư Long Phan PMT

Thông tin liên hệ Công ty Luật Long Phan PMT

Các bạn hãy lưu thông tin và liên hệ với chúng tôi khi cần hỗ trợ vấn đề pháp luật.

Hãy liên lệ với chúng tôi – Công ty Luật Long Phan PMT

Nơi cung cấp dịch vụ pháp lý một cách “Tận tâm- Uy tín- Hiệu quả

  • Hotline: 1900 63 63 87
  • Website: luatlongphan.vn
  • Email: pmt@luatlongphan.vn
  • Zalo: 0819 70 748

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về Người nhận tiền quyên góp từ thiện có nghĩa vụ phải công khai sao kê tài sản hay không? Nếu quý đọc giả còn thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này hoặc có nhu cầu cần TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ hỗ trợ hoặc cần tìm LUẬT SƯ DÂN SỰ, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE: 1900.63.63.87. Luật sư của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Xin cảm ơn!

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.

Scores: 4.7 (70 votes)

: Luật Long Phan PMT

Công Ty Long Phan PMT hướng đến trở thành một CÔNG TY LUẬT uy tín hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực TƯ VẤN PHÁP LUẬT, cung cấp DỊCH VỤ LUẬT SƯ pháp lý. Luật Long Phan PMT hoạt động với phương châm ☞ "lấy chữ tín lên hàng đầu", "xem khách hàng như người thân", làm việc nhanh chóng, hiệu quả. Điều hành bởi Thạc sĩ – Luật sư Phan Mạnh Thăng nỗ lực không ngừng để trở thành một địa chỉ đáng tin cậy của mọi cá nhân, tổ chức.

Trả lời

Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai.
Chúng tôi sẽ phản hồi giải đáp thông tin bình luận của bạn trên website, email, điện thoại, chậm nhất sau 24h tiếp nhận. Chân thành cảm ơn!

  Hotline: 1900.63.63.87